Hồ Ngọc Đại (1936 – )


GS. HỒ NGỌC ĐẠI(sinh 1936)

– Ông sinh ngày 3-4-1936 tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
– Hồi trẻ ông học nghề sư phạm tại Nam Ninh, Trung Quốc.
– Năm 1968, ông sang Nga học ngành Tâm lý học và năm 1976 hoàn thành luận văn Tiến sĩ về Những vấn đề tâm lý trong giảng dạy Toán học hiện đại cho học sinh cấp 1.
– Năm 1978, ông thành lập và là giám đốc Trung tâm Công nghệ Giáo dục (CGĐ) để tiến hành thực nghiệm công nghệ giáo dục, công nghệ phát triển con người (cả về lý thuyết lẫn thực tiễn).
– Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại là một nhà khoa học giáo dục, một nhà tổ chức thực tiễn hoạt động giáo dục, một nhà giáo tràn đầy nhiệt huyết, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, trước hết là giáo dục tuổi thơ và một nền công nghệ hóa giáo dục; một người “chịu thua tất cả chỉ để được công nghệ giáo dục”. Tấm lòng của người thầy và trí tuệ của nhà khoa học được thể hiện trong từng bài viết. (NXB Lao Động).

Quan điểm sáng tác

– Những bài viết của Hồ Ngọc Đại cho ta thấy cả chiều sâu và bề rộng của trí tuệ và tâm hồn một người cầm bút.

Chiều sâu: Cả đời Hồ Ngọc Đại nhất quán một nỗi băn khoăn Giáo Dục. Cần có một nền Giáo dục mới. Một nền Giáo dục buộc phải mới tận nguyên lý của nó. Một nền Giáo dục tất yếu phải trở thành sự Cứu Nguy cho dân tộc, nơi trẻ em là những Anh hùng Thời đại. Và một nền Giáo Dục không bị thần bí hóa bằng lời hô hào “sáng tạo” suông. Mà là một nền Giáo dục công ghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà khoa học tạo ra bằng thực nghiệm, như một Hồ Ngọc Đại cùng các cộng sự đã làm ra, kể từ năm học 1978-1979.
Bề rộng: Bạn đọc sẽ thấy cả một gam rộng lớn những điều Hồ Ngọc Đại quan tâm. Không phải sự quan tâm tiện đâu nói đấy, cái gì cũng can dự. Mà đây là một con mắt sắc sảo dõi theo những băn khoăn của người đời để rồi chủ động dùng trí tuệ và tấm lòng của mình cùng giọng văn dễ đọc mà tìm cách thuyết phục sao cho mọi người cùng sáng lòng và đều có thể sống hạnh phúc. Vì thế mà, chẳng hạn như trước nỗi buồn Liên Xô tan rã, Hồ Ngọc Đại có bài viết về vấn đề đó. Rồi anh cũng có những kiến giải về “Tự do”, về “Dân chủ”, về “Hôn nhân”, về “Gia đình”, về… nhiều mặt chộn rộn chuyện đương thời.


Các sách chuyên đề đã xuất bản


Những vấn đề tâm lý học trong việc giảng dạy Toán học hiện đại ở các lớp cấp I (Luận án tiến sĩ tâm lý học, tiếng Nga, Matxcơva, 1976)
Bài học là gì? (1985)
Giải pháp giáo dục, NXB Giáo dục, 1991
Đổi mới giáo dục, Trung tâm Công nghệ Giáo dục, 1995
Tâm lý học dạy học, NXB Đại học Quốc gia, 2000
Hồ Ngọc Đại Bài báo, NXB Lao Động, 2000
Cái và cách, NXB Đại học sư phạm, 2003
Chuyện ấy, NXB Lao Động, 2009

Phỏng vấn, viết về tác giả

Hồ Ngọc Đại – người hiểu trẻ em và cảm nhận trẻ em (Tuần Việt Nam)
Trong tất cả các nhà giáo dục Việt Nam đương thời, những người đang tìm tòi tiến hành một cuộc cải cách giáo dục thực sự, chỉ có một người đủ sức LÀM được những điều thể hiện sức HIỂU và sức CẢM NHẬN trẻ em, đó là Hồ Ngọc Đại.
Hồ Ngọc Đại đưa ra được một CÁCH LÀM GIÁO DỤC MỚI để ngay cả người ít chuyên nghiệp nhất cũng thấy rõ thế nào là một cuộc cải cách giáo dục đích thực.

Ánh lửa của trí tuệ (GS Tương Lai)

Đổi mới giáo dục (1995)
Thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường tất nhiên phải thừa nhận sức lao động là hàng hóa. Đó là sự đổi mới cơ bản nhất, triệt để nhất, sẽ kéo theo mọi sự đổi mới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống hiện đại.
Sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, của mọi tiến bộ xã hội, rút cục, được quyết định bởi sức lao động của từng người dân.
Ngày nay, một mình giáo dục và chỉ có giáo dục mới có nghiệp vụ tạo ra sức lao động mới và không ngừng nâng cao trình độ sức lao động đang có.
Đã đến lúc giáo dục nói lời quyết định…

Suy nghĩ về tính khí độc đáo của một nhà khoa học (Trường Giang, báo Sức khỏe Đời sống, 2004)

Khi nước ta bước vào nền kinh tế thị trường, lập tức không ít người đòi xét lại hoàn toàn chủ nghĩa Mác, xét lại tất cả luận điểm kinh tế xã hội của Mác, đặt ra một loạt vấn đề trong lý luận kinh điển… thì Hồ Ngọc Đại vẫn miệt mài đào sâu để hiểu đúng hơn, đủ hơn về những gì Mác đã đúc kết. Ví như anh đã từng nhắc đi nhắc lại nhiều lần một ý quan trọng của Mác: “Các hình thái xã hội khác nhau không phải ở chỗ chúng làm ra cái gì mà ở chỗ chúng làm theo cách nào”. Từ đó anh vận dụng vào việc phân tích công tác giáo dục hiện nay: “Nước ta đã trải qua bao biến cố quan trọng do sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật; vì vậy công tác giáo dục không thể làm tiếp như lâu nay, phải làm khác.”. Tất nhiên anh cũng có nghĩ đến những điều không còn thích hợp trong lý luận kinh điển nhưng rất thận trọng. Rõ ràng đây là một thái độ khiêm tốn, có tính cách mạng…

Hiện tượng Hồ Ngọc Đại trong giáo dục (Trường Giang, báo Sức khỏe Đời sống, 2004)

Từ chối làm thứ trưởng, xin dạy lớp 1
Anh là con rể của Tổng bí thư Lê Duẩn và có một lý lịch gia đình hết sức đẹp đẽ. Anh được Trung ương dự kiến giao cho nhiệm vụ lãnh đạo cấp Bộ nhưng anh kiên quyết từ chối mà thiết tha xin đi dạy lớp 1. Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngạc nhiên hỏi:
– Anh Đại nói nghiêm túc đó sao!
– Vâng – Anh trả lời không do dự – thưa Thủ tướng, rất nghiêm túc. Một nền giáo như hiện nay của ta cần giỡ ra làm lại từ đầu. Tôi xin góp tay cải tạo từ nền móng.

Tôi vui mừng về sự đổi mới của ngành theo hướng đó. Còn ghi nhận sự đóng góp của tôi, của công nghệ giáo dục hay không, tôi không quan tâm lắm. Những nhà khoa học chân chính chỉ mong cho thực tế tiến triển chứ không phải mong cho công danh địa vị của mình thăng hoa.

Bàn về giáo dục Việt Nam

Biến con người thành vật thí nghiệm (Khoa học & Đời sống)
Văn hóa tính dục
Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm
Giải pháp phát triển giáo dục: Từ góc nhìn nghiệp vụ sư phạm
Hệ thống giáo dục quốc dân
Dám hỗn *)
Càng cải cách… càng tệ hại
Hoàn toàn mới: Thực nghiệm giáo dục
Cần sự nổi dậy của tư duy giáo dục
Phải thay cách làm giáo dục
Chương trình cải cách giáo dục cần những cuộc thi?
Bình thường hoá đời sống nhà trường

Ngẫm chuyện đất nước
Tiêu cực
Ăn gian
Giáo sư Hồ Ngọc Đại: Nhân loại hạnh phúc vì có nhà văn
Sức lao động hiện đại
Triết học và lịch sử
Trách nhiệm
Tồn tại và phát triển
Làm khoa học
Cơn khát bằng cấp, học hàm, học vịChuyện cô hàng xóm của tôi
Mặt bằng xây dựng…và người hưởng thụ


Nguyên Ngọc (1932 – )

Nguyên Ngọc(sinh 1932)

Nguyên Ngọc (5 tháng 9, 1932 – ) tên thật là Nguyễn Văn Báu, bút danh khác là Nguyễn Trung Thành. Ông là nhà văn, nhà văn hóa -giáo dục Việt Nam, phóng viên chiến trường, tổng biên tập báo và dịch giả.

– Năm 1932: ông sinh tại Đà Nẵng. Quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

– Năm 1950: nhập ngũ, chủ yếu hoạt động ở Tây Nguyên – chiến trường chính của Liên khu V bấy giờ.

– Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông làm phóng viên báo Quân đội nhân dân liên khu V và lấy bút danh Nguyên Ngọc.

– 1954-1955: tập kết ra Bắc, viết tiểu thuyết Đất nước đứng lên, kể về cuộc kháng chiến chống Pháp của người Ba Na, tiêu biểu là anh hùng Núp và dân làng Kông-Hoa, dựa trên câu chuyện có thật của Đinh Núp. Ông được trao giải thưởng Văn nghệ Việt Nam Sau này cuốn truyện được dựng thành phim.

– 1962: trở lại miền Nam, lấy tên là Nguyễn Trung Thành, hoạt động ở khu V, là chủ tịch chi hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ quân giải phóng của quân khu V.

– 1965: Đạt Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu với Rừng xà nu. Giải thưởng Hoa Sen của Hội Nhà văn Á Phi.

– Trong cả hai cuộc kháng chiến, ông gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên, là đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là bạn và dành nhiều tình cảm trân trọng đối với Nguyễn Thi, Nguyễn Khải.

1976-1980: Là Đại biểu Quốc hội khóa IV.

– 1987: Làm Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ.

– 1988: Trưởng ban sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam.

– Trong thời kỳ Đổi Mới và phong trào Cởi Mở ông đã có những đổi mới quan trọng về nội dung tư tưởng của tờ báo và được coi là người có công phát hiện, nâng đỡ nhiều nhà văn tên tuổi sau này như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Thị Hoài…

1995: Về hưu, tiếp tục tham gia nhiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và chấn hưng giáo dục Việt Nam. Ông vận động thành lập trường đại học Phan Châu Trinh, đồng thời dịch một số tác phẩm lý luận văn học như Độ không của lối viết (Rolland Barthes), Nghệ thuật tiểu thuyết (Milan Kundera), tác phẩm của Jean-Paul Satre, Jacques Dournes…

Đôi dòng tự bạch của tác giả

– Tôi sống và làm theo những điều mình tin, và chịu trách nhiệm về tất cả điều đó, không thối lui, không nhân nhượng.

Đúng sai là điều khó tránh ở đời, nhưng tôi luôn coi trọng sự nhất quán trong thái độ sống: bao giờ cũng sống như một người tự do, trước hết với chính mình.

Giờ đây, ở tuổi 70, tôi đang cố gắng làm cho tốt bước khởi đầu của ngôi trường mà chúng tôi đang đeo đuổi, tạo cho được bước khởi đầu tốt, để những anh chị em trẻ hơn, giỏi hơn sẽ tiếp tục sau này. Về phần riêng, tôi tranh thủ viết một cái gì đó về những gì đã từng nếm trải. Thỉnh thoảng tôi cũng viết về những bức xúc xã hội mà mình không thể làm thinh, và dịch đôi cái thích thú, cần thiết, bởi vì không có cách nào để đọc một cuốn sách thật kỹ, thật sâu bằng cách cặm cụi dịch nó ra. Các công việc tôi làm đều bổ sung cho nhau, là một thứ thể dục đầu óc, làm chậm bớt sự già cỗi đáng sợ về trí tuệ.

– Tôi có một niềm tin có thể khá ngây thơ và ảo tưởng chăng: một xã hội có thật nhiều người say mê đọc sách thì sẽ bớt đi được rất nhiều những điều vẫn được gọi chung là tiêu cực: tội ác, sự giả dối, gian lận… Tôi luôn tin rằng sách có tác dụng làm thanh sạch tâm hồn.

– Con đường đi của sách chính là con đường đi của các tư tưởng, nó chuyển các tư tưởng lớn, mới, đi đến những nơi xa xôi nhất so với điểm xuất phát của chúng, tác động thường bắt đầu rất lặng lẽ, “hiền lành”, nhưng rồi sẽ gây ra chuyển động, trước hết ở cái nơi không lực lượng nào và phương tiện gì có thể ngăn trở, dập tắt được, là trong đầu óc con người. Và một khi đầu óc con người đã chuyển động, thì tất sẽ gây ra chuyển động xã hội, sớm hay muộn. Một cách hình ảnh, có thể nói, con người cầm quyển sách mà đi tới trên đường tiến hóa của mình. Không thể tưởng tượng một thế giới mà không có sách.

– Trên thế giới, nguy cơ nghe nhìn tiêu diệt sách đã không hề diễn ra, nhưng ở ta, với tình hình cho đến nay, hình như đấy không phải chỉ là một mối lo hão. Tình hình đã có khá lên đôi chút gần đây, nhưng vẫn còn là đáng báo động. Phải có một chiến lược nghiêm túc khôi phục văn hóa đọc, nếu quả thật chúng ta không có lợi ích gì trong việc để có một xã hội dễ dãi và lười suy nghĩ.

– Cái hổng nhất của giáo dục nước ta là ở triết lý giáo dục. Giáo dục tiên tiến dạy cho con người ta khả năng đầu tiên là khả năng phản đối trước khi đồng ý, với nguyên lý cơ bản là tạo ra con người độc lập, tự do cho xã hội.

– Thiết lập lại một nền giáo dục khác hẳn nhằm tạo nên những con người tự do, dám và biết tự mình đi tìm lấy chân lý, sống và làm việc theo chân lý mình đã chọn, chịu trách nhiệm về sự lựa chọn ấy. Sự thống nhất của xã hội sẽ là sự thống nhất của những con người tự do, đầy trách nhiệm với chính mình và với xã hội, đầy tự chủ và sáng tạo.

Tác phẩm đã xuất bản

Đất nước đứng lên
Rẻo cao
Đường chúng ta đi
Đất Quảng
Rừng Xà nu
Có một đường mòn trên biển Đông
Cát cháy
Nghĩ dọc đường
Lắng nghe cuộc sống
Tản mạn nhớ và quên
Bằng đôi chân trần
Và dịch một số tác phẩm của Rolland Barthes, Jean Paul Satre, Milan Kundera, Jacques Dournes…

Phỏng vấn, viết về tác giả

Tôi đã lạc quan hơn về giới trẻ

Không nên sợ chuyển động đi tới của cuộc sống

Tuổi trẻ: Giàu thông tin, nhưng còn bản lĩnh?

Vóc dáng tự do, tinh thần độc lập

Không gian mới của trí thức

Nguyên Ngọc – tác phẩm: Văn chương của một nhà văn hóa công dân

Nguyên Ngọc – Trần Đăng Khoa

“Cần nhìn lại văn hoá Việt Nam một cách sòng phẳng”

Đường xa mây trắng trên đầu

Chiêm nghiệm về lịch sử

Huỳnh Thúc Kháng khí tiết người làm báo

Đông Kinh Nghĩa Thục, thử nhìn từ một góc độ khác

Sự công bằng lịch sử được trả lại

Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ

Phan Châu Trinh và lòng tin vào sức mạnh của tri thức văn hóa

Tính cập nhật kỳ lạ của một tư tưởng lớn

Người tạo nên vụ Big Bang 80 năm trước ở Sài Gòn


Suy ngẫm về văn hóa, phát triển

Cách mạng, văn hóa và giáo dục
Thế giới đang phẳng ra, cả ở nơi đây

Một văn hóa mới cho hội nhập hôm nay

Thế giới phẳng – Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI

Sống trong thế giới hôm nay

Cái giá văn hoá-xã hội-chính trị của các đại dự án bô-xít (Tuần Việt Nam)

Cần nghĩ đến một cuộc tự vấn

Xin can (Tia sáng)

Có phải người Việt thường không triệt để?
Văn hóa để làm gì ?
Về cái tiêu cực và cái tích cực

Một hành trình triết học hấp dẫn

Minh triết phương Đông & Triết học phương Tây

Viết để làm gì ? (Nguyên Ngọc dịch)

Đọc và nghe nhìn

Trăn trở cùng giáo dục

Cần thay đổi triết học giáo dục

Edgar Morin và giáo dục trong thế giới biến đổi

Để trẻ em “điếc” với sách là tội ác!

Lại chuyện triết lý giáo dục

Về triết lý giáo dục

Giáo dục, sản phẩm bị động hay tác giả chủ động?

Tự chủ đại học

Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?

Đại học để… làm gì?

Để thật sự có đại học

Mười vấn đề lớn của giáo dục

Thêm một ý kiến về giáo dục

Cách mạng, văn hóa và giáo dục

Thêm đôi suy nghĩ về giáo dục
Một sự nghiệp lớn và cấp thiết (Phát biểu tại lễ ra mắt Quĩ Dịch thuật Phan Chu Trinh )

Hãy biết cởi trói cho giáo dục

Chia sẻ về người cùng thời

Nguyễn Khải, nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi
Lê Đạt, Người Hiền

Cách sống Thùy Trâm

Lớn hơn số phận đàn bà…

Còn có thể đi tới triệt để hơn

Thế giới quanh ta: Một góc nhìn tri thức (lời tựa)

Chuyên đề Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu


Tiểu thuyết và lịch sử(Vietnamnet)

Giá như tiểu thuyết có những bước mạo hiểm(Vietnamnet)

Tôi lạc quan về tiểu thuyết Việt Nam(Vietnamnet)

Suy nghĩ về những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử(Vietnamnet)

Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu?(Vietnamnet)

Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng….

(Vietnamnet)

Sự dễ dàng đã bóp chết nhà văn(Vietnamnet)

Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách


Lê Đạt (1929 – 2008)



Lê Đạt
(1929-2008)

Nhà thơ Lê Đạt là một nhân vật trụ cột của Phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Ông tự nhận mình là phu chữ, vì thơ ông viết rất kỹ tính, cẩn thận từng câu chữ, chọn lọc, suy nghĩ và dằn vặt rất nhiều..

– Ông sinh ngày 10-9-1929 tại Yên Bái, tên thật là Đào Công Đạt
– Ông tham gia cách mạng ngay sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công. Trong suốt quá trình hoạt động ông đều công tác ở ngành Tuyên huấn, sau lên Tuyên huấn Trung Ương, trực tiếp theo dõi phong trào văn nghệ, văn hóa và giáo dục.
Hòa bình lập lại năm 1954, ông về Hà Nội làm biên tập viên, bí thư chi bộ của báo Văn Nghệ, rồi được học lớp tiếp quản để về tiếp quản khu 300 ngày ở Quảng Ninh.
Khi Nhân văn-Giai phẩm bùng nổ, với bài thơ “Ông bình vôi” đăng trên báo Nhân Văn, ông bị lên án “phản động” và mất chức.
– N
ăm 1957, ông bị thuyên chuyển sang làm ở ban đối ngoại của Hội nhà văn Việt Nam, sau đó bị đưa ra khỏi Đảng khi đang chuẩn bị cho phát hành tập thơ Cửa hàng Lê Đạt giữa lúc đấu tranh chống tư sản sục sôi nhất vì bị cho rằng tập thơ tiếp tay cho tư sản.
– Năm 1958, ông bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn và đình chỉ xuất bản trong thời hạn 3 năm.
– Đến năm 1988, ông được phục hồi tư cách hội viên Hội Nhà văn và quyền xuất bản.
– Năm 2007, cùng với ba nhà thơ khác của Phòng trào Nhân văn-Giai phẩm là Trần Dần, Phùng Quán và Hoàng Cầm, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
– Ngày 21-4-2008, ông từ trần.

Quan điểm sáng tác

– Trong những nhà thơ cùng trang lứa, Lê Đạt cùng với Trần Dần là hai nhà thơ vị chữ. Ông đề cao tinh thần lao động chữ của nhà thơ đến mức ông gọi nhà thơ là “Phu Chữ”. Phu hay cu-li cũng vậy, đều cực nhọc muôn phần. Ông ghét thứ thơ đơn nghĩa và gọi nó là “thơ lộ thiên”. Vì vậy ông chủ trương đào sâu vào chữ để tìm ra nhiều vỉa từ nhằm làm cho thơ đa nghĩa, cô đúc và sâu sắc. Và ông muốn những con chữ ấy phải mang dấu ấn riêng của nhà thơ.
– Ông coi “Vân chữ cũng quan trọng như vân tay, có thể làm dấu ấn vào giấy thông hành của nhà thơ”.
– Thời kỳ chín muồi của thơ ông chính là thời ông cho ra mắt tập thơ Bóng Chữ gây xôn xao dư luận, khen chê “tóe lửa” trên văn đàn. Nhưng sau tất cả những tranh luận về thơ ông, người ta thấy ông có lý. Vậy là sự tìm kiếm sáng tạo mới của nhà thơ đã có tác động đến sự phát triển nền thơ của ta những năm cuối thế kỷ XX. (Nguyễn Trọng Tạo)


Tác phẩm đã xuất bản

Bài thơ trên ghế đá (chung với Vĩnh Mai, 1958)
36 Bài Thơ Tình (chung với Dương Tường, 1990)
Thơ Lê Đạt – Sao Mai (chung với Sao Mai, 1991)
Bóng chữ (1994)
Hèn đại nhân (1994)
Ngó lời (1997)
Truyện Cổ viết Lại, NXB Trẻ, 2006
Mi Là Người Bình Thường, NXB Phụ Nữ, 2008
Đối Thoại Với Đời Và Thơ, NXB Trẻ, 2008
U 75 Từ Tình, NXB Phụ Nữ, 2008
Đường Chữ, NXB Hội Nhà Văn, 2009

Phỏng vấn tác giả

Lê Đạt, Người Hiền (Tia Sáng)

Trên “vân chữ” của Lê Đạt (Sài Gòn tiếp thị)

Lê Đạt với cái tâm đắc đạo (Công An Nhân dân)

Lê Đạt – nhà thơ hành trình về phía Mới

Nhà thơ Lê Đạt: Người lạc quan ngoan cố
Nhà thơ Lê Đạt và Tình U75
Nhà thơ Lê Đạt: Nói không vui là nói dối (Tuổi trẻ)
Trẻ Lê Đạt (Tia Sáng)


Bài viết của Lê Đạt

Thơ, phê bình văn học

Tập truyện mới của Lê Đạt: Mi là người bình thường

Trường ca về Bác của nhà thơ Lê Đạt (Sức khỏe và Đời sống)

Nhà thơ Lê Đạt: Thơ đương đại đang bế tắc (Tiền Phong)

Những đoản khúc Lê Đạt

Đường chữ

Thơ và vật lý hiện đại

Suy ngẫm về thời cuộc


Đối tác

Truyền thống cần được trẻ hóa

Lời quê

Một cách tiêu đẹp

Sự trung thực của trí thức

Lý tính phê bình

Văn hóa đối thoại

“Phản đề” dành cho người Việt trẻ
Cái khác…

Bài thơ “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” của Lê Đạt (1929-2008) được đăng trên báo Nhân Văn số 1 ngày 20.09.1956. Vì bài thơ này mà Lê Đạt đã gặp nhiều ‘rắc rối’ qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm.

Bài thơ “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”

“Báo Nhân dân số 822
Có đăng tin mấy người tự tử
Vì câu chuyện tình duyên dang dở
Trưa mùa hè nóng nung như lửa
Tôi ngồi làm thơ
Vừa giận vừa thương những người xấu số
Chân chưa đi hết đường đời
Đã vội nằm dưới mộ.

Chết là hết
Hết đau hết khổ
Nhưng cũng là hết vầng trăng soi sáng trên đầu
Hết những bàn tay e ấp tìm nhau

Người con trai ngồi trên gò đất
Thổi sáo gọi người yêu
Bắt nắng chiều đứng lại
Lúa đang thì con gái…
Xôn xao gió thổi
Đầu sát bên đầu tính chuyện tương lai

Anh công an nơi ngã tư đường phố
Chỉ đường cho
xe chạy
xe dừng
Rất cần cho luật giao thông
Nhưng đem bục công an đặt giữa trái tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi
Theo luật lệ đi đường nhà nước
Có thể gây nhiều đau xót
ngoài đời

Sau khi bị vụ Nhân văn-Giai phẩm trong vòng 30 năm, Lê Đạt đi vào viết về thân phận của mình, của xã hội thời kỳ cấm đoán và tìm tòi cách tân thơ.

Bài “Cảng Cấm”:

Hai vợ chồng ghế đá đêm suông
Cảng Cấm

còi tàu u ú
gió oà
Đất nước mẹ mình
hay mẹ ghẻ

Bài “Thu nhà em”:

Anh đến mùa thu nhà em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó

Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió

Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
và xanh rất cao

Bài “Ác mộng”:

“Mơ tôi một giấc mơ khiếp sợ
Đường phố

cả căn nhà tôi ở
Mặt sắt chữ vàng biển đỏ
“Không phận sự miễn vào”

Bài “Bước Ký XXI” viết trước thềm thiên niên kỷ mới:

“Năm 2000
năm chiếu cố
những địa đầu thiểu số

Các nhà cầm quyền
đối đám nghi can
đúng trước giờ công bố
hãy nhẹ tay.”

Đỗ Lai Thúy (1948 – )


ĐỖ LAI THÚY(sinh 1948)

– Ông sinh tại Quốc Oai- Hà Tây năm 1948

– Ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội.

– Sau 10 năm phục vụ quân đội, ông làm biên tập ở NXB Thế Giới.

– PGS.TS là nhà nghiên cứu phê bình văn học hiện đại. Mặc dù tốt nghiệp Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ, nhưng bao giờ ông cũng tự nhận mình là “người tự đào tạo”, “không được học hành một cách chính quy”. Ông chuyên viết nghiên cứu lý luận phê bình văn học, và tất nhiên còn dịch nữa.

– Hiện nay, ông là phó tổng biên tập tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật (Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch).

– Ông nghiên cứu, giới thiệu chủ yếu các chủ đề về các lý thuyết văn học, lý luận phê bình văn học, văn hóa của thế giới cho bạn đọc trong nước nhằm đổi mới Nghiên cứu văn học.

– Sử dụng các công cụ này để xử lý các hiện tượng văn hóa, văn học, con người và các tác giả, tác phẩm Việt Nam, phát hiện thêm các giá trị nhân văn, thẩm mỹ.

Quan điểm sáng tác

– Nhìn văn hóa Việt Nam từ mẫu người văn hóa, tôi tránh được một cái nhìn tuyến tính của sử biên niên. Hơn nữa, lối tiếp cận này còn trình ra một cách hiểu khác về văn hóa. Văn hóa, tôi nghĩ, không chỉ là những gì bày ra trên mặt đất, mà, quan trọng hơn, còn là những trầm tích trong lòng đất. Và trong lòng người.

Các sách chuyên đề đã xuất bản

Mắt thơ (Phê bình phong cách Thơ mới), NXB Lao động, 1992
Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (Đi tìm thực chất thơ Hồ Xuân Hương), NXB Văn hóa thông tin, 1999
Từ cái nhìn văn hóa (Tập tiểu luận), NXB Văn hóa dân tộc, 1999
Chân trời có người bay (Chân dung các nhà nghiên cứu), NXB Văn hóa thông tin, 2002
Nghệ thuật như là thủ pháp (Lý luận văn học của các nhà Hình thức luận Nga), NXB Hội nhà văn, 2001
Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, NXB Văn hóa thông tin, 2000
Phân tâm học và văn hóa tâm linh, NXB Văn hóa thông tin, 2002
Phân tâm học và tình yêu, NXB Văn hóa thông tin, 2003
Sự đỏng đảnh của phương pháp, NXB Văn hóa thông tin, 2004
Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa, NXB Văn hóa thông tin, 2005
Theo vết chân những người khổng lồ (Tân Guylivơ phiêu lưu ký về các lý thuyết văn hóa), NXB Văn hóa thông tin, 2006
Bút pháp của ham muốn, NXB Tri Thức, 2009

Ngoài ra còn có:

Luận về xã hội học nguyên thủy (Tổ chức dịch và viết giới thiệu-NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001)
Nghệ thuật như là thủ pháp-Lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga (biên soạn và dịch chung, tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 2002)
Văn hóa học. Những lý thuyết nhân học văn hóa (dịch chung, tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 2002);
Thơ Lermontov (1978);
Kịch Ôxtrốpxki (1989)…

Phỏng vấn, viết về tác giả

“Nhà phê bình không nên ăn sẵn người đọc” (Văn hóa đọc)

Phê bình phân tâm học và Đỗ Lai Thúy (1)

Bàn về văn hóa Việt Nam

Những nghịch lý giáo dục




Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898)


TRƯƠNG VĨNH KÝ(1837-1898)
Ông là một nhà văn hóa sáng chói của Việt Nam vào
cuối thế kỷ XIX
. Ông là một học giả tiên phong, chuyên tâm nghiên cứu học thuật, sáng lập nền báo chí Việt Nam và đóng vai trò khai sáng đối với văn học nước nhà.

– Ông sinh ngày 6-10-1837 tại tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long. Gia đình ông theo đạo Gia Tô, ông vốn tên Jean Baptiste Trương Chánh Ký, sau mới đổi là Trương Vĩnh Ký, thường gọi là Pétrus Ký, hiệu là Sĩ Tải. Ông là con thứ ba của quan lãnh binh Trương Chánh Thi. Người anh thứ hai là Trương Văn Sử cũng thông minh, sau ra làm quan được thăng lên chức đốc phủ sứ.
– Khoảng năm 1839-1940 lãnh binh Trương Chánh Thi được lệnh lên trấn nhậm một vùng ở Nam Vang và mấy năm sau thì bị mất ở đó khi ông còn nhỏ tuổi. Gia đình lâm vào cảnh túng thiếu, nhưng với lòng thương con, mẹ ông ngày đêm lam lũ, tần tảo quyết chí nuôi hai con ăn học.
– Lên 5 tuổi, ôngbắt đầu học chữ Nho với cụ Đồ Học, đồng thời được linh mục Tám, một linh mục người Việt thường lui tới thăm viếng gia đình truyền dạy quốc ngữ.
– Lên 8 tuổi, ông được Cổ Long, một linh mục người Pháp, đưa vào học trường Dòng ở Cái Nhum. Ba năm theo học ở đây, Ký đã khiến thầy và bạn bè ngạc nhiên, nể phục vì trí thông minh và tính cần cù của hiếu học của mình. Nhưng hoạn nạn lại đến, triều đình Huế tăng cường việc triệt hạ đạo, lùng sục những người theo đạo, nhất là các nhà truyền giáo Cổ Long phải lẩn trốn dắt theo ba tùy tùng, trong đó có học trò yêu là Trương Vĩnh Ký. Ròng rã mấy tháng trời băng rừng lội suối, thiếu ăn thiếu mặc, thầy trò Ký trốn sang được đất Campuchia.
– Năm 1849, Cổ Long xin ông vào học trường Pinhalu, một trường có nhiều học sinh từ các nước Châu Á như Thái Lan, Miến Điện, Trung Hoa, Nhật Bản, Lào… đang theo học. Chính nơi đây, trí thông minh xuất chúng của Ký càng được nẩy nở. Ông mê say các môn học và môn học nào cũng đạt xuất sắc, đặc biệt ông tỏ ra có năng khiếu về khoa ngôn ngữ học. Cũng ở đây, ông học thêm được nhiều thứ tiếng như Khơmer, Lào, Thái, Miến Điện…
– Năm 1851, ông nhận được một trong ba học bổng nhà trường cấp cho học sinh ưu tú tiếp tục sang học ở trường đạo Pinang (Mã Lai). Cổ Long một lần nữa lại dẫn dắt học trò băng rừng lội suối, khi bằng voi, khi lội bộ về Sài Gòn, rồi tiếp tục bằng đường biển, lênh đênh gần 3 tháng nữa mới đến nơi. Năm 1852, ông vào trường thầy dòng của hội truyền giáo Viễn Đông, tức là trường Pinang (ở đảo Pinang Malaixia).
– Ở trường Pinang 6 năm (từ 15 đến 21 tuổi), Ký học các môn văn chương, khoa học, triết học, học chuyên ngữ Latinh và Hy Lạp. Ông đã đạt được giải thưởng xuất sắc về môn luận văn Latinh của vị Thống đốc nước Anh ở đảo này. Ngoài ra, ông còn học thêm được các thứ tiếng Anh, Pháp, Ấn Độ và Nhật. Ông nổi tiếng là người có trí nhớ phi thường. Ngoài việc học thần học, triết học… ông bắt đầu học thêm ngôn ngữ Hy Lạp, Anh, Nhật, Hinđu. Trong một kỳ thi luận văn viết bằng chữ Latinh, đầu đề là “Đức Datô có phải là Chúa không?”, bài của ông đã được chấm giải nhất. Một nhà nhiếp ảnh người Anh là J. Thomson đã từng đi du lịch nhiều nơi và viết quyển “Mười năm du lịch Trung Quốc và Đông Dương” trong đó có đoạn đề cập đến Pétrus Ký: “Là một ngoại lệ đáng kể trong những người bản xứ mà tôi vừa giới thiệu nét đặc trưng với bạn đọc. Ông đã học ở trường trung học Penang và không bao giờ tôi quên được sự ngạc nhiên của tôi, khi tôi được người ta giới thiệu với ông. Ông nói chuyện với tôi bằng tiếng Anh rất hay, hơi có giọng Pháp, còn tiếng Pháp thì ông nói cũng không kém thuần thục và thanh lịch. Tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý cùg với nhiều thứ tiếng phương Đông đều là những thứ tiếng mà ông thông thạo. Nhờ có vốn kiến thức phi thường đó, ông có được địa vị cao. Một hôm tôi đến thăm ông, tôi thấy ông đang làm sách Phân tích so sánh các ngôn ngữ chủ yếu trên thế giới, tácphẩm này đã khiến ông bỏ ra nhiều năm làm việc cần cù. Chung quanh ông đầy đủ những quyển sách quý và hiếm mà ông đã tìm kiếm được một phần ở châu Âu, một phần ở châu Á. Buổi tối hôm ấy, có một giáo sĩ ở Chợ Lớn đến gặp ông và khi chúng tôi sắp từ biệt, thì tôi nghe họ thảo luận với nhau bằng tiếng La tinh về vài đặc điểm thuộc về thần học. La tinh là một ngôn ngữ rất khó học, nhưng ông được giải thưởng về luận văn triết học viết bằng tiếng La tinh. Do đó, Trương Vĩnh Ký nổi tiếng về môn triết học ở chủng viện Penang“.

– Năm 1858, Trương Vĩnh Ký ra trường. Còn đang phân vân giữa đường tu hành và đường đời thì nhận được tin thân mẫu qua đời, ông quyết định lên đường về quê cũ thọ tang mẹ và chấm dứt một quãng đời học sinh miệt mài sách vỡ và kết quả lại hết sức rực rỡ.
– Hơn hai mươi năm dính vào “hoạn lộ”, làm việc với chính quyền thực dân Pháp, làm việc với triều đình Huế, Trương Vĩnh Ký chưa bao giờ là một “ông quan cai trị” chính cống, cũng chưa bao giờ là một nhà chính trị chuyên nghiệp. Ông cũng gặp nhiều trắc trở trên con đường chính trị bất đắc dĩ này.
– Tháng 12-1860, ông nhận lời của một giám mục Lefêbvre làm thông ngôn cho viên Thủy sư đô đốc Rigault de Genouilly đang chiếm đóng ở Sài Gòn.
– Sau khi quyết định sống cuộc sống đời thường, Trương Vĩnh Ký cưới vợ là bà Vương Thị Thọ năm 1861.
– Năm 1862, với tư cách là thông ngôn, ông tham gia trong phái đoàn Simon ra Huế bàn việc cắt nhượng 3 tỉnh Miền Đông cho Pháp.
– Năm 1863 cũng với tư cách thông ngôn, ông theo sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp, để thương thuyết chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng thất bại. Trong dịp này ông đã tiếp xúc và kết bạn với Văn hào Victor Huygo, với các ông viện sĩ Hàn lâm Littré, Durny, Renan; ông cũng đã đi thăm được các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha…
– Năm 1866, Trương Vĩnh Ký được Pháp bổ nhiệm làm giám đốc trường thông ngôn (Collège de Interprètes) và dạy tiếng Đông phương tại trường này.
– Năm 1867, ông cho in Abrégé de grammaire Annamite (Ngữ pháp Việt Nam yếu lược), chứng tỏ ông là người Việt đầu tiên viết sách ngữ pháp tiếng Việt bằng tiếng Pháp.
– Tháng 9-1869, Thủy sư đô đốc Ohier ra nghị định bổ nhiệm Trương Vĩnh Ký toàn quyền trông coi tờ “Gia định báo” mà trước đó do người Pháp (Ernest Poteau) quản nhiệm. Như vậy, ông là người Việt đầu tiên làm chủ bút một tờ báo Việt ngữ.
– Tháng 1-1872, Trương Vĩnh Ký được chuyển qua làm giám đốc trường sư phạm (Ecole Normale). Ông cũng có chân trong Hội đồng Châu thành Chợ Lớn, Hội đồng thành phố Sài Gòn.
– Năm 1875, ông cho in tác phẩm Cours d’ Histoire Annamite – 2 tập (Giáo trình lịch sử Annam). Học giả Pháp là Ernest Renan từ năm 1880 đã đánh giá: “Trương Vĩnh Ký trình bày cho chúng ta biết một cách tường tận những ý tưởng của người Việt nam và lịch sử của họ. Người ta phải ngạc nhiên khi thấy trong cuốn sách Giáo trình lịch sử Annam của ông một tinh thần sáng suốt và một sự vô tư khách quan ít thấy ở những công trình có tính cách Á Đông. Nhiều nước ở Châu Âu không có được cho trường học của họ một cuốn sách lược khảo có giá trị như cuốn sách của Trương Vĩnh Ký“. Với tác phẩm này, ông là người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp.
– Khi Paul Bert – một nhà văn hóa Pháp mà ông kết bạn từ năm 1863 – được cử sang làm quan toàn quyền, sau nhiều lần được mời mọc, tháng 04-1886, ông nhận lời ra giúp việc cho Paul Bert với một ý nguyện “giúp hai bên Pháp – Việt cảm thông hòa hiểu nhau”. Ông cũng được vua Đồng Khánh vừa lên ngôi tin cậy sắc phong làm Hàn Lâm Tự Độc Học Sĩ, sung cơ mật viện (8/1885).
– Năm 1886, ông cho in tác phẩm Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích. Sau này khi tái bản, người ta rút gọn lại là Chuyện đời xưa, theo ông: “Người ta dùng sách này mà học tiếng thì lấy làm có ích. Vì trong ấy cách nói chính là cách nói
Annam ròng”. Với việc làm ấy, ông là người Việt đầu tiên cho in sách bằng chữ Quốc ngữ.
– Sau khi Paul Bert mất (1886), ông chán việc chính trị, chán nản sự đố kỵ của hai phía chính phủ, ông xin trở lại Sài Gòn làm giáo sư giảng dạy thổ ngữ Đông phương ở trường Hậu Bổ (Collège des Administrateur Stagiaires) và trường thông ngôn (Collège des Interpretes). Từ giai đoạn này cho đến cuối đời, ông để hết tâm trí vào công việc nghiên cứu và trước tác.
– Năm 1888, ông chủ trương tập san Thông loại khóa trình (Miscellanées), tất cả ra được 18 số, đình bản vào tháng 6-1989 vì thiếu vốn. Như vậy, Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam đầu tiên chủ trì tập san tư nhân để phổ biến văn hóa nước nhà.
– Ông mất đi trong bệnh hoạn vào ngày 1-9-1898, lúc còn 62 tuổi và giữ những công trình đang biên soạn dở dang. Trên mộ ông có ghi những dòng chữ La tinh như muốn phân bua, nhắn nhủ với hậu thế: “Xin hãy thương tôi, ít ra những bạn hữu của tôi“, “Kiến thức của người có nó là nguồn sống“, “Những ai sống và tin tôi sẽ không phải chết đời đời“.

Quan điểm viết bài

Từ khi còn ở trường Dòng Cái Nhum, Trương Vĩnh Ký đã là một học trò thông minh xuất chúng. Qua học ở Pinhalu, học ở Pinang, ôngtrở thành một học sinh lỗi lạc tài ba nhất về khoa ngôn ngữ.

Thông thạo hơn 25 thứ tiếng phương Đông và phương Tây, tâm trí lại say mê chuyên chú vào việc nghiên cứu học thuật, Trương Vĩnh Ký đã để lại một gia tài trước tác đồ sộ. Ông Khổng Xuân Thu trong cuốn “Trương Vĩnh Ký, 1837 – 1898” do Tân Việt xuất bản đã liệt kê được 118 tác phẩm đã in ấn và 14 tác phẩm chưa in và đang soạn. Vũ Ngọc Phan trong bộ “Nhà văn hiện đại” (1942) đã viết “Sự nghiệp văn chương của ông thật lớn lao”. Trần Văn Giáp trong “Lược truyện tác giả Việt Nam” (1972) cũng thừa nhận tác phẩm của Trương Vĩnh Ký “còn lại rất nhiều”. Khi biên soạn “Tự điển văn học” (1984), giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã hệ thống hóa trước tác của Trương Vĩnh Ký thành 6 loại như sau:

1 – Nghiên cứu về lịch sử, địa lý như sử ký An Nam, sử ký Trung Quốc, Tập giáo trình về địa lý Nam Kỳ…

2 – Nghiên cứu về các bộ môn khác trong khoa học xã hội như: nghiên cứu so sánh tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc Đông dương; Tổng luận về các lối chữ tượng ý, tượng hình theo ngữ âm và theo vần a, b, c; nghiên cứu so sánh tiếng nói và chữ viết của ba ngành ngữ: phép lịch sự An Nam, Hát lý hò An Nam…

3 – Biên soạn từ điển như Từ điển Pháp – Việt; Từ điển Pháp – Hán – Việt; Từ điển địa lý An Nam; Từ điển danh nhân An Nam.

4 – Dịch sách chữ hán như: Tứ thư; Sơ học vấn tâm; Tam tự kinh; Tam thiên tự; Minh tâm bảo giám…

5 – Sưu tầm, phiên âm truyện Nôm và tác phẩm cổ Việt Nam như: Truyện Kiều, Phan Trần, Đại Nam quốc sử diễn ca, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc…

6 – Sáng tác thơ như: Bút ký ghi về Vương quốc Khơmer, chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, thơ Tuyệt mệnh…

Với tài năng lỗi lạc, kiến thức uyên bác, Trương Vĩnh Ký sớm nổi danh không những trong nước mà còn ở nước ngoài. Năm 1963, trong dịp theo sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp, ông đã tiếp xúc và kết tình thân hữu với nhiều nhà văn lớn của Pháp như: Victor Hugo, Paul Bert, Littré, Renan…Dịp này ông được nhận làm thông tín viên Hội nhân chủng học. Năm 1876, ông trở thành Hội viên Hội Á Châu (Socíeté Asiatique). Ông được tặng nhiều huy chương về văn hóa của nước ngoài, trong đó Hàn lâm Pháp tặng huy chương đệ nhị đẳng (1883) và đệ nhất đẳng (1887).

Với những hoạt động văn hóa kể trên, năm 1874, giới nghiên cứu Pháp đã liệt Trương Vĩnh Ký vào hàng một trong 18 nhà bác học danh tiếng nhất thế giới đương thời.

Trương Vĩnh Ký là người tiên phong trong việc sáng lập nền báo chí Việt Nam. Tờ “Gia Định báo” khi còn Ernest Poteau quản nhiệm chỉ là một bản tin, một bản dịch Việt văn của tờ Coarrier de Sài Gòn nhưng khi đến tay ông quản nhiệm (Ngày 16/9/1869) thì tờ báo khác hẳn. Về hình thức tờ báo không thay đổi nhiều, nhưng về nội dung ông đã tập trung vào 3 chủ đích: cổ động tân học, truyền bá quốc ngữ và giáo dục quốc âm. Tờ báo đã một mình tung hoành trên 30 năm cuối thế kỷ 19 và nơi tập hợp nhiều nhà báo nổi tiếng sau này như Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của…

Trương Vĩnh Ký là một học giả tiên phong, có nhiều canh tân trong một số chuyên ngành văn hóa. Trên lĩnh vực này, ở nhiều điểm ông còn đi xa hơn Nguyễn Trường Tộ, nhà cách tân đồng thời. Ví dụ như Nguyễn Trường Tộ nhận thức rằng: “chữ Hán là thứ chữ chỉ có ai học mới biết, không học thì nghe như vịt nghe sấm”. Nhưng Trương Vĩnh Ký thì chủ trương: “Cứ lấy chữ Hán chuyển đọc ra quốc âm. Không cần học nghĩa” và ông đã cụ thể hoá” gộp hết tiếng ta lại chia thành môn loại, làm tự điển, trước tiên ban hành trong các cơ quan chính quyền và trường học cho người học dễ dàng sử dụng”. Hoặc đối với chữ quốc ngữ, Nguyễn Trường Tộ chưa dám dùng nhưng Trương Vĩnh Ký lại trước tác bằng chữ quốc ngữ, chữ Pháp… Ông còn dịch nhiều sách Hán Nôm ra quốc ngữ, soạn tự điển hai, ba ngôn ngữ. Ông có công rất lớn đối với văn tự, chữ viết của nước ta, thứ chữ được phát triển càng ngày càng rực rỡ.

Trương Vĩnh Ký đã đóng một vai trò hết sức quan trọng: vai trò khai sáng đối với văn học nước nhà.

Trương Vĩnh Ký – một trong 18 nhà thông thái nhất thế giới đương thời, người đạt kỷ lục về làu thông ngoại ngữ (26 ngoại ngữ), một nhà cách tân văn hóa, một học giả mà số lượng trước tác đạt đến 3 con số (118 tác phẩm). Hầu như ở lĩnh vực học thuật nào, ông cũng có những đóng góp rất đáng kể. Có thể gọi ông là nhà chính trị, nhà giáo dục, nhà khoa học, nhà ngôn ngữ học… Nhưng ông lại rất khiêm tốn và sống cảnh thanh bạch, thậm chí nợ nần.

Các tác phẩm của ông

Ông có rất nhiều tác phẩm (118 tác phẩm hoặc 121 tác phẩm), lược kê một số như:

Truyện đời xưa
Abrégé de grammaire annamite (Tóm lược ngữ pháp An Nam)
Kim Vân Kiều (bản phiên âm ra chữ quốc ngữ đầu tiên)
Petit cours de géographie de la Basse-Cochinchine
Cours de langue annamite (Bài giảng ngôn ngữ An Nam)
Voyage au Tonkin en 1876 (Đông Kinh du ký)
Guide de la conversation annamite (Hướng dẫn đàm thoại An Nam)
Phép lịch sự An Nam (Les convenances et les civilités annamites)
Lục súc tranh công
Cours de la langue mandarine ou des caractères chinois (Bài giảng tiếng Quan thoại hay chữ Trung Quốc)
Cours d’histoire annamite (Bài giảng lịch sử An Nam)
Dư đồ thuyết lược (Précis de géographie)
Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ
Cours de littérature annamite, 1891 (Bài giảng văn chương An nam)
Cours de géographie générale de l’Indochine (Bài giảng địa lý tổng quát Đông Dương)
Đại Nam tam thập nhứt tỉnh địa đồ
Grand Dictionnaire Annamite-Français (Đại tự điển An Nam-Pháp)


Các sách viết về ông:

Trương Vĩnh Ký nhà văn hóa, Nguyễn Văn Trung, NXB Hội nhà văn, 1993

Trương Vĩnh Ký – con người và sự thật, Nguyễn Văn Trấn, Ban Khoa học xã hội Thành ủy TP.Hồ Chí Minh, 1993

Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký, Bằng Giang, Nhà xuất bản Văn học, 1994

Trương Vĩnh Ký – Bi kịch muôn đời, Hoàng Lại Giang, NXB Văn Hóa và Thông Tin, 2001

Thế kỷ XXI nhìn về Trương Vĩnh Ký, NXB Trẻ, 2002, tr.28

Tuyển Tập Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký, Vũ Ký, 2005


Học giả nói, viết về tác giả

Chúng ta kính trọng ông – một nhà bác học, một nhà văn hóa lớn vừa có nhân cách vừa có chân tài. Lịch sử chắc chắn sẽ tiếp tục ghi nhận công lao của Trương Vĩnh Ký với tư cách người đi tiên phong trong cuộc chuẩn bị sự canh tân cho đất nước. (GS Trần Hữu Tá, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông)

Tóm tắt sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký gọn trong 3 tiếng “Bác học, Tâm thuật, Khiêm tốn(Nguyễn Văn Tố )

Đời có ba hạng người bất hủ. Trên có bậc lập đức, dưới có bậc lập công, sau có bậc lập ngôn, tuy mất đã lâu mà tiếng vẫn còn: toàn là những nhà bất hủ.
Hạng người làm sách để dạy đời là một hạng trong ba hạng người bất hủ ấy.
Ông Trương Vĩnh Ký có thể liệt vào hạng người đó, vì ông viết bao nhiêu là sách. Những sách ấy hiện vẫn còn có giá trị, quyển nào cũng có ý đủ, văn hay, không phải là người có thiên tài học vấn thì không sao viết nổi. Thật là một nhà bác ngữ uẩn suc, nước ta chưa từng có bao giờ. (Nguyễn Văn Tố)

Trong số những sách dịch thuật, khảo cứu và sáng tác của ông, người ta thấy chỉ những sách khảo cứu của ông là có giá trị hơn cả…Người ta thấy ông rõ là một nhà bác học có óc tổ chức và có phương pháp… (Vũ Ngọc Phan)

Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của là ba ông minh triết bảo thân, gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn, không ham “đục nước béo cò” như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà long giữ Hán, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm cho nước nhà những cơn ba đào sóng gió còn hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng. (Vương Hồng Sển)

-Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch; trước khi mất, ông biết thân phận của người học giả sống trong thời kỳ khó khăn…

– Khi phong trào Duy Tân hoạt động công khai rầm rộ, ông Trần Chánh Chiếu cổ động lạc quyên đức tượng kỷ niệm ông Trương Vĩnh Ký với bài trong báo Lục Tỉnh Tân Văn nhan đề “ông Đốc Ký”.

– Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nứơc tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẻ cho các quan Lang sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam, cho khỏi chỗ mích lòng nhau, làm cho mẹ gà phải thương con vịt. Đêm ngày lo đặt sách này dịch sách kia cho kẻ hậu sinh dễ học. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ…

– Ngoài những tác phẩm biên khảo mang tính cách bác học, ông Trương vĩnh Ký còn chú ý đến độc giả bình dân, lời văn theo lời ăn tiếng nói thông dụng lúc bây giờ. Chuyện đời xưa của ông cùng là Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của hãy còn được nhắc nhở. (Sơn Nam)

Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không đài các, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn… Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi những xiềng xích chữ Hán. Chủ trương của ông chính là “cách nói tiếng An Nam ròng” và viết “trơn tuột như lờ nói”. Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi, nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn. (Thanh Lãng)

Những biên soạn của Trương Vĩnh Ký đã có những đóng góp quan trọng cho một số ngành khoa học đương thời, nhất là khoa ngôn ngữ học và khoa học lịch sử… Các sáng tác của Trương cũng nói lên ít nhiều cá tính một con người cần mẫn trong công việc, có cái nhìn tinh tế và óc tò mò trước sự vật, nhiều lúc có khả năng hài hước hóa mọi chuyện ở đời… (Nguyễn Huệ Chi)

Ông là người, từ nhỏ được giáo dục theo phương pháp Âu Tây, khi trưởng thành theo giúp việc người Pháp, thế mà bằng hữu viết thư giục ông, ông không nghe, vẫn khăng khăng từ chối để suốt đời được giữ bộ quần áo Việt Nam và suốt đời là một người Việt Nam thuần túy. (Lê Thanh)

Nếu cụ Võ Trường Toản là “Hậu tổ” của Nho học ở đất Gia Định thì cụ Trương Vĩnh Ký là bậc tiền hiền của chữ quốc ngữ trong toàn cõi đất Việt. (Huỳnh Minh)

Các bài viết, bài báo về Trương Vĩnh Ký

Tiếng Việt – những công lao bị quên lãng (Cao Xuân Hạo)
Người chiêu tuyết cho Trương Vĩnh Ký
Tầm vóc quốc tế của Pétrus Ký
Petrus Trương Vĩnh Ký, người đầu tiên phát huy nền văn học chữ quốc ngữ Việt Nam
Trương Vĩnh Ký nhà văn hóa tiên phong
Những kỷ lục của báo chí Việt Nam
Trương Vĩnh Ký, người mở đầu cho cuộc trò chuyện Đông Tây




Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936)


NGUYỄN VĂN VĨNH
(1882 – 1936)

Nguyễn Văn Vĩnh nổi bật với quan điểm duy tân cấp tiến. Thuộc nhóm người tân học, làm việc với người Pháp, và được sang Pháp công tác, sớm nhận thấy sự văn minh tiến bộ tây phương, ông hiểu rằng muốn canh tân đất nước, việc giáo dục quần chúng là điều kiện quan trọng trước nhất. Để giáo dục quần chúng, sự cần thiết là phải nhờ vào chữ quốc ngữ, báo chí, và ấn phẩm. Những yếu tố này ở nước ta lúc bấy giờ chưa có…

1. Tiểu sử

– Nguyễn Văn Vĩnh có biệt hiệu là Tân Nam Tử, sinh ngày 15/6/1882 tại làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Ông xuất thân trong một gia đình nông dân rất nghèo, không phải từ một gia đình “danh gia vọng tộc”, “khoa bảng”.
– Ông bước vào đời từ một cậu bé 8 tuổi, nghèo khó, kéo quạt ở trường hậu bổ đình Yên Phụ. Năm 12 tuổi, nhờ học mót mà ông thi đỗ khóa học chính thức và được hiệu trưởng cho phép học lại khóa học thông ngôn do quá nhỏ tuổi.
– Năm 1898, ở tuổi 16, ông tốt nghiệp trường thông ngôn Hà Nội (Collège des Interprêtes) và được bổ nhiệm làm thư ký tòa sứ Lào Kay. Sau đó, ông được thuyên chuyển qua Hải Phòng, Bắc Ninh, và Hà Nội. Sau 2 năm học thông ngôn, ông đọc tất cả những gì rơi vào tay mình với một tinh thần say mê văn hóa, văn học

– Năm 1906, ông được cử sang Pháp tham dự hội chợ đấu xảo (Foir d’exposition), tại Marseille. Sau khi trở về nước, ông từ chức thư ký tòa sứ, để làm nghề văn, làm báo, và hoạt động chính trị.
Khởi đầu, vào ngày 20/3/1907, làm chủ bút tờ Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo.
– Năm
1908-1909: ông chủ trương tờ Notre Journal.
– Năm 1910, ông ra tờ Notre Revue được 12 số báo. Cùng năm đó ông làm chủ bút tờ Lục Tỉnh Tân Văn ở Sài Gòn.
– Năm 1913, ông trở về Hà Nội, làm chủ bút tờ Đông Dương Tạp Chí.
– Đến năm 1915, kiêm chủ bút tờ Trung Bắc Tân Văn. Cả ba tờ báo Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí, và Trung Bắc Tân Văn đều do ông Schneider, người Pháp sáng lập.
Năm 1919, Đông Dương Tạp Chí đổi làm học báo, ông kiêm chức chủ nhiệm. Đồng thời, ông mua lại tờ Trung Bắc Tân Văn ra mắt hàng ngày.
Năm 1920, ông là người Việt Nam đầu tiên dựng sân khấu kịch nói tại Nhà hát lớn để trình diễn các vở hài kịch của Molière như: Trưởng giả học làm sang, Người biển lận
Năm 1924, cùng với những người Pháp dựng bộ phim truyện đầu tiên trong điện ảnh Việt Nam (phim câm) được quay tại cảnh quan Chùa Láng – Hà Nội.
Năm 1927, ông cùng người Pháp Vayrac thành lập tủ sách Âu Tây Tư Tưởng (La pensée de l’Occident) để xuất bản các sách do ông dịch thuật.
– Năm
1931-1934: ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Annam Nouveau. Ngoài ra, ông còn là hội viên hăng say hoạt động cho hai học hội Trí Tri, và Khai Trí Tiến Đức.

Về hoạt động chính trị, từ 1908, ông là hội viên Hội Đồng Thành Phố Hà Nội.
– Từ 1913, trong nhiều khóa liên tiếp, ông được tín nhiệm làm hội viên Hội Đồng Tư Vấn Bắc Kỳ (tức Viện Dân Biểu thời đó) và có chân trong Đại Hội Nghị Kinh Tài Đông Dương, một cơ quan tư vấn tối cao của chính phủ Đông Pháp. Ngoài ra, ông còn là hội viên của hai Hội Nhân Quyền Quốc Tế tại Việt Nam (Ligne des droits de l’homme) và Hội Tam Điểm Quốc Tế (Franc Maconnerie).
Vào năm 1934-1935, lúc kinh tế suy thoái, và tài chính ấn quán bị thua lỗ, ông chuyển hướng, và hợp tác với một người bạnPháp Clémenti sang Lào để tuyển công nhân khai thác mỏ tìm vàng;. Phóng sự “Một tháng với những kẻ tìm vàng” là tác phẩm cuối đời của ông. Vì hành trình gian khó vất vả nơi đất khách quê người, ông lâm bệnh kiết kỵ và mất vào ngày 02/5/1936, gần Tchépone, Lào trên đường đưa ông về quê nhà. Một tuần sau, đám tang của ông được tổ chức tại Hà Nội với những người đưa tiễn “dài hàng cây số”.

2. Sự nghiệp:

Ông có thiện chí muốn xây dựng một nền quốc văn vững chắc cho dân Việt. Cho nên, ông đã nỗ lực đặt hết tâm trí vào công việc biên khảo, trước tác, ký sự, và dịch thuật.

Về Trước Tác, Biên Khảo và Ký Sự:

Ông đã viết những bài luận thuyết và ký sự đăng trên báo chí, có tính chất giáo dục và chính trị, với ước vọng cải thiện lối sống và tập quán hủ lậu của dân Việt, để xây dựng một xã hội công bằng cho dân chúng. Các bài luận thuyết của ông trên báo Đông Dương Tạp Chí như sau:

Xét Tật Mình (Số 6 ĐDTC)
Phận Làm Dân (Số 48, ĐDTC)
Chỉnh Đốn Lại Cách Cai Trị Dân Xã (Số 61, ĐDTC)
Nhời Đàn Bà (Số 5, ĐDTC).
Hương Sơn Hành Trình (Số 41 45, ĐDTC).

Về Dịch Thuật:

* Những tác phẩm chữ Việt được dịch ra Pháp văn như:

Kim Vân Kiều Tân Diễn (Số 18, ĐDTC).
Xích Bích và Hậu Xích Bích (bộ mới số 66 68, ĐDTC).

* Những tác phẩm chữ Pháp được dịch ra Việt Văn như:

  • Văn Luận Thuyết: Luận Lý Học (từ số 15, ĐDTC), Triết Học Yếu Lược (từ số 28, ĐDTC).
  • Văn Ngụ Ngôn: Thơ Ngụ Ngôn của La Fontaine (1915).
  • Văn Truyện Ký:

Truyện Trẻ Con (Contes de Perrault),
Chuyện Các Bậc Danh Nhân Hy Lạp của Plutarque (Les vies parallèles des hommes illustres de la Grèce et de Rome),
Sử Ký Thanh Hoa của Vayrac (Le parfum des humanités).

  • Tiểu Thuyết:

Truyện Gil Blas de Santillane của Lesage
Tục Ca Lệ của Lesage
Truyện Mai Nương Lệ Cốt của Abbé Prévost (Manon Lescaut),
Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Alexandre Dumas (Les Troix Mousquetaires)
Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo (Les miscrables)
Truyện Miếng Da Lừa của Honoré de Balzac (La peau de chagrin)
Đàn Cừu Của Chàng Panurge của Emile Vayrac
Rabelais của Emile Vayrac (Notice sur Rabelais)
Tê-Lê-Mác Phiêu Lưu Ký của Fénélon (Les aventures de Télémaque),
Qui-li-ve Du Ký của J. Swift (Les voyages de Gulliver).

  • Hài Kịch: Tác giả Molière:

Trưởng Giả Học Làm Sang (Le Bourgeois Gentilhomme)
Người Biển Lận (L’avare)
Giả Đạo Đức (Tartuffe)
Bệnh Tưởng (Le Malade Imaginaire).

3. Đánh giá về học giả Nguyễn Văn Vĩnh:

Nếu đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh mà chỉ dừng lại ở việc cụ là thủy tổ của làng báo tiếng Việt, là người có công phát triển chữ quốc ngữ và là nhà dịch thuật xuất sắc thì chưa đầy đủ và thỏa đáng. Điều xứng đáng hơn cũng là đóng góp lớn nhất ở cụ chính là về tư tưởng. Đó là một trong những nhà tư tưởng dân chủ đầu tiên của Việt Nam mang tính khai sáng.

Cụ cũng là người biết dùng văn học và văn hóa để thấm sâu vào lòng người, truyền bá những tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại. Với người chủ soái của nền văn hóa sử dụng chữ quốc ngữ này, tiếc rằng, đã có những giai đoạn lịch sử bị nhìn nhận sai lệch… Với người làm sử chúng tôi, có những điều không phải lúc nào cũng được nói ra, nhưng đã nói ra thì không được nói sai sự thật

GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Sử học VN

Ông là người học rộng, biết nhiều, lại có lịch duyệt, thiệp liệp tư tưởng học thuật của Âu tây, nhưng cũng am hiểu tín ngưỡng phong tục của dân ta, muốn đem những quan niệm phương pháp mới nào hợp thời để truyền bá trong dân chúng, nhưng cũng chịu khó tìm tòi và biểu lộ cái dở, cái xấu cũng như cái hay, cái ý nghĩa của các chế độ, tục lệ xưa của các mối mê tín, dị đoan cũ; vì thế, có người hiểu lầm mà trách ông muốn đem những điều tin nhảm, những cái hủ tục mà tán dương và khôi phục lại (như trong việc in cuốn Niên lịch thông thư trong có biên chép ngày tốt ngày xấu và kê cứu các thuật bói toán, lý số).

Văn ông bình thường giản dị, có tính cách phổ thông, tuy có châm chước theo cú pháp của văn tây mà vẫn giữ được đặc tính của văn ta. Ông lại chịu khó moi móc ra trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những từ ngữ có màu mè để diễn đạt các ý tưởng (cả những ý tưởng mới của Âu tây) thành ra đọc văn dịch của ông tưởng chừng như đọc văn nguyên tác bằng tiếng Nam vậy. Kể về văn dịch tiểu thuyết thì thực ông là người có biệt tài, ít kẻ sánh kịp vậy.

Theo Giáo sư Dương Quảng Hàm, “Việt Nam Văn Học Sử Yếu”

Ông là người có công lớn và đầu tiên trong việc xây dựng nền văn chương Việt nam bằng chữ quốc ngữ. Với thái độ sống và thế đứng trong xã hội, ông thu hút được người đồng thế hệ cùng đem văn tài ra cộng tác với ông trong việc xây dựng nầy. Từ người nhỏ tuổi nhất như Phạm Quỳnh 21 tuổi, Tản Đà 25, đến người nhiều tuổi như Phan Kế Bính 38, Nguyễn Hữu Tiến 39, và người ngang tuổi như Trần Trọng Kim 31, tất cả đều thấy cái thú chơi chữ và thí nghiệm về văn chương, để dần dần vững tâm dám nghĩ đến những công trình biên khảo hay sáng tác lớn.

Trong khi ông sửa soạn người cho bước tiến tương lai như Phạm Quỳnh, Tản Đà, thì bằng các thể văn, các bài viết, ông cũng tạo ra những mẫu mực văn chương cho đời sau học theo, cùng nương theo đấy mà tiến hơn nữa”.

Lê Văn Siêu, “Văn Học Sử Thời Kháng Pháp 1858 1945”

Nguyễn Văn Vĩnh qua cái nhìn hậu thế

Mỗi người có cách yêu nước riêng
Nguyễn Văn Vĩnh, một người Nam mới đầu tiên
Chân dung thật của học giả Nguyễn Văn Vĩnh

Chí tiên phong
Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ

Sự ra đời của chữ Quốc ngữ và cái chết của ông Nguyễn Văn Vĩnh
Nguyễn Văn Vĩnh, người đi tìm giá trị văn hoá

Học giả Nguyễn Văn Vĩnh: Ta tắm ao ta
Về một bài thơ bây giờ mới được biết đến: Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh

Trích đăng tác phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh

Ngẫm nghĩ về thói hư tật xấu của người mình

Tật huyền hồ lý tưởng
Gì cũng cười
Học đòi làm dáng, sùng ngoại quá nặng, …
Mưu lợi trên dân kém cỏi, Tuỳ tiện trong quản lý
Cần mẫn bất đắc dĩ, không thiết gì, trống rỗng
Gì cũng cười, Nói năng lộn xộn, Học hời hợt
Thô tục, vô duyên, luộm thuộm
Học không biết cách, giỏi bắt chước
Thị hiếu tầm thường, Thời gian phí phạm
Quá viển vông, tầm thường hóa, quá tin sách, tín ngưỡng nông
Huyền hồ, than vãn, học để thi
Thủ cựu, ngại thay đổi
Tầm nhìn hạn hẹp, cam chịu, lẫn lộn, kìm hãm nhau
Ma to dỗ nhớnThiếu gạo ăn thừa giấy đốtThói tệ

Luận về văn hoá – xã hội

Phố cổ Hà Nội
Truyện ăn mày
Duy tân
Tiếng An-nam
Hội dịch sách
Chữ Quốc ngữ

Bản dịch ngụ ngôn La-phông-ten

Ngụ ngôn La Fontaine Phần 1

Ngụ ngôn La Fontaine Phần 2

Ngụ ngôn La Fontaine Phần 3

Đông Dương tạp chí (1913-1916)

Vào đầu thế kỷ 20, tờ Đông Dương tạp chí do Schneider sáng lập, tại Hà Nội, với một số văn sĩ, ký giả Việt Nam dưới quyền quản lý chủ bút của Nguyễn Văn Vĩnh. Đông Dương tạp chí là tờ tuần báo xuất bản vào ngày thứ năm. Số đầu tiên ra ngày 15-05-1913, xuất bản được bốn năm, đình bản vào 1916.

Ban biên tập gồm có:

Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh (1882 1936),
Thượng Chi Phạm Quỳnh (1892 1945)
Bưu Văn Phan Kế Bính (1875 1921)
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889 1939)
Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến
Nguyễn Bá Trác
Thân Trọng Huề (1869 1925)
Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố
Nguyễn Đỗ Mục
Lệ Thần Trần Trọng Kim (1882 1953)
Phạm Duy Tốn (1883 1924).

Mục Đích của Đông Dương tạp chí:

1 Chính Trị:

Tuyên truyền chính sách cai trị của người Pháp, vì lợi ích cho đời sống người dân và đất nước Việt Nam và khuyến dụ người dân Việt hợp tác với chính quyền Pháp, không theo nhóm bạo động chống Pháp.

2 Văn Tự:

Tích cực phổ biến cổ động cho chữ quốc ngữ, để mọi giới người Việt nhận thức được sự tiện lợi, và dễ học của một thứ chữ mới. Luyện tập theo lối văn xuôi, gãy gọn, có tính cách bình dị, để xây dựng một nền quốc văn mới, giúp cho việc diễn đạt tư tưởng trong lối phê bình văn học và nghị luận.

3 Học Thuật Tư Tưởng Tây Phương:

Truyền bá giáo dục bách khoa phổ thông về học thuật, tư tưởng, và văn minh tây phương cho mọi người Việt, mà người học không cần phải đi đến trường (bằng cách dịch thuật từ các sách Pháp và Hán văn ra chữ Việt, đồng thời giảng giải về đủ mọi vấn đề trong đời sống xã hội).

Ta có thể nói Đông Dương Tạp Chí là một tờ báo xuất bản trước nhất chuyên về việc dịch thuật Hán văn và Pháp văn, nhằm mục đích nâng cao dân trí. Bộ môn tiểu thuyết thời bấy giờ được nhiều người ưa chuộng hơn những vấn đề có tính cách triết lý, khoa học. Ngoài phần dịch thuật, nhóm Đông Dương với những cây bút giá trị của các học giả đã sáng tác nhiều loạt bài khơi động niềm rung cảm trong quảng đại quần chúng với lối văn bình dị. Nội dung của những bài luận thuyết và ký sự nhằm vào việc giáo dục giới thanh niên nam nữ trên đường tiến hóa, xây dựng một tương lai rực rỡ sau nầy, mà chúng ta có dịp thưởng thức những tài nghệ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn”.

Giáo Sư Trịnh Vân Thanh, tác giả Danh Nhân Từ Điển, 1966

Người Tây học có thể lấy trong đó, (ĐDTC) những tinh hoa của nền cổ học Trung Hoa mà nước ta đã chịu ảnh hưởng lâu đời; người Hán học cũng có thể lấy trong đó những tư tưởng mà người Việt ta cần phải biết rõ mà thâu thái. Những bài bình luận, những bài tham khảo về Đông phương và về Tây phương đăng liên tiếp trong Đông Dương Tạp Chí, ngày nay giở đến, người ta vẫn còn thấy là những bài có thể dựng thành một bộ sách biên tập rất vững vàng và có thể giúp ích cho nền văn học Việt Nam hiện đại và tương lai”.

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, “Nhà Văn Hiện Đại” tập I

Phan Quốc Việt


TS. PHAN QUỐC VIỆT(sinh 1954)
Giảng viên chuyên về kỹ năng lãnh đạo
và kỹ năng cá nhân

– Ông sinh ngày 14-2-1954 tại tỉnh Nghệ An.
– Từ 1971-1977: Cử nhân Địa vật lý (Đại học tổng hợp Lômônôxốp)
– Từ 1971-1988: Chuyên viên, Viện nghiên cứu dầu khí Việt Nam
– Từ 1984-1988: Tiến sĩ toán lý (Đại học tổng hợp Lômônôxốp)
– Từ 1988-1990: Trưởng phòng Tin học, Liên doanh Dầu khí Việt – Xô
– Từ 1990-1993: Trưởng phòng Công nghệ thông tin, Trung tâm thông tin (Tổng công ty Dầu khí Việt Nam)
– Giám đốc Marketing, Công ty FPT
– Phó Tổng biên tập, Tạp chí Tin học và Đời sống
– Năm 1993: Quản trị kinh doanh quốc tế cao cấp (Duke, Mỹ) – 3 tháng
– Năm 1994: Quản trị kinh doanh quốc tế cao cấp (Oxford, Anh) – 3 tháng
– Năm 1996: Quản trị kinh doanh quốc tế cao cấp (VN, Mỹ) – 3 tháng
– Từ 1993-1997: Chánh văn phòng, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
– Chủ tịch Hội đồng quản trị, Liên doanh PetroVietnamTower (Việt Nam – Singapore)
– Từ 1997-1999: Uỷ viên Hội đồng quản
– Từ 1999-2002: Giám đốc Công ty Dầu khí Hà Nội
– Từ 2002 đến nay: Chủ tịch, Tổng Giám đốc Tâm Việt Group

Sở trường hoạt động

– Đào tạo giảng viên (Phương pháp đào tạo người lớn)
– Kỹ năng thuyết trình và Điều hành hội thảo
– Kỹ năng lãnh đạo
– Kỹ năng bán hàng
– Kỹ năng đàm phán
– Quản trị nguồn nhân lực….


Các bài báo, chuyên đề đã xuất bản


Xây dựng Văn hóa doanh nghiệp, Tạp chí Văn hóa Doanh nhân, 02. 2005

Xây dựng văn hoá doanh nghiệp, Diễn đàn năng suất chất lượng lần thứ 9. tháng 9.2004

Thế nào là nhân tài. Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, 8.2004

Đào tạo nhân tài phải mang tầm Quốc gia. VnExpress, ngày 04.8.2004

Gắn văn hoá doanh nghiệp với đời sống người lao động. Thời báo Kinh Tế Việt Nam cuối tuần, 10.01.2004

Có một thời như thế. Báo Sinh viên Việt Nam, 8.2003

Học để lấy kiến thức, không vì bằng cấp. Thời báo Kinh Tế Việt Nam cuối tuần, 07.6.2003

Hướng dẫn Soạn thảo và Quản lý Văn bản của Doanh nghiệp – Nhà xuất bản thống kê. (Đồng tác giả Ts. Lưu Kiếm Thanh). Hà Nội 2002

Phỏng vấn, viết về tác giả

Con đường Doanh nhân – Chân dung TS Phan Quốc Việt (Clip)
Trực tuyến cùng PTT Nguyễn Thiện Nhân về cái cách giáo dục


Bàn về giáo dục Việt Nam

2500 bước nhảy vọt
Chiến binh thời bình
Cảm nghiệm
Sợ và sướng
Đi bằng hai chân- Sân nhà và ra biển lớn
Trực tuyến cùng PTT Nguyễn Thiện Nhân về cái cách giáo dục
6 cấp độ giao tiếp-dịch vụ khách hàng-lãnh đạo
Hôm nay tôi có gì hơn chính tôi
Cho ý kiến nhé-cần làm ngay
Dạy giỏi và làm hay
Nhà trường thân thiện-học sinh tích cực
Tung bóng-QL công việc-Tư duy dịch chuyển
Xuống trường cơ hội và trách nhiệm
Hỏi cũng phải hai chiều
Kỷ lục: TV lên TV 3 lần/ngày
Đã tìm thấy chồng cho mẹ thành công
Hiểu thêm về đào tạo kỹ năng mềm
Ý kiến của thủ tướng chính phủ về ngành giáo dục
Làm xuất sắc cái không tưởng-Giám đốc sản xuất công ty tôi
Hắn cà cuống
Cần lập ngay đội biên tập
Cam kết có một chỗ làm tốt tại nhà
Đổ vỡ – dấu hiệu của tiến bộ
Bắt đầu là thắng lợi được một nửa
Không quá may mà lại rất may
Năm học mới đến rồi làm gì đi chứ
Tại sao trong chương trình học nhà trường nặng về IQ
Tức tối…lý do
Biết ơn…biết ban ơn
Hãi…hãi..hùng quá nhưng sướng…sướng…quá
Tự mãn là tự cản trở-tự cán chết mình
Bình thường thôi…quá bất ngờ
Tư duy dịch chuyển…bình thông nhau
Không biết nơi đến làm sao đi
Càng giỏi càng….
Người đầu tiên bạn phải nhớ
Chấm câu
Ngắt câu
Chịu
4 kỹ năng cơ bản của huấn luyện
Sợ bị dạy
Ý tưởng và tương tác
Cadao tinh thần đồng đội
Thực sự bạn làm việc vì cái gì?
Tích cực-Cố gắng
Bí mật duy nhất của công ty
Bám cũ – rủ mới
Ở lại và ra đi
Hỏi = coi trọng
Nghe giỏi biết lắng nghe
Thời giá
Tâm x Trí x Thân hợp nhất
Quan trọng nhất là tỉ trọng
Kiên trì vẫn chưa đủ để thành công
Sóng não và tư duy hiệu quả
Khách hàng lớn nhất của bạn
Tin vui và tin buồn
Giải oan cho người tốt
Não và người (ăn uống và hoạt động)
Quy trình chung cho những người nghèo chậm tiến
Tiến bộ hay xấu hổ và đau khổ
Từ ý tưởng đến triết lý
Trải nghiệm sung sướng của khách hàng
Bị chê hay là đồ bỏ đi
Nể hắn
Vĩ đại thất bại
Chắc chắn bạn chưa biết 3 điều tuyệt mật về bản thân
Hãy quay ngược sự lãnh đạo
Sợ ngã làm sao tiến bộ
Bí quyết trở thành thủ lĩnh xuất sắc-bạn thực sự muốn nó
Tại sao trẻ con học nhanh hơn người lớn
Hoài bão cao siêu hay tối thiểu
Tại sao phải rèn thói quen tốt
Kỹ năng là lợi thế của sinh viên
Đánh con để giữ gia quy
Hiểu thêm về đào tạo kỹ năng mềm

Nguyễn Văn Trung (1930 – )



GS. Nguyễn Văn Trung (1930-)

– Sinh năm 1930, tại Hà Nam.
– Từ năm 1950 đến năm 1955 du học tại Pháp và Bỉ, ngành Triết học.
– Từ năm 1955 đến năm 1975 dạy đại học tại Sài Gòn và sinh hoạt văn hóa ngoài đại học.
– Từ tháng 4-1975 đến 1994 sống tại Sài Gòn. Chủ trương các tạp chí tại Sài Gòn: Đại Học, Đất Nước, Hành Trình
– Từ 1994 đến nay sống tại thành phố Montréal Canada.

Tác phẩm đã xuất bản

Gồm các tác phẩm biên khảo, nhận định và giáo khoa:

Luận Lý Học
Đạo đức Học
Luận Triết Học
Phương Pháp Làm Luận Triết Học (chương trinh đệ I)
Biện Pháp Giải Thoát Trong Phật Giáo (1958)
Nhận định (6 tập)
Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp ở Việt Nam: Thực Chất Và Huyền Thoại (1963)
Chữ Vần Quốc Ngữ Thời đầu Pháp Thuộc
Chủ đích Nam Phong: Trường Hợp Phạm Quỳnh
Vụ án Truyện Kiều
Lược Khảo Văn Học tập I, II, III, (từ 1963-1968)
Nhà Văn Người Là Ai, Với Ai, (1965)
Văn Chương Và Chính Trị
Triết Học Tổng Quát
Đưa Vào Triết Học
Ca Tụng Thân Xác (1967)
Ngôn Ngữ Và Thân Xác (1968)
Hành Trình Trí Thức Của Karl Marx (1966)
Góp Phần Phê Phán Giáo Dục Đại Học
Danh Từ Triết Học ( cùng với Cao Văn Luận,đào Văn Tập,Trần Văn Tuyên và Linh mục Xuân)
Người Công Giáo Trước Thời đại (viết chung)
Lương Tâm Công Công Và Công Bằng Xã Hội (viết chung)
Câu đố Việt Nam
Trương Vĩnh Ký – Nhà Văn Hóa
Bút Ký (đăng hàng tuần trên các báo Tin Sáng, Dân Chủ Mới, Hoà Bình vv….từ 1970-1975)

Các bản thảo đã hoàn tất trong thời gian 1975 đến 1994:

Thằng Bờm Thằng Cuội
Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian
Ăn Mặc Theo Truyền Thống Việt Nam
Truyện Thầy Lazarô Phiền – của Nguyễn Trọng Quảng, con rể Trương Vĩnh Ký xuất bản năm 1887
Truyện Ngắn đầu Tiên Viết Theo Lối Tây Phương
Hồ Sơ Lục Châu Học Dựa Vào Tài Liệu Văn Học, Sử
Tôn giáo Xuất Bản ở Miền Nam Cuối Thế Kỳ XIX đầu Thế Kỷ XX
Tìm Hiểu Con Người ở Vùng đất Mới
Nhận định 7,8,9 Về Văn Học, Tôn Giáo, Triết Học, đạo Chúa ở Việt Nam

Bản thảo hoàn tất trong thời gian 1994 đến 2004 tại Canada:

Nhận định tập X, Tưởng Niệm Việt Nam Cộng Hòa,
Dịch Kinh Sách đạo Chúa Như Thể Không Phải Dịch
Dịch Thuật Và Lý Luận Dịch Thuật
Nghiên Cứu Việt Nam Liên Bản (intertexte) đưa Tư Tưởng Văn Học Truyền Thống Việt Nam Vào Diễn đàn Tư Tưởng Văn Học Thế Giới (viết cùng nhiều tác giả)

Phạm Công Thiện (1941 – 2011)


Phạm Công Thiện (1941-2011)

Phạm Công Thiện một thiền sư, triết gia và nhà thơ

– Ông sinh tại Mỹ Tho năm 1941.
– Năm 1966-1970, là sáng lập viên và nguyên chủ trương biên tập tạp chí Tư tưởng của Viện Ðại học Vạn Hạnh,
– Nguyên Giám đốc soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa Viện Ðại học Vạn Hạnh từ năm 1966-1968
– Giáo sư Triết học Tây phương Viện Ðại học Toulouse, Pháp

Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Đức, rồi sống lâu dài tại Pháp.

– Năm 1983, ông sang M, định cư ở Los Angeles, giữ chức giáo sư Phật Giáo viện College of Buddhist Studies.

– Từ đó về sau, ông ở Mỹ và tiếp tục viết sách – phần lớn là nghiên cứu về đạo Phật.

– Ngày 8/3/2011, ông qua đời tại thành phố Houston, Texas, M, hưởng thọ 100 tuổi.

Phạm Công Thiện ao ước trở thành một nghệ sĩ lớn, như Rimbaud, trong khi nhiều người cầm bút khác lại ca tụng Phạm Công Thiện như là một triết gia. Tôi thì tôi coi Phạm Công Thiện chủ yếu là một nhà thơ và một nhà tuỳ bút. Nói cách khác, theo tôi, Phạm Công Thiện là một nhà thơ trước khi là một nhà tuỳ bút; là một nhà tuỳ bút trước khi là một nhà văn; là một nhà văn trước khi là một nhà tư tưởng; là một nhà tư tưởng trước khi là một người phá phách và là một người phá phách trước khi là một kẻ lập dị. Suốt mấy chục năm nay, Phạm Công Thiện luôn luôn chịu đựng một sự đánh giá bất công cũng như những sự khen ngợi oan ức khi người ta nhìn ông theo một chiều hướng khác, ngược lại.

Phạm Công Thiện có một cái tài đặc biệt rất hiếm người có là ông có thể làm cho độc giả đọc ông một cách thích thú, say mê và thán phục mặc dù, khi gấp sách lại, người ta hoàn toàn không hiểu là ông nói cái gì cả. Bởi vậy, mặc dù tác phẩm của ông nổi tiếng là khó hiểu, ông vẫn có một lượng độc giả khá lớn, khá trung thành, và đôi khi khá bình dân. Nói như thế cũng có nghĩa là nói thế mạnh đầu tiên và nổi bật nhất của Phạm Công Thiện chính là ở khả năng diễn đạt, hay nói cách khác, ở giọng văn của ông. Đó là một giọng văn có sức hấp dẫn lạ lùng, một giọng văn vừa uyên bác vừa sôi nổi, vừa rất trí tuệ và lại rất giàu chất thơ. (Nguyễn Ngọc Tuấn)

Tác phẩm đã xuất bản

Tiểu Luận Về Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền Tông (1964)
Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ Triết Học (1965)
Ngày Sinh Nhật Của Rắn (1967)
Trời Tháng Tư (1966)
Im Lặng Hố Thẳm (1967)
Hố Thẳm Của Tư Tưởng (1967)
Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực (1967)
Bay Ði Những cơn Mưa Phùn (1970)
Ði Cho Hết Một Ðêm Hoang Vu Trên Mặt Ðất (1988)
Sự Chuyển Ðộng Toàn Diện của Tâm Thức trong Tư Tưởng Phật Giáo (1994)
Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng
Triết Lý Việt Nam Về Sự Vượt Biên (1995)
Làm Thế Nào Ðể Trở Thành Một Bậc Bồ Tát
Sáng Rực Khắp Bốn Phương Trời (1998)
Tinh Tuý Trong Sáng Của Ðạo Lý Phật Giáo (1998)
Trên Tất Cả Ðỉnh Cao Là Im Lặng
Một Ðêm Siêu Hình Với Hàn Mặc Tử
Khai Ngôn Cho Một Câu Hỏi Dễ Hiểu: Triết Học Là Gì?
Ðối Mặt Với 1000 Năm Cô Ðơn của Nietzche.

Dương Quảng Hàm (1898-1946)


DƯƠNG QUẢNG HÀM (1898-1946)

Dương Quảng Hàm (1898-1946), là nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục Việt Nam, người đã dày công biên soạn tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu, được xem là cuốn văn học sử phổ thông đầu tiên bằng chữ quốc ngữ của Việt Nam.

– Dương Quảng Hàm sinh ngày 14/7/1898 tại làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Gia đình ông có truyền thống nho học. Anh cả là Dương Bá Trạc, một trong những người sáng lập Đông Kinh nghĩa thục, trường học cách mạng đầu tiên của Hà Nội.
– Từ nhỏ Dương Quảng Hàm đã sớm bộc lộ tư chất thông minh, đĩnh ngộ. Tuy chuyển sang Tây học sớm, song ông đã kịp tiếp thu một số vốn nho học của cha, anh, cái vốn ban đầu đó chính là nền tảng để sau này ông trở thành một người uyên bác về Hán học.
– Năm 1920, ông tốt nghiệp thủ khoa trường Cao đẳng Sư phạm với tiểu luận “Khổng Tử và học thuyết Khổng Mạnh trong nền giáo dục cũ”.
Thời gian đầu ông dạy sử – địa, tiếng Việt, tiếng Pháp bậc cao đẳng tiểu học.
– Từ năm 1920 đến 1946, ông làm giáo viên trường Bưởi (tức trường trung học bảo hộ, tiền thân của trường Chu Văn An ngày nay).
– Sau thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được bổ nhiệm làm thanh tra Trung học vụ, rồi làm hiệu trưởng của trường Bưởi.
– Trong hơn 20 năm (1920-1945), Dương Quảng Hàm đã làm việc không mệt mỏi, vừa giảng dạy, vừa viết sách giáo khoa văn học và sử học cho nhà trường từ bậc tiểu học đến bậc trung học, vừa bằng tiếng Pháp vừa bằng tiếng Việt. Riêng tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa chính thức dùng làm sách giáo khoa chương trình lớp Đệ Tam (tức là lớp 10) trong nhiều năm liền.
– Cùng với nhiều giáo viên, giáo sư khác, giáo sư Dương Quảng Hàm đã đem hết nhiệt tình, tài đức để góp phần xây dựng một nhà trường cách mạng mới, một nền giáo dục dân chủ mới. Là lớp giáo sư đầu tiên được đào tạo có hệ thống và cũng là lớp người đầu tiên tiếp cận với khoa học giáo dục Pháp, với cách giảng dạy mới, cho nên, ngoài giờ giảng dạy ông còn vận dụng vốn tri thức nho học và tân học đi sâu nghiên cứu kho tàng văn học Việt Nam theo phương pháp khoa học.
– Ông mất khi còn đang tại chức vào tháng 12/1946, tại Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, hưởng dương 48 tuổi.

Quan điểm viết bài

Các tác phẩm đã xuất bản

Việt Nam văn học sử yếu (1941)
Việt Nam thi văn hợp tuyển (1942)
Lectures littéraires sur L’ Indochine (Bài tuyển văn học về Đông Dương, biên soạn cùng với Pujarnicle)
Quốc văn trích diễm (1925)
Tập bài thi bằng sơ học yếu lược (1927, soạn chung với Dương Tự Quán)
Những bài lịch sử Việt Nam (1927)
Văn học Việt Nam (1939)
Việt văn giáo khoa thư (1940)
Lý Văn Phức – tiểu sử và văn chương (viết xong khoảng năm 1945)
Nhiều bài báo tiếng Việt, tiếng Pháp đăng trên các báo Nam Phong, Hữu Thanh, Tri Tân và báo của người Pháp…

Nói về ông ngày hôm nay

Phỏng vấn, viết về tác giả

Các bài viết, bài báo của tác giả