Nguyễn Tất Thịnh (1962 – )

NGUYỄN TẤT THỊNH(1962 – )
Blog: http://www.nguyentatthinh.com/

– Giảng viên Khoa Quản lý nhà nước về Kinh tế – Học viện Hành chính Quốc gia
– Chuyên gia Tư vấn cho nhiều doanh nghiệp về kinh doanh, thị trường, tổ chức, quản lý nội bộ
– Chủ tịch và thành viên HĐQT của một số công ty

Quan điểm sáng tác:

Truyền bá, Reo rắc, Thức tỉnh

Tác phẩm riêng đã xuất bản

Nghề giám đốc, NXB Chính trị quốc gia, 2002
Điều trọng yếu nhất trong sự nghiệp của một giám đốc là quản lý doanh nghiệp – như một con tàu không phải trên sông nhỏ nữa mà là để ra khơi. Con tàu đó phải được tổ chức và vận hành rất nhiều các quá trình và phương diện hoạt động khác nhau như thế nào để tập hợp, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên về con người, thiết bị, dịch vụ xã hội…nhằm đạt được tối đa mục đích hành trình của mình với chi phí thấp nhất, độ an toàn cao nhất với sự tin cậy xã hội lớn nhất….bởi vậy mới có thể tiếp tục hành trình đến các bến cảng khác nhau.

Bởi vậy Giám đốc là một chức danh của tổ chức mang tính nghề nghiệp rất cao.

Cuốn sách này mặc nhiên thừa nhận những đối tượng học viên của nó đã tiếp cận, hoàn tất các chương trình đào tạo mang tính nền tảng, hỗ trợ thuộc chương trình chuẩn hóa của các khoa quản trị kinh doanh tại các trường đại học. Bởi vậy chúng tôi chỉ chú trọng vào các nội dung chuyên sâu của nghề giám đốc mà không nhắc lại các kiến thức liên quan. Đồng thời cách nêu vấn đề và các ý tưởng là trực diện, bám sát vào tinh thần của nền kinh tế thị trường hiện đại, nhưng luôn được chúng tôi để mở, nhằm phát huy khả năng tự phát triển tư duy, chiêm nghiệm của người sử dụng nó theo cách của mình. Chính vì thế việc lược bỏ tất cả các từ ngữ, những ý phụ rườm rà là cần thiết, kèm theo phần trình bày các nội dung dưới dạng viết, chúng tôi đã tóm lược, nâng cấp các ý tưởng dưới dạng slide. Các slide này không chỉ là minh họa mà điều quan trọng chúng tôi đã thiết kế chúng theo quan điểm hệ thống và tương tác giữa các vấn đề. Chúng tôi nhấn mạnh rằng quan điểm khi viết cuốn sách này là: – Viết theo hướng kiến thức mở – Từng nội kiến thức được mô đun hóa- Theo tinh thần của thị trường hiện đại; – Trang bị kiến thức căn bản nhất của nghề giám đốc.

Bàn về văn hóa ứng xử của người Việt Nam, NXB Phụ nữ, 2006
Tôi viết cuốn sách này với cách nhìn xuyên suốt của văn hóa xã hội. Để trở thành gì thì vấn đề cốt lõi là đẳng cấp văn hóa, để hội nhập vấn đề xuyên suốt cũng là văn hóa. Cuối cùng là mong muốn sự phản tỉnh văn hóa, như luống đất đã được lật luống, trồng trên đó cây gì tùy thuộc vào mỗi người. Có nhiều thứ để trồng lắm, nhưng đó phải là những thứ tốt lành nuôi dưỡng chúng ta và thúc đẩy chúng ta phát triển…

Hành trình Nhân Sinh Quan, NXB Thông tin và Truyền thông, 2011
Năng lực phản tỉnh trong hành trình sống của mỗi người là cơ hội thường xuyên nhưng đòi hỏi năng lực tinh thần cao nhất của một con người có trí tuệ và sống tích cực. Khi điều đó là không thể, thì họ đã đánh mất cơ hội cuối cùng để thực trưởng thành Nhân sinh hữu ích của mình..

Tác phẩm sắp ra mắt
Hành trình về Tâm linh bản ngã
Mỗi con người được coi là một tiểu vũ trụ, và cuộc sống của họ luôn là hòa sinh với thế giới bên ngoài. N
iềm tin ở trong ta, sức mạnh ở trong ta, những bí ẩn ở trong ta… chỉ khi nào mỗi chúng ta hiểu được các quy luật của thế giới và hiểu, dẫn dắt được từng điều vi tế trong thể chất và tinh thần của chính mình thì mới có cơ hội hoàn thiện và phát huy được những tiềm năng to lớn mà Thượng Đế đã tạo và đưa vào mỗi chúng ta. Tôi quan niệm CON NGƯỜI là một phần của Thượng Đế!
Hành trình là bản chất của cuộc sống hoàn toàn không phải là cuộc đấu tranh hay chinh phục mà là Hòa sinh, Cộng sinh và Tái sinh.

Nguyễn Tất Thịnh – Luận giải

Nghĩ về thứ văn hóa mà không thể hướng tới văn minh
Định vị và định hướng Giá trị Đời người
Ba làn sóng
Tư duy về sự nghiệp
Những điều “không” để một điều “có”

Đẳng cấp
Kết hợp ba mô hình quản lý

Con người và tính loài
Putin 10 năm quyền lực và chúng ta học được gì?
Bài học Kinh doanh
Trò chuyện giữa nhân và quả

Những câu hỏi cuộc đời
Sức mạnh và lòng Dũng cảm
Sự trưởng thành của Đời người
Cây đời Tâm linh
Cảnh báo xã hội
Lời với chúng ta, khi 5 năm tuổi
Sửa chữa lỗi sai và phát triển Hệ thống
Suy tưởng trong không gian thời gian của chúng ta
Tây Nguyên, những vấn đề trong phát triển kinh tế
Chính trị lương thiện
Đối thoại giữa tiềm thức và siêu thức
Niềm tự hào
Đủ là Thiếu một ít
Những triết lý Tâm Linh
Ba quy luật Trời – Đất – Người
Bao nhiêu… nhưng chỉ một chút thôi
Niềm sống của bạn và của tôi
Nếu hôm nay như là lần cuối
Suy tưởng tiếp cận Tâm Linh
‘Bức thư ngỏ’ gửi đến Bạn Đọc
Chiến tranh – Hệ quả & hệ lụy
Giá trị cốt lõi của Giáo dục Đào tạo
Hình dung về Kinh tế – Khủng hoảng – Quản lý nhà nước và Hành động của Doanh nghiệp
Bí mật về không gian và sự hoàn sinh của con người trong đó
Về sở hữu, vị thế và xã hội hóa
Sống thật, trải nghiệm và bản ngã

Quy tắc (40 / 30 / 20 / 10) hay ( 4 / 3 / 2 / 1 )
Nói thêm về phẩm chất lương thiện
Bàn về hiền tài

Quy tắc (80 / 20) và Quy tắc (40 / 30 / 20 / 10)
Luận giải triết học Đông Tây vào cuộc sống
Các vấn đề kinh tế Vĩ mô, quản lý Nhà nước và hành động của Doanh nghiệp
Cẩm nang tư duy
Bí mật về thời gian và tinh thần tái sinh của con người
Chia sẻ về Hạnh Phúc
Về sự phát triển và cách sống của một Con Người
Hãy một lần thấu hiểu với nỗi nhọc tâm của những người cố gắng sống tốt
Tinh thần sống hoàn nguyên và siêu thoát
Tản văn về ‘Địa Linh, Nhân Kiệt và Phong Thủy’
Cần phát động chương trình quốc gia: Mỗi xã một giá trị tạo ra sản phẩm quốc gia
Suy ngẫm về tình yêu
Suy nghĩ về giàu nghèo và hãy thay đổi mình
Chính Đảng và suy nghĩ của Chúng Ta
Tâm đàm về cái Sự học, Tri thức và Trí thức
Cội nguồn của Sức khỏe và Vẻ đẹp Tuổi đời
Triết lý sống
Hãy thay đổi tính xấu
Tâm Linh…???… Chính là đức tin vậy
Chia sẻ về sự phát triển của một cộng đồng, xã hội, dân tộc
Nghịch lý của sự phát triển
Triết luận ngắn về Dòng sông Cuộc sống
Một thoáng cảm xúc mùa Xuân
Một số qui luật trong hành vi ứng xử
Chính trị của đẳng cấp, của mọi công chúng và của toàn cầu
Đồng dao cho người lớn
Tiếp tục về chống tham nhũng
Sự sống, môi trường, đẳng cấp loài và sự văn minh
Mỗi người, mỗi ngày tạo ra 5 USD để tăng trưởng kinh tế
Kết hợp ba cơ chế đối với trách nhiệm thực thi Công vụ
Thử liệt kê những cách tham nhũng
PR xuyên đời sống vào tâm linh
Bàn về Tâm linh và Tâm thức
PR – Công cụ trong hành trình của bạn vào xã hội văn minh
Suy ngẫm về Tầm Nhìn
Những điều không để một điều có
Tư duy về sự nghiệp
Phiếm bàn về trình độ của mỗi quốc gia
Linh hồn – khả năng giao cảm và tương tác về tinh thần
Các tầng tinh thần
Về việc bẻ hoa lễ hội Tết Dương lịch
Nguyên khí, Dương khí và Âm khí
Tại sao bóng đá lại … hấp dẫn?
Chiến lược ngoại giao của các quốc gia nhỏ yếu
Nguy cơ tụt hậu vĩnh viễn?
Bàn về tăng trưởng kinh tế
Nền ‘kinh tế hành vi’
Những sự hiện diện của ‘Con người với cái ghế ngồi’
Nguy cơ của các doanh nghiệp Việt Nam năm 2009
Ngẫm nhân ngày nhân quyền thế giới
Bình luận qua vụ PCI và nhiều vụ việc kinh tế khác ở Việt Nam
Bàn về sự yếu kém của Hệ thống Luật Pháp như chúng ta đang thấy…
Bàn về tập đoàn
Khi tầm nhìn của Chính Phủ không tốt…
Suy nghĩ nhân hội thảo Michael Porter
Phản ứng tâm lý công chúng & sự điều chỉnh của thị trường chứng khoán
Kinh nghiệm điều hành Chính phủ từ năm qua
Doanh nghiệp nhà nước tăng, doanh nghiệp dân doanh giảm
Lý thuyết trò chơi – áp dụng vào cách của Bạn trong không gian kinh tế
Năng lực cạnh tranh quốc gia và tư duy kinh doanh
Trăn trở về thương hiệu quốc gia
Doanh nhân – người lãnh đạo doanh nghiệp
Cầu tiến hay cầu toàn
Con tàu tổ chức và văn hóa của người lãnh đạo
Khảo cứu văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Năm bậc thang nhu cầu
Thượng Đế và nhân sinh
Tâm linh hiểu theo Ngũ hành và năm quy luật của nó
Cuộc sống đã nói với chúng taLời thề Hippocrates
Nhận dạng con người để xây dựng xã hội
Sấm Truyền và Cảnh Báo
Văn minh Chính trịBổ đề cơ bản – Sự hợp nhất?
Niềm tự hàoĐặt câu hỏi để hiểu thêm một vấn đề
Suy tư về ‘Logic – So sánh’
Dân trí và sức phát triển của một dân tộcNgẫm về Tín ngưỡng người ViệtNguyên lí gây bệnh và chữa trị
Điều gì sẽ xảy raĐi giữa các ‘Cặp Giá trị sống’
Loài người – Chiến tranh & Nỗi niềm
Bản chất kiếp Nhân sinh
Vì sao Thời Gian không bao giờ trở lại?Các Giới trong Xã hội và sự tương tác phát triển
Lại Siêu tưởng về Tạo Hóa
Nguy cơ tụt hậu vĩnh viễn?
Mơ ước của Bạn
Ý tưởng về Trật tự Thế Giới mới
Tại sao Quan Tham lại không thể dừng tham?
Lãnh đạo và quan điểm ‘đặt con người vào trung tâm của mọi quá trình’
Sự nghiệp của Người Giàu
Lòng Tốt và 12 tín điều tôi chứng ngộ
Suy ngẫm về cách làm việc của Putin liên tưởng đến Năng lực lãnh đạo
Năm Quy luật gốc và chứng ngộ Luật Nhân Quả
Quốc Hoa và Giá trị cốt lõi của Quốc Gia
Hiệu ứng ‘Tunisia’ và suy nghĩ về Chính trị
Đánh giá nhanh về sự kiện Ai Cập
Lý giải về Thế Giới Tâm Linh ứng Nhân

Những mẩu chuyện về văn hóa ứng xử

Sự tích ngày Valentine
Ba kẻ đại khôn và đại ngu
Chào mùa thu
Chia sẻ hành trình sống
Chuyện Cô Bé và Sói Mẹ

Chiều nay… (thơ)
Câu chuyện lòng tin
Những thay đổi nhỏ trong cuộc sống như tôi từng thấy
Con đường hoan lộ của Mơn

Những điều giản dị
Thái độ sống
Xã hội nữ tính quá
Những câu chuyện cảm động
Dịch lại bài thơ ‘Đợi Anh Về’
Qua câu chuyện 5 con vật
Người ta đang ngâm mọi thứ để bồi dưỡng
Hậu quả của giàu xổi
Nói chuyện một tí về bọn chuột
Con kiến mà leo cành đa
Đối thoại giữa ông lớn và thảo dân
Ý thức làm chủ
Tụng ca vẻ đẹp cuộc sống
Những suy nghĩ của tôi về tiền và sự giàu có
Đôi lời bàn về Lực – Trí – Tài – Quyền – Thế – Đạo
Người giàu khác trọc phú như thế nào?
Mới đầu giống mèo hơn, cuối cùng không bằng chuột
Cũng là một cách “đi tắt đón đầu”
Người ta nghèo đi có thể là vì tiền
Định mệnh và giá trị của con người
Cái chết thương tâm
Nỗi niềm tự do
Không còn gia đình
Chiến thắng vị kỉ – cái tôi tầm thường
Đố kị – nguy cơ đắm đò
Tinh hoa vỉa hè
Công việc giáo điều
Ý nghĩa của trí thức
Bi hài của triết lý
Dĩ hòa mà bất mãn
Vết sẹo thời bình
Sự tan vỡ từ cách cư xử
Tự đắc, tự kỉ, tự ti, tự mị
Mặt đất và bầu trời
Nỗi niềm quá khứ
Ám ảnh vô hình
Kết cục của những trí khôn
Ngẫm nghĩ về tính cách và số phận của những con chó
Phong cách – chỉ nhìn đã điểm mặt
Cái lưỡi của trí thức
Ngẫm về tín ngưỡng người Việt
Sự bế tắc của giá trị
Tiền bối giúp được hậu bối chăng
Tinh thần giáo dục của phụ huynh
Nhiều người thuộc thế hệ @
Thế giới quan của công chức
Đại ngôn và ảo ảnh
Tâm lý đám đông
Chúng đang hàng ngày hủy hoại
Thợ học mà không sự nghiệp
Trẻ mãi không già
Hình ảnh của sự giàu có
Tâm hồn không yên ổn
Với tiểu nhân thì cái gì cũng thường thôi
Tinh thần đích thực hai biểu hiện của cái danh
Trình độ của văn hóa
Nỗi cô đơn của lòng kiêu hãnh
Tình yêu không vị kỷ Cái tình của người già
Niềm tự hào
Tinh thần của tiền bối
Dân chủ được thực hành như thế nào?
Những ông trạng già
Các ông thèm đấm ngực quá
Tịnh kho lại dân trí đi
Sự biến dạng của các hiệp hội
Sự mất giá của các loại bằng
Người giúp việc ít học
Hậu sinh khả úy
Băng rôn – khẩu hiệu – áp phích hay là dọn nhà cắm hoa
Người ta đã sống thật như thế
Mất quân hàm
Nói với người lớn nhân ngày 01/06
Gái có công xã hội không phụ
Văn hóa hội hè và những giá trị
Thế là anh cũng đi buôn
Cái chết thương tâm
Cái chết của vị phú ông
Nói thêm về muôn sự của người giàu – người nghèo
Xây dựng lòng tin trong kinh doanh
Một số hội chứng tâm lý trong giao tiếp
Xây dựng thái độ làm giàu đúng đắn
Một người thầy giáo trong ký ức của tôi
Bức thư của Abraham Lincoln
Hãy lao động đi
Ăn xin tri thức
Chỉ lạc quan khi có Khả năng lao động cho Tương Lai tươi sáng
Lượm lặt Ý nghĩa trần ai
Tản văn về Đạo ĐứcLịch sử Con đường… Cuộc sống…
Hành trình của Tiền
Hành trình làm lại Cuộc Sống
Hội Đồng Chuột
Tản mạn về Danh, Chuẩn & cái Chất
Đối thoại về sự trả thù
Người đàn ông anh hùng
Người sao Của vậy. Lối sống sao Đời sẽ vậy!Chia sẻ những câu hỏi cơ bản của cá nhân, của xã hội (2)
Tâm giao về sự học và Sự nghiệp lao độngChính khách và nhân cách cuối cùng
Tản mạn về tự trọng
Những tấm lòng thay đổi con người
Mới đầu giống mèo hơn, cuối cùng không bằng chuộtTrao đổi với các Bạn về ‘Chứng chỉ’ & Chất lượng…Chuyện vui Năm Mới
Tâm sự của những Ngọn Nến
Sự thay đổi của những kẻ thảo khấu
Đầu năm chiêm nghiệm hành trình sống
Những câu chuyện Tình Yêu

Nguyễn Trần Bạt (1946 – )


NGUYỄN TRẦN BẠT(sinh 1946)

– Sinh tại Hưng Nguyên, Nghệ An
– Năm 10 tuổi, cùng cha ra Hà Nội sinh sống.
– Trong khoảng thời gian tham gia quân đội, từ 1963 đến 1975, có xuất ngũ theo học trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Tốt nghiệp kỹ sư xây dựng dân dụng (1973), ông tiếp tục phục vụ quân đội cho đến khi giải phóng miền Nam.
– Năm 1976-1984, ông công tác tại Bộ Giao thông Vận tải
– Năm 1985-1988, ông công tác tại Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.
– Ông là cử nhân luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
– Năm 1989, ông thành lập công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ InvestConsult Group và làm Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty cho đến nay.
– Năm 1995, ông tốt nhiệp khoa Luật trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội. Hiện nay, ông là Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ Việt Nam, thành viên của Hội Luật gia Việt nam, Hiệp hội Luật sư Sáng chế Châu Á (APAA) và Hiệp hội Nhãn hàng Quốc tế (INTA).
– Ông Bạt được coi là người đầu tiên xây dựng một công ty Việt Nam tư vấn chuyên nghiệp về đầu tư và kinh doanh ngay sau khi Việt Nam ban hành chính sách “Đổi mới” năm 1987 mở cửa nền kinh tế Việt Nam cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Ông Bạt là tác giả của rất nhiều bài báo, sách và các công trình nghiên cứu tập trung vào nội dung làm thế nào Việt Nam phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá.
– Ông Bạt được nêu danh trong cuốn Barons Who’s Who in Vietnam và Barons Who’s Who in Asia Pacific như một luật sư và nhà tư vấn xuất sắc.

Quan điểm sáng tác

Tôi làm hết sức mình để “giải độc cho thế hệ trẻ”. Tôi cũng là một người cha. Tôi đã nghĩ nhiều để thế hệ trẻ, thế hệ con tôi bước vào cuộc đời với tư cách những người tự do, những người không nhiễm độc, không định kiến, những người có tầm nhìn hình nan quạt chứ không phải cái nhìn trên một đường thẳng. Xét cho cùng, mục tiêu của con người là sống chứ không phải làm việc. Hiện nay ngành giáo dục đang dạy trẻ con sai, làm con cháu chúng ta thi rất giỏi, nhưng làm thì rất kém. Có những người làm rất giỏi, nhưng sống thì tồi.

Còn công việc sắp tới của tôi là thuyết phục các nhà lãnh đạo về những vấn đề sống còn của đất nước. Tôi không phải là người đối lập, nhưng đem những ý kiến của mình thuyết phục người khác thì tôi làm không mệt mỏi.

Tôi yêu cuộc đời một cách chân thật, yêu cả khuyết tật, nhược điểm của nó. Cuộc sống đối với tôi có những khía cạnh khó khăn, khổ sở nhưng cũng có cả những khía cạnh trìu mến, chứa đựng rất nhiều kỷ niệm tinh thần của tôi. Tôi viết sách là để thể hiện tình yêu của tôi đối với cuộc sống, để góp một phần nho nhỏ của tôi vào sự hợp lý hóa đời sống tinh thần của con người và tôi làm việc ấy một cách yên lặng, một cách âm thầm.

Phỏng vấn về tác giả

“Tôi viết sách vì trăn trở với tương lai đất nước” (RFI phỏng vấn)

Nguyễn Trần Bạt: Viết vì sự tiến bộ (Lao động Xã hội)

Tận nhân lực, tri thiên mệnh (Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần)

Chúng ta buộc phải sắc sảo (Báo Doanh nghiệp)

Người xây chiếc cầu cho dòng vốn đầu tư (Hà Nội ngàn năm)

Từ cậu bé bán nước chè dạo đến ông chủ tập đoàn (Tiền Phong Chủ nhật)

Cảm hứng của sự phát triển (Diễn đàn doanh nghiệp)

Trò chuyện với giáo sư John Gillespie (Sách Suy tưởng)

Đam mê quan sát cuộc sống (Tạp chí Doanh nhân)

Ba yếu tố làm nên thành công của doanh nhân

Tranh cãi về học phí sẽ không đi tới đâu! (Tuần Việt Nam)

Văn hóa gia đình (O2TV)

Dù mưa, xin cứ ra đường! (Sinh viên Việt Nam)

Sự hình thành trong im lặng của văn hóa (VTV1)

Khủng hoảng kinh tế thế giới và những nhiệm vụ của năm 2009

Cân đối lợi ích trong khai thác tài nguyên và bảo về môi trường

Tác phẩm đã xuất bản

Văn hoá và Con người, NXB Hội nhà văn, 2005

Cuốn sách là một phần trong những cố gắng nhằm lý giải một số hiện tượng của cuộc sống xuất phát từ những đòi hỏi của chính nó. Ông không có tham vọng to tát mang tính triết học mà chỉ mongnhững nghiên cứu của mình như là kết quả của những suy tưởng khởi nguồn từ những ý niệm lắng lại trong tâm hồn mình, khi cuộc sống đã đi qua nó.
Suy tưởng, NXB Hội nhà văn, 2005

Đây là công trình khá công phu, phản ánh nghiệp suy ngẫm sâu sắc việc đất nước một cách chuyên nghiệp của ông. Ông cũng cho thấy không ngại đụng chạm đến cả những vấn đề nhạy cảm, không ngại đưa ra những chủ kiến, sẵn sàng chịu trách nhiệm về chúng mà không né tránh hoặc phụ hoạ. Nhưng có lẽ điều đáng nói hơn lại ở chỗ ông luôn tìm cách gắn những vấn đề như vậy với tiến trình mở cửa, hội nhập, phát triển để mục tiêu cuối cùng là thịnh vượng của Việt Nam; cố gắng đặt chúng trong những mối tương quan cụ thể nhằm tìm xem yếu tố nào là từ thuận lợi, yếu tố nào tác động tiêu cực trên tiến trình vươn lên của dân tộc.
Cải cách và sự phát triển, NXB Hội nhà văn, 2005

Động cơ thúc đẩy tác giả viết cuốn sách này là để giải quyết bài toán phát triển cho đất nước. Việt Nam không còn con đường nào khác lại buộc phải cải cách, buộc phải hội nhập vào hệ tiêu chuẩn phổ biến toàn cầu về tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá. Cải cách chính là để phát triển.

Cội nguồn cảm hứng, NXB Hội nhà văn, 2008

Cuốn sách là cảm hứng, là suy nghiệm và tiếp nối sự suy nghĩ về khái niệm cao quý nhất của con người, của nhân loại – đó là Tự Do. Tự do chính là khái niệm phát triển, tự do có thêm các ý nghĩa cùng với sự phát triển xã hội loài người. Ngày mai, ngày kia, tự do còn có thêm ý nghĩa gì nữa, chúng ta rất khó đoán định bởi tự do chính là đòi hỏi của con người. Vì thế, chúng ta phải suy nghĩ tiếp, mở rộng khái niệm tự do phù hợp với đòi hỏi của con người trong đời sống phát triển của mình…

Đối thoại với tương lai, (2 tập) NXB Hội nhà văn, 2009
Tác giả không chỉ đối thoại với nhiều người cùng một lúc, nhiều cấp độ đối thoại khác nhau, mà còn trực tiếp đối mặt để làm chứng cho tính chính đáng của những điều ông khẳng định. Trong Đối thoại với tương lai, không có lời đáp nào lại không khêu gợi những câu hỏi khác, mời gọi tham gia cuộc đối thoại mà vấn đề có thể còn được đẩy đi xa hơn; không có câu trả lời nào không ngầm chứa một phần câu hỏi quan trọng và thú vị dành cho chính người đọc? Những đối thoại như vậy khiến cuộc sống này thêm hy vọng. Và nếu phải nói đến nét độc đáo nữa thì đó là, cuốn sách có một sức hấp dẫn mang tính ngoại lệ.
Con người là tinh hoa của nhau, NXB Hội nhà văn, 2015
Nếu chúng ta ấn định rằng có một vài người nào đó trùm bóng lên tất cả dân tộc thì đấy không phải là dân chủ nữa. “Con người là tinh hoa của nhau” là nguyên lý cơ bản của tinh thần dân chủ trong đời sống văn hóa.

Tình thế và Giải pháp, NXB Hội nhà văn, 2015

Tác giả vẫn trung thành với cách trình bày quen thuộc-đối thoại trực tiếp và không né tránh với các đối tượng cụ thể-những vấn đề tác giả trao đổi trong cuốn sách đều nóng bỏng tính thời sự, xoay quanh chủ đề xuyên suốt là vì tiến bộ xã hội… Đó là vấn đề chủ quyền và bảo vệ chủ quyền; đó là vấn đề cải cách thể chế; đó là vấn đề rèn luyện nền dân chủ trong bối cảnh Việt Nam; đó là những vấn đề quan hệ với các cường quốc; đó là vấn đề xây dựng đội ngũ doanh nhân; đó là vấn đề nhà nước pháp quyền; đó là vấn đề chống tham nhũng vv và vv.

Giao lưu với sinh viên, doanh nhân, cán bộ

Lại bàn về những giá trị sống (Giao lưu với sinh viên Khoa Quản lý Đào tạo Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân – Ngày 17/11/2009)

Giao lưu với sinh viên Đại học Luật Hà Nội về Việt Nam gia nhập WTO – Cơ hội và thách thức

Giao lưu với sinh viên Khoa quản lý đào tạo Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

Giao lưu giữa ông Nguyễn Trần Bạt với các nhà lãnh đạo và doanh nhân Nghệ An (phần 1)

Giao lưu giữa ông Nguyễn Trần Bạt với các nhà lãnh đạo và doanh nhân Nghệ An (phần 2)

Tọa đàm giữa ông Nguyễn Trần Bạt và các cán bộ nghiên cứu -Dân chủ, đồng thuận, đoàn kết doanh nhân và trí thức (1)

Tọa đàm giữa ông Nguyễn Trần Bạt và các cán bộ nghiên cứu -Dân chủ, đồng thuận, đoàn kết doanh nhân & trí thức (2)

Văn hóa – Con người

Bàn về “những giá trị sống” (Trả lời phỏng vấn)
Tôi vẫn giữ được sự thưa thầy (Viết vì sự tiến bộ)
Chúng ta chưa có con ngựa văn hóa để cưỡi

Hiện đại hóa lối sống
Sự hình thành trong im lặng của văn hóa
Dù mưa, xin cứ ra đường!
Cơ hội thứ tư – toàn cầu hóa
Những khuyết tật của đời sống hiện đại: Lộng hành
Những khuyết tật của đời sống hiện đại: Bóc lột
Trạng thái bình thường của doanh nhân
Cải cách văn hóa
Cảm giác bất an
Toàn cầu hóa về văn hoá
Không có sự phát triển nào đi trước tự do
Khái niệm và bản chất của văn hóa
Biện chứng của quá khứ
Hạnh phúc
Minh bạch – một tiêu chí văn hóa
Hội nhập những giá trị cá nhân
Không gian tinh thần
Vai trò và khả năng hợp tác trong đời sống hiện đại
Xây dựng nền văn hóa kinh doanh
Doanh nhân dưới lăng kính văn hóa
Xây dựng hệ tiêu chuẩn văn hoá chính trị toàn cầu
Lối sống
Văn hoá và Quá khứ
Văn hoá và Hiện tại
Văn hoá và Tương laiLàm phong phú và trong sáng tiếng Việt

Khoa học – Giáo dục

Cải cách giáo dục Việt Nam
Sự tha hoá của cái Tôi
Phẩm hạnh là giá trị quan trọng nhất của nhân lực
Cải cách giáo dục
Thêm một số suy nghĩ về cải cách giáo dục
Sống chủ động trong thông tin toàn cầu
Tự do sinh ra con người
Con người – Tiền đề của sự phát triển
Toàn cầu hóa và xã hội tri thức
Tự chủ – chìa khóa cất cánh cho giáo dục
Hạnh phúc
Nhận thức thế giới trong thời đại thông tin
Biện chứng của tự do
Từ Hệ tư tưởng đến Hệ giá trị
Toàn Cầu Hoá như một xu thế văn hoá
Về sự suy thoái của khoa học

Chính trị – Xã hội

Ba cấp độ của Dân chủ
Trả lời phỏng vấn Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ về xã hội dân sự
Luật Doanh nghiệp – “con dao sắc ngọt” giải phẫu các tập đoàn kinh tế
Sẽ là nguy cơ nếu quyền lực không được kiểm soát
Tập đoàn nhà nước và cỗ xe kinh tế Việt Nam (Viết vì sự tiến bộ)
Cường quốc và vai trò lãnh đạo thế giới (Viết vì sự tiến bộ)
Hồ Chí Minh – cuộc đời như một thông điệp

Phong cách lãnh đạo độc đáo của Hồ Chí Minh
Việt Nam với chiến lược xây dựng hai nền kinh tế

Sân golf và bài toán yên dân
Khủng hoảng kinh tế thế giới và những nhiệm vụ của năm 2009Báo chí cần làm gì cho nền kinh tế?
Về việc Nhật dừng cấp ODA cho Việt Nam
Những khuyết tật của đời sống hiện đại: Tham nhũng
Địa vị của nền kinh tế Hoa Kỳ và các chính sách kinh tế của tân Tổng thống Obama
Xây dựng Cộng đồng Doanh nhân
Võ Văn Kiệt – Người mang khát vọng lắng nghe
Trách nhiệm của doanh nghiệp phát hành
Tính minh bạch
Toàn cầu hóa chênh lệch giàu nghèo
Đổi mới, cải cách và cách mạng
Những thay đổi trong quan niệm về phát triển
Xây dựng hệ tiêu chuẩn cải cách
Toàn cầu hóa và những thay đổi của thế giới hiện đại
Toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và sự nghèo đói
Thế giới thứ ba và tự do thương mại
Cải cách kinh tế
Xã hội học Tham nhũng
Tham nhũng và tham nhũng tinh thần
Phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam
Những di sản của một cuộc giải phóng nửa vời
Thể chế lạc hậu và căn bệnh thành tích
Bàn về xã hội dân sự
Nhân loại: Tổ chức và rèn luyện các nền dân chủ
Hai chính sách đối ngoại
Phản biện xã hội
Để Việt Nam cất cánh
Thúc đẩy sự thịnh vượng
Con đường dẫn đến sự thịnh vượng
Giá trị chân chính của kinh tế tư nhân
Cảm hứng của sự phát triển
Tư duy địa kinh tế – địa chính trị
Đồng thuận xã hội
Luận bàn về Pháp luật
Tự do – Điểm khởi đầu của mọi sự phát triển
Tự do – Sản phẩm của cải cách hay cách mạng?
Dân chủ và những sắc thái của nó ở phương Đông và phương Tây
Toàn cầu hoá – Cơ hội và thách thức

Vương Trí Nhàn (1942 – )


VƯƠNG TRÍ NHÀN(sinh 1942)

– Sinh năm 1942 tại Hà Nội
– Tốt nghiệp ĐH Sư phạm Vinh (1961-1963) và ĐH Sư phạm Hà Nội (1963-1964)
– Bắt đầu viết phê bình từ năm 1965
– Từ 1968 -1978: Làm phóng viên tại Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội
– Từ 1979-2007: Chuyển sang làm biên tập viên tại NXB Hội Nhà văn
– Năm 2003, Vương Trí Nhàn được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, với tập phê bình Cây bút, đời người
– Từ 2007: về hưu

Quan điểm sáng tác

– Là một tên tuổi quen thuộc trong giới nghiên cứu văn học, gần đây Vương Trí Nhàn được công chúng tìm đọc nhiều hơn bởi những nghiên cứu và phát biểu ở góc độ một nhà nghiên cứu văn hóa. Phải nói rằng, cách tiếp cận văn hóa của ông ngay từ đầu đã dựa hẳn trên những nghiên cứu công phu để bứt khỏi những lối mòn truyền thống và sớm định hình một “phong cách Vương Trí Nhàn” với những chủ kiến sâu sắc, không câu nệ, những nhận định thẳng thắn, có trách nhiệm. Gần 20 năm nay, những kiến thức tự bồi đắp về lịch sử, dân tộc học, xã hội học, kinh tế và thương mại … đã giúp ông kiên trì trên con đường dích dắc, nhiều ngả rẽ, lắm rào chắn của dòng chảy văn hóa đương đại, ngõ hầu tìm kiếm được đâu là chân lý của sự phát triển nhìn từ góc độ văn hóa, nếu có thể nói như vậy. Trên hành trình ấy, Vương Trí Nhàn luôn luôn muốn được chia sẻ phản biện trao đổi. (Doanh nhân Sài Gòn cuối tháng, số 2-2009)

– Con người trong xã hội chúng ta “làm người” như thế nào? Xã hội bây giờ có tình trạng “loạn cương”, phi chuẩn hóa, mỗi chợ một cân, mỗi đồng hồ chỉ một giờ. Trong hoàn cảnh như vậy thì anh nào mạnh mồm, liều lĩnh, anh ta sẽ thắng. Mặt bằng giá trị không còn, con người không còn biết đến sự thiêng liêng. Thậm chí, ngay cả đến thần thánh họ cũng chỉ biết đến cầu lợi, hối lộ. Những niềm tin kiểu đó sao mà chắc chắn được. Có vẻ như dân ta rất thiếu nghiêm chỉnh trong việc làm người. Việc đánh thức lương tâm để mỗi người tự nhận thức và ý thức được sự thiêng liêng của hai chữ “con người”, vì vậy, là vô cùng cần thiết!

Bằng kinh nghiệm và sự nhạy cảm của một người nhiều năm làm văn hóa, tôi tin đã đến lúc chúng ta phải nói thật với nhau: Giống như lạm phát trong kinh tế, văn hóa của chúng ta đang thực sự ở trong tình trạng khủng hoảng/ xuống cấp/ suy thoái. Khi bắt đầu nghĩ như vậy, tôi cũng cảm thấy buồn và muốn tự bác bỏ mà chưa làm nổi. Tôi cầu mong có thêm ý kiến của các bạn, dù là đồng tình với tôi hay phản đối tôi, xin hãy thử trình bày lý lẽ đàng hoàng xem sao!

Xét trên phạm vi toàn xã hội, nhiều bộ phận di sản văn hóa chưa được tìm được phương án khai thác cho hợp lý, bảo quản cho khoa học. Rồi đến một lúc nào đó toàn bộ những di sản hữu hình (như đền chùa, lăng tẩm, sách vở…) , cũng như vô hình (bao gồm thói quen sinh hoạt, buôn bán, những mối quan hệ phức tạp giữa người và người…). Từ từng bộ phận văn hóa đang có, chúng ta phải tìm cách rút đúc cho được tinh thần độc đáo thực sự của văn hóa Việt Nam, để cái gì tốt đẹp thì bảo nhau noi theo, cái gì lỗi thời thì dần dần loại bỏ. Điều này chưa được toàn xã hội, các nhà chuyên môn quan tâm một cách thích đáng.

Hãy thử đặt câu hỏi: chúng ta xuất phát từ đâu để hội nhập thế giới nếu không phải là xuất phát từ thực tế Việt Nam hôm nay? Vậy dù có đi đâu làm gì thì dòng máu Việt Nam vẫn mãi mãi chảy trong huyết quản chúng ta, và những bộ gien bền vững của nền văn hóa dân tộc còn tiếp tục chi phối mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta. Sẽ là vô lý nếu chúng ta tưởng ở đây có thể đánh bài tảng lờ, hoặc kính nhi viễn chi.

Các bạn trẻ cần mang sự nhanh nhạy và những kiến thức mà thời đại cung cấp vận dụng vào việc tìm hiểu gia tài tinh thần của ông cha, là cách rất tốt để mỗi người bồi dưỡng nhân cách của chính mình, và biết đâu lại có những đóng góp mới, tức mang lại cho tình yêu đối với văn hóa dân tộc sẵn có trong mỗi chúng ta một cơ sở khoa học vững chắc.


Tác phẩm đã xuất bản

Sổ tay người viết truyện ngắn (NXB Tác phẩm mới, 1980, tái bản: 1994, 1999)
Một số nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội (kể chuyện đời sống văn học, NXB Hà Nội, 1986)
Bước đầu đến với văn học (NXB Tác phẩm mới, 1986)
Những kiếp hoa dại (NXB Hội Nhà văn, 1993, 1994, 2000)
Buồn vui đời viết (NXB Hội Nhà văn, 1999, 2000)
Cánh bướm và hoa hướng dương (NXB Hải Phòng, 1999, tái bản 2000 với tên “Nghiệp văn”)
Vương Trí Nhàn viết về chân dung các nhà văn dưới nhiều lát cắt khác nhau, bằng những trải nghiệm của mình, theo cách riêng của mình. Tập sách phác hoạ chân dung 39 nhà văn từ cổ điển tới nửa sau thế kỷ XX, vẫn có nét hấp dẫn. Với các nhà văn cổ điển hay các nhà văn qua đời đã lâu mà ông chưa có dịp tiếp xúc, Vương Trí Nhàn dành nhiều công sức khảo cứu, đúc rút những nét riêng. Từ Nguyễn Gia Thiều rực rỡ và khắc khoải, Hồ Xuân Hương ham muốn sống “thật đã đầy, thật trọn vẹn”, Tản Đà tự nhiên, thành thực…đến Phan Khôi hiếu sự, Thế Lữ mở đường táo bạo, Thạch Lam về với cội nguồn từ văn hóa, Hàn Mặc Tử hồn thơ siêu thoát… Nhưng, có lẽ đầy đặn và sinh động hơn cả là những trang viết về những đời văn kéo dài suốt hai nửa thế kỷ: Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Tế Hanh, Thanh Tịnh… và gần với chúng ta hơn: Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… Không chỉ qua tác phẩm mà còn qua chính cuộc đời của họ, Vương Trí Nhàn viết với tất cả những gì đã thâu lượm được từ những lần tiếp xúc, trò chuyện với họ.
Chuyện cũ văn chương (NXB Văn học, 2001)
Tưởng như đã rất quen thuộc nhưng thật ra sinh hoạt văn chương ở Việt Nam thế kỷ XX còn ẩn chứa nhiều thú vị. Cuốn sách có kỳ vọng muốn cùng bạn đọc khám phá thêm những nét mới mẻ trong các giá trị cao đẹp đó. Bắt nguồn từ một công phu nghiên cứu kỹ lưỡng, song các bài viết lại dung dị, nhẹ nhàng, dễ đọc. Với ngòi bút Vương Trí Nhàn, giữ chuyện văn và chuyện đời không bao giờ có sự tách biệt…
Cây bút, đời người (NXB Hội nhà văn, 2002)
Tôi nghĩ ngoài đời có bao nhiêu kiểu người thì trong văn chương có bấy nhiêu kiểu người cầm bút, ở đây cũng có thánh thần và có ma quỷ, và trừ một số tài năng sáng chói, thì phần lớn người cầm bút cũng có cả những chỗ tầm thường lẫn chỗ cao quý. Và điều quan trọng hơn: mỗi con người ở đây là một tư cách, một số phận. Không phải chỉ những tài năng lớn tuổi được lưu lại trong lịch sử mới có một cuộc đời thú vị. Ngay những nhà văn tạm gọi là bình thường thực ra nhìn kỹ cũng có cách phấn đấu riêng, những bi kịch riêng. Có thế bảo những cuộc làm người của họ trong văn chương cũng đáng được ghi chép lại. Trong tập sách này tôi thử tìm cách vẽ phác ra gương mặt một số nhà văn mà tôi có dịp nghiên cứu.
Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam : Từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945 (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005)

Việc tìm hiểu và đánh giá lại văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới trước 1945 có thể tiến hành theo nhiều hướng. Tập sách này chủ yếu tác giả xem xét văn học trong giai đoạn đó như hình ảnh rõ nhất của một cuộc vận động mang ý nghĩa đặc biệt, khi những sách văn chương viết bằng quốc ngữ tự nhào nặn để chín dần theo hướng có thể hội nhập với văn học thế giới và do đó, trở thành một trong những giai đoạn đẹp đẽ nhất trong đời sống tinh thần của dân tộc ta.
Ngoài trời lại có trời (NXB Phụ nữ, 2006)
Những bài phê bình, tiểu luận gợi ra nhiều vấn đề về con người và văn học. Ẩn đằng sau nhiều bài viết về văn học nước ngoài vẫn là những thao thức về đời sống văn học Việt Nam từ những năm 80 đến nay: sự cấp thiết thoát khỏi việc sa lầy vào chủ nghĩa quan liêu, làm sao để văn học trở thành chính mình, thành một tiếng nói trung thực quả cảm, có ích…
Những người làm nghề viết văn (NXB Hội nhà văn, 2006)
Nhân nào quả ấy(NXB Phụ nữ, 2004, 2006 )
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn thật khéo léo khi chọn hình thức phiếm luận để bàn về văn hóa đương thời. Cuốn sách gồm 5 phần: Muôn mặt đời thường, Nếp sống nếp nghĩ, Về di sản và lễ hội, Từ nông thôn tới đô thị, Nỗi niềm người muôn năm cũ chỉ một phần nào nói lên những nỗi ưu tư, trăn trở của một người yêu và gắn bó với nền văn hóa nước nhà. Câu Nhân nào, Quả ấy của người xưa được tác giả khai thác rất đắc. Nó không đơn thuần chỉ là một lời cảnh báo. Nó nhắc ta đọc để nhìn lại mình, nhìn lại hiện tại và nhận lấy trách nhiệm làm chủ nền văn hoá nước nhà…

Có những nhà văn như thế (NXB Hội nhà văn, 2006)
Cuốn sách tập hợp chân dung của 64 nhà văn, từ Carvantes, Rabelais, Hugo, Balzac… qua Hemingway, Fulkner, Brecht đến các cây bút mới đoạt giải thưởng Nobel mấy năm gần đây Naipaul, Jelinek, Heaney…
Đằng sau cách trình bày sinh động, dễ hiểu, người ta vẫn có thể nhận ra một xu thế chung của các bài viết là nỗ lực làm mới các bậc thầy cổ điển bằng cái nhìn hiện đại và phân tích khả năng trở thành cổ điển của những nhà văn còn đang sống và tiếp tục viết.
Tìm hiểu cuộc đời các nhà văn là một trong những phương thức hiệu nghiệm nhất để đến với những tác phẩm muôn màu muôn vẻ đã và đang làm giàu cho kho tàng văn học của nhân loại.

Những chấn thương tâm lý hiện đại(NXB Trẻ, 2009)
Chúng ta đang sống như thế nào?
Tại sao lại có cái tình trạng nhân thế như chúng ta đang thấy?
Ta đã hiện hình ra sao trong sự vận động của thời gian?
Điều gì có thể thay đổi và điều gì sẽ phải chấp nhận mãi?
Khi cảm thấy có một mối liên hệ rõ rệt giữa ngày hôm nay với những thời gian đã qua, cũng là lúc người ta có thể sáng rõ hơn trong việc nhìn nhận chung quanh, có thể hiểu và đỡ bất ngờ hơn trước những diễn biến của đời sống trước mắt.

Khi đặt những cái tưởng như xa nhau bên cạnh nhau, ông dẫn chúng ta tiến sâu vào những quan hệ bên trong giữa chúng. Từ những gì ẩn chìm dễ bị che lấp, ông thường xuyên phát hiện ra những căn nguyên tinh thần bao trùm trong hành động và các mối quan hệ tế nhị giữa người với người.
Qua sự phân tích, ở ông nổi lên thật rõ một khao khát là nhận diện thực chất của các chấn thương tâm lý mà con người hiện đại phải chấp nhận.

Chuyên mục Thói hư tật xấu người Việt (đăng nhiều kỳ trên báo Thể thao Văn hóa)
Chuỗi bài đăng tải hàng tuần xuất hiện bắt đầu bằng việc dẫn lời, trích lục các đoạn viết của các danh nhân xưa. Tôi sẽ còn theo đuổi đề tài này đến cuối đời. Mục đích của tôi là tìm hiểu về quá trình tự nhận thức của người Việt. Tôi cho rằng nó là bước đi tất yếu của mỗi dân tộc trên con đường trở thành chính mình và cũng là con đường đi ra thế giới. Trên phạm vi toàn dân tộc cũng quan trọng mà trong phạm vi từng người cũng rất quan trọng.

Thứ nhất, vấn đề “Thói hư tật xấu” không phải là chuyện nhất thời. Thói hư tật xấu của người Việt bây giờ nó giống y như cũ, chỉ có điều bây giờ nó đậm hơn, nó kỹ hơn và nhiều mặt nạ dối trá hơn. Tôi nghĩ thói hư tật xấu của người Việt không những không thuyên giảm mà có vẻ như còn xuất hiện thêm ngày càng nhiều hơn.

Thứ hai, tôi không đặt vấn đề “thói hư tật xấu” là chuyên lặt vặt. Tôi muốn nghiên cứu sâu sắc hơn là trình độ sống, trình độ “làm người” của người Việt. Chúng ta có một trình độ sống thấp, ở tầm công dân loại 2, loại 3 của thế giới.

Phỏng vấn tác giả

Bàn về lý tưởng của tuổi 20: Hãy nghĩ tới ngày giã từ sư phụ để xuống núi (Sinh viên Việt Nam)

Nâng trình độ sống để thích nghi – phát triển (TuanVietnam)

Cần ý thức về sự thiêng liêng của hai chữ “con người” (Sinh viên Việt Nam)

“Lớp trẻ cần tự hình thành hệ thống giá trị mới” (Vietnamnet)

“Dân tộc Việt là khối tự phát khổng lồ” (Vietnamnet)

“Tôi muốn là liều thuốc kháng sinh!” (Netlife)

Văn hóa chưa tác động tốt tới sự phát triển (Thể thao & Văn hóa cuối tuần)

Biết mình biết người, tỉnh táo đi tới! (Tuổi trẻ)

Tìm về văn hóa để hiểu hôm nay

Thói hư tật xấu người Việt chỉ trong 300 trang, có đủ? (Tiền Phong)

“Để người Việt Nam tự nhận thức…” (Hà Nội Mới)

Làng, phố và “nỗi buồn thương nhân” (Doanh nhân SG cuối tuần)


Muôn mặt đời thường

Nhân nào quả nấy
Nếp sống làng quê giữa lòng phố xá
Sự tha hóa của ngôn từ
Nguy cơ của cuộc sống tạm bợ
Lộn xộn tiếng Việt thời giao lưu văn hóa
Nên hiểu thế nào về tiếng cười Thượng Đế
Quan liêu với quá khứ
Cái vội của người mình
Thêm chất trí tuệ cho tiếng cười
Những lối đoạn trường
Tâm lý tiểu nông
Những chấn thương tâm lý hiện đại
Thích ứng một cách khó khăn
Nghèo khó nghĩa là muốn làm gì thì làm?
Sự thật mới là vẻ đẹp chân chính!
Tôi nghiệp dư, anh nghiệp dư, nó cũng nghiệp dư
Đáng sợ nhất là những cách nghĩ tưởng như rất có lý
Mạnh ai nấy sống… và kiếm sống với bất cứ giá nào!
Khổ vì lắm tiền
Lý do kinh tế và di hại đạo đức
Hội nhập giữa đời thường
Trung Quốc hôm nay: Khi cuộc sống trở thành văn hóa
Đồng tình kiểu ấy chỉ tổ chết dân!
Con người và tư tưởng thời bao cấp
Nối lễ hội vào… trụy lạc
Cái đứng đằng sau luật pháp
Sự chuyển pha mấy nét còn dang dở
Lễ hội và sự lên ngôi của thói vụ lợi

Ngẫm chuyện học
Chất lượng ngay từ hôm nay
Tại sao bố mẹ cho trẻ bỏ học?
Nghĩ lại về chính… sự nghĩ
Nghĩ về việc học
Từ kiến thức đến nhân cách
Bàn thêm về mối quan hệ giữa trí thức và nhân cách
Thừa thầy thiếu thợ
Vì sao người Việt không mê đọc sách?
Nhận diện người đọc hôm nay
Khao khát hiểu biết, tự tin tìm việc khó mà làm
Tại sao trên báo chí lại thưa vắng các bài điểm sách?
Sự nghèo nàn của văn hóa sách ở Việt Nam
Viết về “Sex” để nhanh nổi tiếng?

Ta nhận diện ta

Ta tự nhận diện lại ta
Đọc lại Khổng Tử để hiểu con người hiện đại
Vô cảm và bất lực
Một cách nhìn mới về văn hoá Việt Nam thông qua việc so sánh với văn hoá Nhật Bản
Con người suy thoái?
Nhìn doanh nhân dưới góc độ văn hoá
Văn hóa và hội nhập
Văn hóa và hội nhập
Thất phu hữu trách
Bảy bước tới tha hóa
Có một điểm ở đó phát sinh mọi chuyện
Một đóng góp vào việc nhận dạng con người Việt Nam hôm nay
Cuộc chia tay còn dang dở
Những bước đi đúng hướng cần tiếp tục!

Thói hư tật xấu của người Việt: Trong con mắt các nhà trí thức nửa đầu thế kỷ XX

Sống luôm thuộm, nói thô tục
Ỷ lại, viển vong, tư tưởng gia nô…
Học đòi làm dáng, sùng ngoại quá nặng, …
Dân khí bạc nhược, ra vẻ ái quốc…
Tham giàu cho mau, cạnh tranh tầm thường
Nhắm mắt bắt chước, ngại thay đổi, đổ tại trời
Ăn xổi ở thì, trí tuệ tầm thường
Dễ thỏa mãn, tầm nhìn hẹp, không giữ tín…
Thị hiếu tầm thường, Thời gian phí phạm
Ích kỷ, khôn vặt, vụng nói chuyện, học để kiếm gạo, …
Học dở, dốt thông, vội vã bắt chước
Tùy tiện giao tiếp, thạo sử người, chẳng học ai cả
Không có can đảm, chưa thoát khỏi tư cách học trò
Thật như dối, Hợm hĩnh, Voi nan
Co mình trong hủ lậu, Văn nặng về đùa giỡn, Lười và hay nói hão
Trọng mê tín- xem nhẹ trách nhiệm, ham hội hè, “thần mãn”
Mê muội hưởng lạc, Lười nhác, ốm yếu, Tệ nạn
Không ham phiêu lưu, thêm bớt tùy tiện…
Học không biết cách, giỏi bắt chước
Cam chịu bất công, thù ghét thay đổi
Mưu lợi trên dân kém cỏi, Tuỳ tiện trong quản lý
Mong yên lành, hóa ra bảo thủ; Không hình thành dư luận sáng suốt
Nặng óc hư danh, Sống không lý tưởng
Ai mạnh thì theo; Biếng nhác, vô cảm
Thói tục di truyền, ỷ lại
Suy đồi, Nghi ngờ – Hại nhau, Cách chống tiêu cực
Tầm thường, Phù phiếm, Hiếu danh
Quan lớn như hạ lưu, Ảo tưởng thoái hóa, trì trệ bất lực
Hủ bại tầm thường, bóc lột thay quản lý
Giả dối, khao vong nặng nề
Bán quẩn buôn quanh, bôi bác giả dối
Cần mẫn bất đắc dĩ, không thiết gì, trống rỗng
Quan không có chuyên môn, hư hỏng cả hệ
Dân sợ quan, việc quan hỗn hào lẫn lộn
Nông nổi, hời hợt, tín ngưỡng xen hoài nghi
Thô tục, vô duyên, luộm thuộm
Tự giam hãm, kéo bè cánh, kiếm chác
Cường hào gian giảo, cẩu thả, khó cai trị
Nhiều mâu thuẫn, phá hoại, thiếu khiêm nhường
Thiên về sầu não, kẻ yếu
Giáo dục, đào tạo nhiều yếu kém
Học bề ngoài, khách sáo
Tang ma xa xỉ, hủ bại
Giỏi diễn trò, đạo đức giả
Không thật bụng, không hết lòng
Quen lêu lổng, ăn chơi, cờ bạc
Thiếu tận tâm, tôn trọng, chờ may rủi
Gì cũng cười, Nói năng lộn xộn, Học hời hợt
Thiếu tri thức, học vụ lợi, dễ tầm thường
Tầm nhìn hạn hẹp, cam chịu, lẫn lộn, kìm hãm nhau
Văn hóa vay mượn, thiếu tự tin, nói láo, thích ăn nhậu
Nhiều thói xấu, tin nhảm, giới hạn yêu thương
Lãng phí, mất gốc, học đòi
Huyền hồ, than vãn, học để thi
Tha hóa tự nhiên, đáng chê cười
Thủ cựu, ngại thay đổi
Hư danh, kém hợp quần, không hiệp tác, hư hỏng
Quá viển vông, tầm thường hóa, quá tin sách, tín ngưỡng nông
Bệnh thành tích, ỷ lại, thích bắt chước
Phù phiếm, sợ mang tiếng, nói liều làm ẩu, mưu danh bằng hạ nhục
Tính toán thiển cận, mê tín gây lãng phí, không chuyên nhất, dễ dãi tiếp nhận
Một nền văn chương bấp bênh, thiếu tư tưởng, nhu nhược, phô trương
Không biết học hỏi, bỏ không biết cách, hiếu kỳ, tinh vặt
Một quan niệm đơn sơ về thế giới
Khéo tay mà trí không khôn, thiếu tinh thần cầu học
Gánh nặng đông dân, lỗi giáo dục, kiêu ngạo hão huyền
Trống rỗng, dễ dãi, chê bai bừa, thô lỗ
Tốt lẫn xấu, nặng về gia tộc, học đòi quên chuyện lớn, buôn không thành nghề
Tình trạng dung tục ở các Lễ Hội

Đỗ Kiên Cường (1957 – )


ĐỖ KIÊN CƯỜNG(sinh 1957)

– Đại tá, tiến sĩ Đỗ Kiên Cường sinh năm 1957 tại xã Nhân Chính, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
– Năm 1974-1978, ông theo học ngành vật lý lý thuyết tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội khóa 19.
– Tháng 12-1978, sau khi ra trường, ông gia nhập quân đội.
– Từ 1979-1989, ông là giảng viên Bộ môn Vật lý Lý sinh, Học viện Quân y.
– Từ 1990, ông nghiên cứu ứng dụng vật lý trong sinh học và y học tại Trung tâm Vật lý Y Sinh học, Viện Kỹ thuật Quân sự 2 (nay mang tên Phân viện Vật lý Y Sinh học thuộc Viện Khoa học Công nghệ Quân sự, Bộ Quốc phòng).
– Ông xin nghỉ hưu sớm để tập trung viết sách và giảng dạy tại Bộ môn Vật lý, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh

– Do đặc trưng chuyên môn và sở thích cá nhân, ông quan tâm tới mối quan hệ giữa khoa học và nghệ thuật (với quan niệm: khoa học tìm sự thống nhất trong sự đa dạng, nghệ thuật tìm sự đa dạng trong sự thống nhất), giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đặc biệt giữa khoa học vật lý và khoa học sự sống (life sciences). Và đó là lí do ông quan tâm tới các hiện tượng dị thường (the paranormal) trên quan điểm vật lý sinh học và vật lý y học.

Quan điểm viết bài


– Là một nhà nghiên cứu khoa học, anh xứng đáng là một Người chiến binh cần mẫn của khoa học thực nghiệm chân chính. Bằng tấm khiên vàng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chiến binh Đỗ Kiên Cường đã lần lượt “càn quét” sạch những sự mù mờ, sự lừa mị do những kẻ mạo danh ngoại cảm gây ra. (Vietimes)

– Các hiện tượng dị thường đã và đang xảy ra trong hiện thực khác quan. Vấn đề là ở chỗ nhìn nhận, lý giải hiện tượng này dưới lăng kính khoa học hay gán ghép nó cho lực lượng huyền bí. Theo tôi, hiện nay có 4 quan điểm đánh giá các hiện tượng dị thường như sau:

1. Không thừa nhận hiện tượng vì thấy chúng dườngnhư trái ngược với nền tảng, thành tựu khoa học. Họ cho rằng đó là những điều đồn thổi vô lý, không xảy ra khách quan.

2. Thừa nhận có hiện tượng xảy ra này nhưng gắn chúng với niềm tin duy tâm như linh hồn bất tử, sự sống sau cái chết, luân hồi, ma quỷ hay thần thánh… Điều này khôi phục trào lưu mê tín quá quen thuộc với loài người từ thuở hồng hoang.

3. Xem khoa học hiện hành không có khả năng giải thích – việc chia tách vật chất với tinh thần, hồn với xác là sai lầm. Để giải thích được nên tìm kiếm các lý thuyết mới như trường sinh học, năng lượng hay thông tin sinh học, nhân điện, lý thuyết lượng tử của tương tác vật chất – tinh thần, lý thuyết các thế giới song song… Họ thoát ly khỏi các kiến thức khoa học hiện đại – những khám phá mới về bộ não và ý thức, các khoa học về tâm trí, có khuynh hướng tư biện và siêu hình.

4. Cố gắng giải thích chúng bằng các quan điểm hiện đại của khoa học, từ các khoa học tự nhiên, cho tới các khoa học xã hội và nhân văn. Chẳng hạn giải thích tương tác giữa cơ thể với môi trường hay giữa các cơ thể bằng điện từ trường sinh học; giải thích khả năng bắt các tín hiệu nhỏ yếu từ xa bằng ngưng tụ sinh học và hệ xử lý tiềm thức; giải thích các khía cạnh của xuất hồn, cận kề cái chết, luân hồi bằng bản chất và đặc tính của vô thức; giải thích niềm tin vào các loại tiên tri bằng ước vọng quy hoạch tương lai; giải thích sự bộc phát các trào lưu mê tín mới bằng niềm tin vào sự huyền bí – một nét nhân cách được di truyền từ thời thượng cổ… Tuy nhiên, nó cũng chỉ là mô hình giản lược, “đơn giản hóa” cái phức tạp nhất tự nhiên là thế giới bên trong của tâm hồn con người.

Tôi cho rằng cần giải thích dựa trên quan điểm thứ 4 là có quan điểm vật lý hiện đại về bản chất của sự sống. Theo đó trong cơ thể có 2 kênh truyền tin có bản chất điện từ: kênh hữu tuyến qua xung thần kinh và các dòng điện sinh học; kênh vô tuyến nhờ sóng điện từ. Khả năng bức xạ photon của cơ thể, cường độ cỡ 10-1000 photon/ giây/ m2. Tại thời điểm chết tăng đến 1000 lần. Trường điện từ khi đó mang một số thông tin về sinh hệ và lan truyền trong không gian, thời gian. Bức xạ ấy về nguyên tắc có thể tồn tại vĩnh hằng do chuyển động ánh sáng, có thể lưu giữ được trong cấu trúc nước và gọi là bức xạ tàn dư mà về sau có thể có sinh vật, người có khả năng đặc biệt đọc được thông tin chứa bức xạ tàn dư ấy…

Các sách đã xuất bản

Lý giải các hiện tượng dị thường: khoa học tâm linh, NXB Trẻ, 2000

Dư luận rất quan tâm tới một số hiện tượng dị thường như gọi vong hay tìm mộ bằng ngoại cảm. Sự hào hứng đại chúng dường như trái ngược với những quan điểm triết học duy vật biện chứng và khoa học hiện đại. Cuốn sách đưa ra một cái nhìn khách quan đối với chủ đề thú vị và đầy tranh cãi này… Từ tâm linh của tác giác không theo nghĩa tôn giáo – triết học là sự tồn tại sau cái chết mà là bao gồm những hiện tượng dị thường liên quan tới kinh nghiệm: thần giao cách cảm, tiên tri, hậu tri, thấu thị hay thấu thính, ngoại cảm, viễn di sinh học, cận kề cái chết, xuất hồn hay thoát xác, luân hồi, giao tiếp với người chết…

Lý giải các hiện tượng dị thường, NXB Trẻ, 2000

Thuật ngữ dị thường bao hàm một nội dung phong phú, từ những hiện tượng siêu nhiên trong các chủ đề tôn giáo cho đến những lý thuyết mang tính cách mạng trong khoa học mà lúc đầu ít người thấu hiểu nên cho đó là dị thường.

Trong cuốn sách này tác giả chỉ giới hạn khái niệm trong một số hiện tượng lạ chưa có lời giải thích thoả đáng bằng khoa học như hiện tượng thần giao cách cảm, thấu thị, tiên tri, viễn di sinh học, nói chuyện với người chết, luân hồi, xuất hồn, ma nhập, cầu hồn, đĩa bay, giấc mơ… Tất cả những hiện tượng trên – dù dị thường – đều là những hiện tượng đã và đang xảy ra trong hiện thực khách quan. Vấn đề là ở chỗ nhìn nhận, lý giải hiện tượng dưới lăng kính khoa học hay gán ghép cho nó lực lượng huyền bí…

Trong cuộc sống có nhiều hiện tượng xảy ra mà chúng ta không lý giải được, đôi khi cho rằng điều đó có thật. Tác giả muốn chia sẻ cùng bạn đọc những thắc mắc ấy.

Hiện tượng tâm linh, NXB Trẻ, 2001

Hiện Tượng Tâm Linh sẽ thông tin đến bạn đọc những tri thức khoa học mới mẻ, chuẩn xác đáng tin cậy từ nhiều nguồn tư liệu phong phú về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về hai lĩnh vực quan trọng và hấp dẫn nhất hiện nay, đó là: vũ trụ học và bản chất của tâm trí. Đây là hai lĩnh vực cực kỳ phức tạp, tế nhị, còn nhiều khuất khúc và tranh cãi.
Tập sách là những luận giải triết học một cách khoa học đồng thời là những luận giải khoa học có tính triết học. Ở một mức độ vừa có tính phổ cập vừa có tính nâng cao, tập sách rất có ích cho giới học sinh, sinh viên và cả những người trí thức nữa.
Một mục tiêu quan trọng mà tập sách tập trung giải quyết là tác giả muốn lý giải bằng khoa học, một cách khoa học các “hiện tượng dị thường” trong cuộc sống đang gây thắc mắc và phân vân ở nhiều người, thậm chí gây ra những luồng dư luận mang hơi hướng của một thứ “mê tín dị đoan” mới. Đó không phải là một việc dễ dàng, nếu thấy rằng sự lưu truyền về cái gọi là “đời sống tâm linh”, “thế giới tâm linh”… có những nguyên nhân văn hóa và xã hội rất sâu xa, tế nhị. Các lý giải của tác giả tuy chưa thuyết phục được tất cả, song nhất định được nhiều người tán đồng, ít nhất là trên phương hướng và nguyên lý…

Tâm Linh Dưới Góc Nhìn Khoa Học, NXB Thanh Niên, 2002

Nếu như bạn gặp một người không quen biết trên đường và người đó đã cung cấp cho bạn những thông tin đã và sắp xảy ra trong cuộc sống của bạn. Khi đó bạn có tin vào những lời phán đó không? Bạn có cho rằng bói toán có độ chính xác cao hay không? Và theo bạn thì tại sao chúng ta lại mê bói toán đến như vậy, cho dù đang sống giữa thời kỳ phát triển rực rỡ chưa từng thấy của khoa học? Những câu hỏi tương tự như vậy sẽ được giải đáp trong cuốn sách.

Huyền Thoại Và Sự Thật ( Lý giải các Hiện tượng Dị thường), NXB Trẻ, 2006
Cuốn sách đưa ra bức tranh tương đối đa chiều về các đối tượng khảo sát, qua đó giúp bạn đọc có thêm thông tin để lựa chọn, chứ không áp đặt quan niệm riêng.Nói cách khác, bộ Lý giải hiện tượng dị thường nói chung, quyển huyền thoại và sự thật nói riêng là lời mời gọi thảo luận hoàn toàn dân chủ.

Phỏng vấn, viết về tác giả

Đỗ Kiên Cường: Chiến binh “quét sạch” ngoại cảm giả danh! (Vietimes)

Hiện tượng tâm lý, dị thường

Hiện tượng siêu nhiên – Lạ mà không lạ! (Vietbao)
Hiện tượng ma nhập trong mắt nhà khoa học (Vnexpress)
Giải mã các hiện tượng dị thường: loạt bài viết đăng trên báo Thể thao Văn hóa
Tổng kết loạt bài giải mã các hiện tượng dị thường: Cần một cái nhìn khoa học tỉnh táo và khách quan
Tâm linh và Mê tín

Lịch sử tự nhiên, nhận thức

Một số vấn đề triết lý của vật lý hiện đại
Bí ẩn bộ não và tâm trí
Lịch sử vũ trụ và thuyết vụ nổ lớn
Nguồn gốc và tiến hoá vũ trụ
Hợp trội luận và Quy giản luận: đối lập và song hành
Đọc “Địa đàng ở phương Đông” và “Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc”: Oppenheimer và Chu thực sự nói gì?
Các xu hướng thống nhất trong vật lý học
Một số vấn đề triết lý hiện đại
Giới hạn của nhận thức
Di truyền học và cuộc tranh luận về nguồn gốc loài người
Cái nôi loài người nằm ở đâu?
Vượn biến thành người như thế nào?
Tiến hóa của tiến hóa
Giải mã những bí ẩn của thời gian

Văn hóa, văn minh

Thêm một lần bàn về văn hóa và văn minh
Khoa học như một động lực thúc đẩy văn minh
Tri thức có thúc đẩy quá trình tiến hóa hay không?
Sau hoàng hôn là bình minh
Ẩn ngữ nghệ thuật thời tiền sử
Tại sao phương Đông đi trước về sau?
Vị nhân sinh đúng hay sai?
Tại sao đàn ông dễ ngoại tình?
Tại sao Freud gây nhiều tranh cãi?
Tôi chọn cả Thượng đế và khoa học
Về một số bất cập trong giáo dục

Ngô Tự Lập (1962 – )

NGÔ TỰ LẬP(Sinh năm 1962)

– Sinh tại Hà Nội năm 1962
– Năm 1980-1986 tốt nghiệp Đại học hàng hải, Baku, Liên Xô, thuyền trưởng tàu đổ bộ (lữ 125 Hải quân)
Năm 1990 chuyển về Toà án Quân sự Trung ương và đi học chuyên tu Đại học luật.
– Biên tập viên văn học nhà xuất bản Quân đội Nhân dân (1993 – 1998), và nhà xuất bản Hà Nội (1998-2000)
– Thạc sĩ (DEA) tại École Normale Supérieure de Fontenay/St. Cloud (Pháp), 1996 và Tiến sĩ (PhD) tại Illinois State University (Hoa Kỳ, 2006).
– Bắt đầu sáng tác năm 1989, ông làm thơ, viết truyện ngắn và tiểu luận, dịch tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Anh. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam và Hội nhà văn Hà Nội
– Hiện ông đang công tác tại Khoa Quốc tế – Đại học Quốc Gia Hà Nội. Ông dạy Lý luận và Phê bình Điện ảnh, Lý luận Văn học và Social and Business Communication (Tiếng Anh)
– Ông nhận nhiều giải thưởng: giải “Tác phẩm tuổi xanh” của báo Tiền Phong (1991), giải “Hoa Phượng Đỏ” của HVHNT Hải Phòng (1992), giải sáng tác về “Biển và Hải Quân” của Bộ tư lệnh Hải quân (1990), giải thưởng sáng tác văn học của NXB Hà Nội (1993), giải thưởng truyện ngắn hay 2003 của báo “Người Lao Động TP Hồ Chí Minh” (2003), giải thưởng cuộc thi tiểu luận “Về trí thức và phát triển” của tạp chí Khoa Học và Tổ Quốc (2003), Giải “Bông Hồng Vàng” về truyện ngắn của Hội Tấm Lòng Vàng (1994), Tặng thưởng về dịch thuật văn học của tạp chí “Văn Nghệ Quân Đội”(1990)

Quan điểm sáng tác:

Truyền bá, Reo rắc, Thức tỉnh


Tác phẩm riêng

Thơ

Thế giới và tôi, song ngữ (Việt Pháp), Văn Hóa, Hà Nội, 1997, tái bản 2000, A l’index (Pháp) 2001.
Chuyến bay đêm tháng sáu, Văn hóa, Hà Nội, 2000.

Tặng người nhóm lửa, tập thơ, in chung với Ngô Minh Thủy, NXB Văn Hóa, 1991

Truyện

Vĩnh biệt đảo hoang, tập truyện ngắn, Văn Hóa, Hà Nội, 1991

Tháng có 15 ngày, truyện ngắn, NXB Hà Nội, Hà Nội, 1993 tái bản 1994

Mùa đại bàng, truyện ngắn, Công An Nhân Dân, Hà Nội, 1995

Mộng du và những truyện khác, tuyển tập, Văn Học, Hà Nội, 1997, 1998 và 2001, 2008

Giấc ngủ kỳ lạ của ông Lương Tử Ban, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005

Tiểu luận/Nghiên cứu

Ma trong văn học kỳ ảo phương Đông và phương Tây, luận văn thạc sĩ, (École Normale Supérieure de Fontenay/St. Cloud), Paris, 1996

Những đường bay của mê lộ, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2003

Minh triết của giới hạn, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005

Hàn thử biểu tâm hồn, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2008

Văn chương như là quá trình dụng điển, Chuyên luận, Tri Thức, Hà Nội, 2008

Gương mặt kẻ khác, Phụ nữ, Hà Nội, 2008

Tác phẩm dịch:

Xứ sở của nước và thạch sùng, thơ của Jean-Michel Maulpoix (Pháp), NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1999

Chiếc bát mang hình thế giới, trường ca của Werner Lambersy (Bỉ), NXB Văn Học, 2001

Con Bù Nhìn, tiểu thuyết, Kolesnikov (Nga), NXB Kim Đồng, 1997


Vài nét về các tác phẩm

Truyện, thơ và tiểu luận của ông được dịch và xuất bản tại Hoa Kỳ, Bỉ, Pháp, Ấn Độ, Thụy Điển, Canada, Thái Lan:

Các tập: “Femmes des années soixante I et II” (Les Arêtes éditions, La Rochelle, 2008), “L’Univers et Moi” (A l’index, Montivilliers, 2001)
Các tạp chí “Brèves” (Villelongue d’Aude), “Midi” (Paris), “Liaison” (Bruxelles), “Riveneuve” (Marseille), “Vespertine Press” (California), “Mantis” (California), “Salamander” (Boston), “Witness” (Las Vegas), “Pleiades” (Missouri). “Faultline” (California), “Connecticut Review” (Connecticut), “Prairie Schooner” (Nebraska), “Les carnets du Vietnam” (Lyon)…
Truyện của Ngô Tự Lập được chọn vào các hợp tuyển như “Legend of the Phoenix” (National Book Trust, New Dehli, India, 1997); “The Other Side of Heaven – an Anthology of American and Vietnamese Post-war fiction” (Curbstone Press, USA, 1995); “Au rez de chaussée du paradis”(Philippe Picquier, Mas de Vert, Arles, France), “Vietnam berättar: Eldsommar, juliregn” (Tranan, Sweden).
Tham luận của Ngô Tự Lập tại Hội nghị cấp bộ trưởng Cộng đồng Pháp Ngữ về văn hóa có thể tìm thấy trong tập “Diversité culturelle et mondialisation” (Édition Autrement, Collection Mutations , Canada, 2004)
Cẩm nang Văn học Pháp ngữ (Littérature Francophone, Hatier-AUF, ISBN 2-218-72510-X) có một mục riêng về thơ Ngô Tự Lập.
Ngô Tự Lập, với bài viết “Kế hoạch 500 cuốn sách” và hoạt động thực tiễn (Ông là một trong những người đồng sáng lập Nhà xuất bản Tri Thức, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và trang Sachhay.com), cũng là một trong những trí thức khởi xướng phong trào dịch thuật và truyền bá tinh hoa trí tuệ nhân loại vào Việt Nam.



Phỏng vấn, viết về tác giả

Gặp người “xây” tủ sách cho trí thức Việt Nam

Đừng để bị “ nhân bản vô tính” về tư duy (Sinh viên Việt Nam)

“Dịch sách: Đường ngắn nhất để cập nhật tri thức nhân loại” (TuanVietnam)

TS. Ngô Tự Lập và tinh thần “Đông Kinh Nghĩa thục” (Quân đội nhân dân)

Ngô Tự Lập nặng lòng với lối thơ duy lý (Vnexpress)

Ngô Tự Lập và vẻ đẹp hiphop của Hà Nội (Giáo dục và Thời đại)

Phê bình văn học, thơ ca

Văn chương như là quá trình dụng điển (Lý luận văn học), NXB Tri thức
Lý luận văn học: Từ những hệ quy chiếu bất bình đẳng đến một cách tiếp cận tổng thể (Viet-studies)
Thời gian không chết, chỉ có khoa học dễ bị “bức tử” mà thôi!
Dịch thuật – bao nhiêu là… đủ? (SachDongTay)
‘Я вас любил’ – ‘Tôi yêu em’, bài thơ không hình ảnh
Thi ca như là hàng hoá và dịch vụ
‘Tôi’ như là kẻ mang thông điệp: Cơ sở cho một hệ biến hóa văn bản tự sự
Thơ hay là cái chết của thời gian
Trong những đường hầm của thi ca
Vương miện của thơ là một ảo giác
Văn chương như là quá trình dụng điển
Kế hoạch 500 cuốn sách
Chùm thơ của Ngô Tự Lập
Ai là cha đẻ thực sự của thơ Bút Tre (Viet-studies)

Tiểu luận về văn hóa – xã hội, giáo dục

Ngô Tự Lập và “Hàn thử biểu tâm hồn”
Sách bestseller như là hàn thử biểu tâm hồn (blog)

Chuyến bay của chiếc gạt tàn
Quyền lực và văn hoá: Một màu bốn lợi ích cho Hà Nội
Nguồn gốc của đạo văn (Viet-studies)
Đọc John Dewey, Dân chủ và giáo dục (SachHay)
Lược sử giáo dục đại học và những vấn đề của trường đại học đương đại
Những bài học London
Những chuyện ngược đời trong nền giáo dục Mỹ
Trường Đại học duy lý và ý tưởng tự trị Đại học
Toàn cầu hoá và chuyện thịnh suy của môn văn học
Tôn giáo và tự do tôn giáo ở Hoa Kỳ
Khủng hoảng giáo dục, đáng mừng hơn lo!
Những bộ mặt của tham nhũng
Giáo dục, trí thức và nửa đường còn lại
Vì sao môn văn trong nhà trường không hấp dẫn?
Bản sắc văn hoá – tính tương đối của sự đa dạng
Dịch thuật và vấn đề cải cách giáo dục
Giới thiệu sách: Minh triết của giới hạn
Trí thức và nửa trí thức: Đến cả sự nhợt nhạt cũng giống nhau đáng sợ
Gõ cửa nền kinh tế duy tâm (Viet-studies)
Thời gian (dịch thuật từ tiếng Pháp)
Nhìn ta trong gương mặt kẻ khác
Bản chất tương tác xã hội của giá trị
Cuối cùng Weber đã tới!

Nguyễn Ngọc Bích (1945 – )

NGUYỄN NGỌC BÍCH (sinh năm 1945 )

– Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, tốt nghiệp cử nhân Trường Luật Sài Gòn năm 1972 và thạc sĩ luật Trường Đại học Luật Harvard. Ông làm nghề luật từ 1974 cho đến nay; chuyên về công ty, luật kinh doanh và thương mại. Hiện nay, ông làm việc tại Văn phòng luật D.C Law tại Tp. HCM.

Ông là một luật sư tư vấn cho nhiều công ty tên tuổi và được nhiều doanh nhân trong cũng như ngoài nước nhắc đến với sự kính trọng.

Những trăn trở của ông được viết trong nhiều cuốn sách và bài báo sắc sảo về kinh tế, kinh doanh, giáo dục, triết học… đã thu hút được một số lượng lớn độc giả.

Vài quan điểm cá nhân:

– Chúng ta cần phải thực hiện một cuộc cách mạng văn hóa. Đảng đang đẩy mạnh chủ trương học tập đạo đức Hồ Chí Minh để xây dựng nền tảng đạo đức xã hội; tức là đến giờ, chúng ta đã nhận thức được trong xã hội thiếu nền tảng đạo đức. Tôi còn nhớ một câu nói của ông Mai Chí Thọ: “Chúng ta đã xây dựng con người chính trị trước khi xây dựng con người bình thường”.

– Năm 1994, viết bài đăng trên báo chí tôi nêu vấn đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế là đạo đức cá nhân ; bởi trước đó tôi thấy người ta ít tôn trọng lời hứa. Nền kinh tế thị trường kiểu gì thì cũng chỉ hoạt động được trên nền tảng đạo đức cá nhân. Mỗi người tự mình phải biết kiềm chế mình. Nền kinh tế của ta đang phát triển nhưng vấn đề đạo đức cá nhân chưa được coi trọng. Khi xem xét đạo đức cá nhân thì tôi thấy nó bị tác động bởi giáo dục. Do đó, tôi đi vào giáo dục. Tôi nhìn ra nền tảng của việc giáo dục ở ta; nó là thế nào, tại sao như thế. Đi sâu vào giáo dục tôi thấy nó bị ảnh hưởng bởi gia đình. Tôi bèn đi vào vấn đề gia đình. Từ kinh nghiệm cá nhân tôi nhận ra sự quan trọng của các bà mẹ. Cho hạnh phúc của gia đình và cho sự phát triển của xã hội vai trò của các bà mẹ rất quan trọng. Các ông chồng cần phải nhận ra vai trò quan trọng của vợ mình để biết quý vợ. Khi biết mình được quý – ngoài yêu – các bà sẽ hết lòng chăm sóc chồng con và sẽ thấy mình … ở trên bình đẳng!

– Lâu nay xã hội mình chú trọng nhiều đạo đức nghề nghiệp mà ít xây dựng đạo đức cá nhân – tức là cách cư xử giữa con người bình thường với nhau. Muốn thay đổi điều này phải thay đổi cách giáo dục, bắt đầu từ gia đình, cốt tủy là bà mẹ. Xã hội hiện nay là xã hội trọng vật chất; người ta quan tâm đến việc một người có bao nhiêu tiền nhưng không để ý đến cách thức họ kiếm tiền. Trong khi đó, ở các nước phát triển, người ta coi trọng người có tiền nhưng xét nét cách họ kiếm tiền và người ta chú trọng xây dựng đạo đức cá nhân từ khi con cái còn nhỏ.

Sách đã xuất bản

Invertment Law and Practie in Vietnam (1990 – đồng tác giả)

Những câu hỏi về đầu tư tại Việt Nam (1991- đồng tác giả)

Luật Doanh nghiệp: Vốn & quản lý trong công ty cổ phần
NXB Trẻ, 2000

Khơi dòng chảy cho đồng vốn, NXB Trẻ, 2003

Cách suy nghĩ của luật sư, NXB Trẻ, 2005

Toàn cảnh thị trường chứng khoán, NXB tp. HCM, 1998

Buôn bán với Mỹ, NXB Trẻ, 2002

Đi mua chứng khoán, NXB Trẻ, 2003

Doanh nhân và vấn đề quản trị doanh nghiệp, NXB Trẻ, 2008

Công ty: vốn, quản lý & tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005, Nguyễn Ngọc Bích – Nguyễn Đình Cung, NXB Tri Thức, tháng 7/2009

Tài ba của luật sư, Nguyễn Ngọc Bích, NXB Trẻ, tháng 8/2010

Phỏng vấn, viết về tác giả

“Chiến đấu với chính mình để nhường nhịn người khác” (Lao động cuối tuần)

Thành công làm gì nếu không có hạnh phúc? (Phụ nữ)

Văn hóa, Xã hội

Tư duy toàn cầu
Sau cánh cửa WTO
Niềm tin
Sự tha thứ
Vốn xã hội: Gây vốn từ đâu?
Đôi điều về trách nhiệm cá nhân
Hai cách giao tiếp khi học
Văn hóa doanh nhân
Một đóa hoa tặng doanh nhân

Luật học, kinh doanh

Đã sẵn sàng ra “biển” WTO?
Khi sông lở sóng cồn
Một đóa hoa tặng doanh nhân
Bài biện hộ cho ông chánh án
Đã đến lúc cơ cấu lại doanh nghiệp?
Nhận dạng quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam
Chế độ kiểm soát nội bộ trong công ty
Siết lại kiểm soát nội bộ
Thị trường bất động sản: nhìn từ phía người mua
Lãi ơi! Ngài từ đâu ra?
“Cây đá” thành “chum nước”
Chủ tịch và Tổng giám đốc, ai có quyền hơn ai?
Nghề chủ tịch hội đồng quản trị
Khơi dòng chảy cho đồng vốn
Quản trị theo sự thuận tiện
Thay đổi cách sử dụng quyền sở hữu
Trách nhiệm của công ty
Lắp cửa kính cho căn nhà lá
Từ nghiệp chủ đến nhà quản trị cao cấp
CEO của kiến thức
Danh xưng tập đoàn là chuyện marketing
Mô hình quản trị trong công ty đại chúng
Đi tìm “đạo kinh doanh”

Phan Khôi (1887 – 1959)


PHAN KHÔI(1887-1959)
Các nhà nghiên cứu cho rằng: ông thuộc số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng khác với họ, ông thể hiện mình ở vai trò phản biện, và sự phản biện đó đem lại chiều sâu mới cho tri thức.

– Phan Khôi sinh ngày 6/10/1887 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Là con trai của Phó bảng Phan Trần, Tri phủ Diên Khánh và là cháu ngoại của Tổng đốc Hoàng Diệu, ngay từ nhỏ, Phan Khôi đã nổi tiếng là người thông minh, học giỏi và hay… lý sự!

– Thiếu thời Phan Khôi học chữ Hán, năm 18 tuổi đi thi, đỗ tú tài (1905), sau đó bỏ lối học khoa cử, tìm học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp; ông là một trong những người đầu tiên cắt tóc ngắn, hưởng ứng vận động duy tân.

– Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia công việc của Đông Kinh nghĩa thục. Nghĩa thục bị đóng cửa, ông đi Nam Định học chữ Pháp với Nguyễn Bá Học, vì nhà nho này bị mật thám Pháp theo dõi, ông phải trở về quê.

– Năm 1909 Phan Khôi ra Huế xin vào học trường dòng Pellerin (của nhà thờ Ki-tô giáo), được vài tháng lại phải trở về quê vì ở nhà có đại tang. Lúc này ở Quảng Nam nổ ra phong trào “xin xâu” (biểu tình đòi giảm sưu thuế), Phan Khôi tham gia (có làm bàiDân quạ đình công), bị bắt và cầm tù tại nhà lao Hội An cùng Huỳnh Thúc Kháng và nhiều nhân sĩ khác. Trong tù tiếp tục tự học tiếng Pháp.

– Năm 1913, được ra tù, Phan Khôi về nhà cưới vợ và mở lớp dạy chữ Hán tại nhà mình. Khi triều đình Huế bãi bỏ chế độ khoa cử chữ Hán, ông thôi dạy và khuyên học trò đi học chữ Quốc ngữ.

– Năm 1916 Phan Khôi ra Hải Phòng làm thư ký cho Công ty vận tải đường thuỷ của Bạch Thái Bưởi, nhận thấy công việc ở đây chỉ để kiếm sống chứ không hợp chí hướng riêng nên đã xin thôi việc.

– Năm 1918, do Nguyễn Bá Trác giới thiệu, Phan Khôi lên Hà Nội tham gia viết bài cho tờ Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Được một thời gian, ông bỏ tờ báo này, vào Sài Gòn viết cho báo Lục tỉnh tân văn; vì có một bài có giọng “kịch liệt quá”, ông thôi việc ở tờ này.

– Năm 1920, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết cho các tờ Thực nghiệp dân báoHữu thanh tạp chí; đồng thời cộng tác với vợ chồng mục sư người Mỹ W.C. Cadman để dịch Kinh Thánh (Bible) của Cơ Đốc giáo ra chữ Quốc ngữ (tiếng Việt) bằng cách đối chiếu bản chữ Hán với bản chữ Pháp.

– Khoảng năm 1925 Phan Khôi vào Sài Gòn, sau đó nhân một vụ việc gì đó, vì bị chính quyền Pháp tình nghi và đe dọa, ông chạy xuống Cà Mau tá túc tại nhà một người bạn là chủ đồn điền; ban đầu chỉ dùng thời giờ học tiếng Pháp qua thư từ với nhà báo người Pháp là Dejean de la Bâtie ở Sài Gòn, sau đó cộng tác gửi bài cho các báo ở Sài Gòn.

– Những năm 1928-1933 tại Sài Gòn, Phan Khôi viết cho các tờ Đông Pháp thời báo (1928), Thần chung (1929-1930), Phụ nữ tân văn (1929-1934), Trung lập (1930-1933), Quần báo (báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn,1928-30), gửi bài cộng tác với Đông Tây tuần báo (1929-1932) ở Hà Nội. Đây là những năm ông làm nên “tên tuổi Phan Khôi”.

* Năm 1928 Phan Khôi (trên Đông Pháp thời báo) tranh luận bác bỏ “cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam về hồi thế kỷ XVIII”, nói rõ việc hiệp ước Pháp-Việt 1787 đã không được phía Pháp thực hiện.

* Năm 1929 Phan Khôi (trên Phụ nữ tân văn) mở cuộc trưng cầu ý kiến các nhân vật nổi tiếng trong nước về vấn đề phụ nữ.

* Năm 1929-30 Phan Khôi (trên Thần chung) mở cuộc thi về quốc sử.

* Năm 1929-31 Phan Khôi (trên Thần chung, Trung lập, Phụ nữ tân văn) mở ra tranh luận về việc viết đúng chữ quốc ngữ.

* Năm 1930 Phan Khôi (trên Trung lập) mở ra cuộc bút chiến với Nguyễn Phan Long và đảng Lập hiến Nam Kỳ về trách nhiệm của người làm chính trị trước thời cuộc và vận mệnh người dân.

* Năm 1929-30 Phan Khôi (trên Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập) nêu vấn đề về di sản Nho giáo trong thời “Âu hoá” của Á Đông; thảo luận các vấn đề Nho giáo với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng.

* Năm 1931- 32 Phan Khôi (trên Đông tây, Trung lập, Phụ nữ tân văn) tham gia tranh luận về “quốc học”, đánh giá di sản học thuật Việt Nam trong quá khứ.

* Năm 1932, Phan Khôi (trên Phụ nữ tân văn) công bố bài thơ Tình già, kêu gọi đổi mới thơ ca, khởi đầu cho phong trào Thơ mới tiếng Việt.

* Từ 1928 đến 1933, Phan Khôi (trên Đông Pháp thời báo, Thần chung, Trung lập) thực nghiệm lối văn hài đàm với các “mặt nạ tác giả”, xây dựng một loại văn tiểu phẩm học từ báo chí Pháp nhưng vẫn đậm phong vị tản văn Á Đông, là tác giả trên dưới 1000 bài hài đàm với các bút danh Tân Việt, Tha Sơn, Thông Reo, để lại một bách khoa thư văn hoá về cái hằng ngày của đời sống.

– Năm 1933, Phan Khôi ra Hà Nội, viết cho Thực nghiệp dân báo, sau đó nhận lời với chủ báo Phụ nữ thời đàm, cùng Tế Xuyên đổi tờ này sang thể tài tuần báo, tiếp tục đề cập vấn đề phụ nữ với dư luận ngoài Bắc vốn bảo thủ hơn; tham gia tranh luận “duy tâm − duy vật”; duy trì tờ báo này được 26 tuần lễ.

– Năm 1935 Phan Khôi vào Huế làm chủ bút tờ Tràng An. Tháng 8.1936 được phép xuất bản tờ Sông Hương do chính ông sáng lập, duy trì tờ này được 37 số, sau đó bán lại cho nhóm cộng sản Phan Đăng Lưu.

– Năm 1937, ông vào lại Sài Gòn, dạy quốc văn và chữ Hán tại trường Chấn Thanh; đồng thời cộng tác gửi bài cho các báo ở Hà Nội: Hà Nội báo (1936-37), Đông Dương tạp chí (1937-38); Dư luận (1938), Thời vụ (1938-39), Tao đàn (1939), Phổ thông bán nguyệt san (1939)… Năm 1941, trường Chấn Thanh từ Sài Gòn chuyển về Đà Nẵng; Phan Khôi về làng Bảo An sống với gia đình.

– Trong năm 1945, Phan Khôi từ chối khi được Nguyễn Bá Trác đến vận động tham gia chính phủ thân Nhật mà Trần Trọng Kim đang thành lập; ông cũng không mặn mà với đại diện tổ chức phản đế là Hoàng Phê đến vận động; ông chỉ nhận lời một cách hờ hững với tổ chức Quốc dân đảng (do Phan Bá Lân đến vận động nhiều lần), nhưng không hoạt động gì.

Sự kiện Việt Minh cướp chính quyền ở Quảng Nam và trong cả nước là bất ngờ đối với Phan Khôi, ông ngạc nhiên khi biết ngay trong gia đình có người của Việt Minh (em trai ông là Phan Bôi, con trai ông là Phan Thao…). Được mời dự mít tinh mừng thàmh lập nước ở tỉnh Quảng Nam, ông lên diễn đàn tỏ ý tán thành độc lập dân tộc nhưng không đồng tình đi con đường cộng sản vì theo ông nó sẽ khiến kinh tế lạc hậu, dân trí thấp kém.

– Tháng 10.1945, chính quyền mới ở tỉnh Quảng Nam mời ông ra Hà Nội, theo chỉ thị triệu tập của Chính phủ. Khi cuộc kháng chiến nổ ra trong cả nước, từ Hà Nội ông tản cư lên Việt Bắc, làm công tác nghiên cứu và dịch thuật trong cơ quan hội Văn nghệ Việt Nam.

– Năm 1955 trở về Hà Nội, ông làm việc trong hội Văn nghệ Việt Nam.

– Năm 1956, ông được bộ Văn hoá và hội Văn nghệ Việt Nam cử đi Trung Quốc dự kỷ niệm 20 năm (1936-56) ngày mất Lỗ Tấn (1881-1936); ông có bài phát biểu tại lễ kỷ niệm.

– Năm 1957 Phan Khôi tham gia đại hội thành lập Hội nhà văn Việt Nam, từng làm giám khảo trong các giải văn học của Hội nhà văn Việt Nam.

– Trong năm 1956 – 1957 Phan Khôi có một số bài viết đăng trên các tập Giai phẩm (nhất là bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ) của Nxb Minh Đức. Ông đứng tên làm chủ nhiệm báo Nhân văn (1956) và đăng một số bài trên báo này. Khi tờ Nhân văn bị đóng cửa, ông có một số bài đăng tuần báo Văn (của Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-58) bị đương thời xem như những biểu hiện tư tưởng tiêu cực và có tính phá hoại (do báo Nhân Văn có phê phán giới lãnh đạo văn nghệ lúc đó và phỏng vấn nhiều kỳ về mở rộng tự do, dân chủ). Sau khi các văn nghệ sĩ tham gia Nhân Văn – Giai Phẩm bị đưa đi cải tạo, Phan Khôi bị cấm sáng tác cho đến khi qua đời.

– Ông qua đời tại Hà Nội ngày 16/1/1959, thọ 73 tuổi.

– Năm 2007, kỷ niệm 120 năm ngày sinh của ông, Một tọa đàm về ông đã được Tạp chí Xưa và Nay, Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức. Loạt sách Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo, do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm, cũng được xuất bản.

Quan điểm viết bài

Khoảng thời gian hoạt động rực rỡ nhất trong đời Phan Khôi, “làm cho Phan Khôi trở thành Phan Khôi”, kéo dài từ năm 1928 đến năm 1939. Trong khoảng thời gian này, toàn bộ các bài viết của ông đều được đăng trên báo chí với các đề tài rất đa dạng: cổ học Trung Quốc và Việt Nam; văn hóa, văn học và chính trị Trung Quốc đương đại; khảo cứu lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và văn học Việt Nam, phê phán chính sự đương thời,…

Đặc biệt Phan Khôi là người khởi động hoặc tham gia hàng loạt các cuộc tranh luận trên báo chí về khá nhiều vấn đề học thuật có tính cơ bản và lâu dài, gắn với sự phát triển của tư tưởng, văn học và xã hội Việt Nam thế kỷ XX.

… Qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề : phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung quốc học am hiểu những vấn đề của xã hội Trung Quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học cả ở phần lí thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học.

Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ; ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hoá cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…, ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho tri thức. (Lại Nguyên Ân)

Các tác phẩm đã xuất bản

Chương Dân thi thoại (1936; đã tái bản 1996)
Trở vỏ lửa ra (1939)
Một vài nhận xét trong tiếng ta theo chữ Nôm (1949)
Tìm tòi trong tiếng Việt (1950)
Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ học (dịch của Xit-ta-lin, 1951)
Thù làng (truyện, dịch của Mã Phong, 1952)
Ánh lửa đằng trước (truyện, dịch của Lưu Bạch Vũ, 1954)
Việt ngữ nghiên cứu (1955; đã tái bản 1997)
Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn (dịch, 1955)
Phân tích vần quốc ngữ (1956)
Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn (dịch, 1956)
Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập II (dịch, 1957)

Vựng biên các tác phẩm của Phan Khôi do hậu thế thực hiện:

Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2003)

Tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2005)

Tác phẩm đăng báo 1930 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2006)

Tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; 2007)

Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; in 2007)

Phan Khôi – Tiếng Việt, Báo Chí Và Thơ Mới, Vũ Gia

Sông Hương: tuần báo ra ngày thứ bảy, NXB Lao động, 2009

Toàn tập 32 số báo Sông Hương ra từ ngày 1-8-1931 đến 27-3-1932 được tập hợp lại in thành tập với cấu trúc trang báo hai cột, cơ cấu bài viết và trang mục như nguyên bản, khổ 19×27, dày hơn 700 trang.

Ðây là tuần báo do Phan Khôi chủ nhiệm, tòa soạn đặt tại Huế, đề xướng học vấn và tri thức. Chính trên tuần báo Sông Hương này, truyện ngắn Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng đã đăng dài kỳ bắt đầu từ số 2 và trở nên nổi tiếng trên văn đàn VN. Tuần báo còn quy tụ được các cây bút quan trọng như: Hoàng Xuân Hãn, Trần Thanh Mại, Ðào Trinh Nhất, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan… với những bài viết có giá trị cả về mặt văn chương nghệ thuật và khảo cứu học thuật.

Nói về ông ngày hôm nay

– Ông là người có tính cách quyết liệt và tư tưởng duy tân. Sống trong thời kỳ lịch sử đầy biến cố, bi hùng, mỗi con người trước vận mệnh của Tổ quốc có nhiều lựa chọn khác nhau. Vì sự lựa chọn là gắn bó với dân tộc và cũng gắn bó với sự nghiệp giải phóng dân tộc, chúng ta đã chứng kiến toàn bộ cuộc đời của cụ, kể cả những ngày khó khăn nhất, gai góc nhất cũng thấy đó là cuộc đấu tranh lựa chọn con đường. Nếu con đường đi theo cách mạng để giải phóng dân tộc là một dấu chấm than khẳng định, thì con đường phấn đấu để xây dựng một đất nước Việt Nam mới vẫn có thể đối với các cụ là một dấu hỏi. Hôm nay tưởng niệm Phan Khôi chúng ta nhấn mạnh đến dấu chấm than ấy! (Dương Trung Quốc)

– Ngoài cụ Huỳnh Thúc Kháng, nếu chỉ chọn lấy một nhà báo tiêu biểu nhất của xứ Quảng trong thế kỷ 20, tôi sẽ chọn lấy Phan Khôi. Đó là một hình ảnh kỳ lạ nhất, cô độc nhất, bản lĩnh nhất của lịch sử báo chí Việt Nam hiện đại. Ngay trong cõi nhân sinh ta bà bụi bặm, Phan Khôi đã chọn thái độ sống như một cây thông. Ông đứng sừng sững, không bè phái, băng nhóm, dù đơn độc nhưng lại dám… “gây sự” từ Nam chí Bắc trên trường văn trận bút. (Lê Minh Quốc)

– Ông là một trong những nhà văn hóa nổi bật của thế kỷ 20. Ông vừa viết văn chương, vừa vận động yêu nước. Phan Khôi cũng chính là người đầu tiên dịch Kinh thánh Tin lành từ tiếng Pháp sang tiếng Việt (năm 1920) và dịch một số tác phẩm từ tiếng Hán. Bản dịch của Phan Khôi hay và chính xác hơn nhiều bản dịch của những dịch giả khác. (Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn)

– Giáo sư Đinh Xuân Lâm dù đã 83 tuổi nhưng vẫn nhớ như in những câu trong bài thơ “Tình già” của Phan Khôi, tác phẩm được cho là một trong những bài thơ mở đường Thơ mới, mà ông đã đọc cách đây gần 70 năm. Giáo sư còn nhắc đến cuốn tiểu thuyết “Trở vỏ lửa ra” của Phan Khôi để chứng minh rằng, Phan Khôi là một người toàn diện, không chỉ dịch văn, thơ, viết thơ, viết báo mà còn viết cả tiểu thuyết. “Muốn dùng được Phan Khôi phải là người cực giỏi, cực tài. Chắc chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh” (Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam)

– Nếu nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, không thể phủ nhận những đóng góp của Phan Khôi bằng cả tâm huyết, trách nhiệm, trí tuệ đối với quá trình bảo vệ và phát triển ngôn ngữ quốc gia tiếng Việt, “làm cho tiếng Việt nước ta tiến dần lên đến bậc hoàn mỹ”. (Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khang)

– Phan Khôi, người đi trước thời đại. (Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn)

– Một trí thức trẻ mới ngoài 20 tuổi đã bị thực dân Pháp bắt bỏ tù 2 lần, một lần 18 tháng, một lần 3 năm, chỉ vì theo chân Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh để hoạt động yêu nước. Một nhà báo suốt thời tráng niên của mình lăn lộn trên văn đàn chỉ nhằm một mục đích cho hai tiếng nhân dân. Một nhân sĩ bỏ lại tất cả ở phía sau để dấn thân cho cuộc kháng chiến 9 năm và cuối cùng, một học giả sức cùng lực kiệt vẫn gắng gượng đóng góp sức mình, mong có được một vườn hoa văn nghệ đầy hương sắc của dân tộc. Một người như vậy không bao giờ đi ngược lại quyền lợi của đồng bào mình. (Phan An Sa, con trai út của Phan Khôi)

Phỏng vấn, viết về tác giả

Sơ lược về đời làm báo của Phan Khôi

Tìm lại chân dung một nhà báo hàng đầu Việt Nam

Sự học ngày nay: Ít “bậc thầy” đúng nghĩa?

Tưởng niệm về Phan Khôi (Trần Duy)

Tìm lại tác giả Phan Khôi (BBC)

Kỳ 1: Phan Khôi: Hai thái cực trong tính cách

Kỳ 2: Phan Khôi: Như một “lão nông”

Kỳ 3: Phan Khôi và 2 người ăn mày trong nạn đói 1945

Phan Khôi và “sinh nhật” Tình già – bài thơ mở đầu phong trào Thơ Mới (Thể thao Văn hóa)

Các bài viết, bài báo của tác giả

Cách ngôn luận của người Á Đông (1930)
Cái ác ý Bởi nghề Nghiệp (1936)
Thanh niên với tổ quốc: Kẻ thanh niên tân học nước ta muốn giúp ích cho Tổ quốc phải làm thế nào?
Khoa học với văn hóa

Bài thơ Tình già (1932) của Phan Khôi – đây là bài thơ được coi là mốc khởi đầu cho phong trào Thơ Mới. Bài thơ kể từ đó trở thành một thi thoại mà các Hợp tuyển thơ Việt Nam đều có trích đăng để chứng minh cho sự hình thành và phát triển của Thơ mới.

Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh, kề nhau than thở:
“Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn đà không đặng;
Để đến nỗi tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”
“Hay! Nói mới bạc làm sao chớ!
Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung?
Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ đất khách gặp nhau!
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!
Ôn chuyên cũ mà thôi!
Liếc đưa nhau đi rồi!
Con mắt còn có đuôi

(Phụ nữ tân văn, 10/3/1932)



Hoàng Tụy (1927 – 2019)

Giáo sư Hoàng Tụy sinh ngày 7 tháng 12 năm 1927, vừa từ trần hồi 15h30 ngày 14 tháng 7 năm 2019 tại Hà Nội. Hưởng thọ 92 tuổi.
Ông là giáo sư, nhà toán học tiêu biểu của Việt Nam. Cùng với Giáo sư Lê Văn Thiêm, ông là một trong hai người tiên phong trong việc xây dựng ngành Toán học của Việt Nam. Hoàng Tụy được coi là cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục (Global Optimization) trong Toán học Ứng dụng.
Không chỉ là một nhà Toán học, Hoàng Tụy còn có nhiều đóng góp cho giáo dục Việt Nam. Ông cũng là sáng lập viên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS mà ông là Chủ tịch Hội đồng Viện.
Vĩnh biệt Ông, một cây đại thụ của nền toán học Việt Nam, một nhân cách lớn của trí thức Việt Nam, chúng ta biết ơn về những đóng góp của Ông và cùng cầu nguyện để anh linh Ông về đoàn tụ với thế giới người hiền của Nước Đại Việt, trong đó có người Ông Bác của Ông là Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu.
Xin kính cẩn chia buồn cùng gia quyến của Giáo sư Hoàng Tuỵ!

GS. HOÀNG TỤY(sinh 7-12-1927, mất 14-7-2019)

– Ông sinh ngày 7-12-1927 trong một gia đình Nho học tại Điện Bàn, Quảng Nam, là cháu nội của người em ruột cụ phó bảng Hoàng Diệu. Ông mồ côi cha lúc lên 4.

– Đỗ đầu thi Tú Tài I tháng 5 tại Huế, dù nhảy hai lớp. Bốn tháng sau đó đỗ đầu kỳ thi Tú Tài II ban toán ở Huế.
– Năm 1946, giai đoạn Kháng chiến toàn quốc, ông về quê làm giáo viên trường trung học Lê Khiết ở Liên khu V.
– Năm 1951, ông vào Việt Bắc học trường đại học khoa học cơ bản do GS Lê Văn Thiêm mở. Nhưng ông được cử đi dạy và trở thành thầy dạy toán giỏi vì đã tự học hết chương trình toán của những năm đầu tiên.


Hành trình từ Quảng Ngãi về Bắc để dạy học của Giáo sư Hoàng Tụy.
.
– Năm 1954, ông bắt đầu dạy toán tại trường Đại học Khoa học, sau là Đại học Tổng hợp
– Năm 1995, ông được cử làm Trưởng ban cải cách hệ thống các trường trung học


Một trang viết tay của Giáo sư Hoàng Tụy, trong giáo trình Hình học do Giáo sư soạn vào năm 1949, khi giảng dạy toán học tại Quảng Ngãi, thuộc Liên khu 5 – giáo trình toán học đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Việt tại Chiến khu trong suốt cuộc Kháng chiến chống Pháp (1946-1954).

.

– Năm 1957 ông sang Liên Xô học tiếp. Tháng 3/ 1959 ông bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ trường Đại học tổng hợp Mạc tư khoa về giải tích thực
– Năm 1960-1969 ông là Chủ nhiệm khoa toán lý của Đại học Tổng hợp Hà Nội.
– Năm 1961 ông chuyển hướng sang nghiên cứu vận trù học để thiết thực hơn với tình hình cụ thể Việt Nam. Một quyết định có ảnh hưởng đến sự nghiệp lâu dài của ông.
– Năm 1962, Ông gửi bài báo đầu tiên về vận trù học cho GS. Leonid Kantorovich (Giải Nobel kinh tế năm 1975 chung với T. C. Koopmans) và có hai chyến thăm ông tại Novosibirsk năm 1962 và 1964.
– Năm 1962-1968 ông cùng GS. Lê Văn Thiêm và Bộ trưởng Tạ Quang Bửu thực hiện nhiều chương trình để nâng cấp chất lượng khoa học cho cán bộ giảng dạy, mở nhiều lớp chuyên đề bồi dưỡng, thành lập Hội Toán (1963), thành lập tạp chí Toán học, kiến nghị mở kỳ thi giỏi toán miền bắc hàng năm, mở các lớp “Toán đặc biệt”, tuyển chọn học sinh có năng khiếu…
– Năm 1964 ông công bố công trình toán học với một phương pháp “cắt”, sau này được giới toán học thế giới trong ngành gọi là “Lát cắt Tụy”, không những để giải nhiều bài toán tối ưu toàn cục, mà còn để giải những bài toán quy hoạch tổ hợp. Công trình được xem như đánh dấu sự ra đời ngành toán học mới: Tối ưu toàn cục
– Năm 1970: ông cùng GS Lê Văn Thiêm thành lập Viện toán học Việt nam và hoạt động ở đó cho đến nay.
– Từ 1976-1979: ông được mời giảng bài tại nhiều đại học hàng đầu trên thế giới cho đến nay.
– Năm 1980: ông chính thức phong hàm Giáo sư
– Năm 1980-1990: ông là giám đốc Viện toán và Tổng thư ký Hội toán học Việt Nam
– Năm 1990-1992: Ông là chủ tịch Hội đồng Toán học, Trung tâm Quốc gia Khoa học và Công nghệ
– Năm 1996: Ông được tăng Huân chương Hồ Chí Minh cho những đóng góp khoa học.
– Năm 2004: Ông tổ chức xemina kéo dài 3 tháng về giáo dục gồm nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia. Bản Kiến nghị chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục được 24 giáo sư, trí thức trong và ngoài nước ký tên.

.
Quan điểm sáng tác

– Hãy hết lòng với khoa học, trong khó khăn hãy vươn lên, người trí thức không thể sống hèn.

– Những điều trải qua trong những năm chiến tranh đóng vai trò chính yếu trong việc hình thành nhân cách tôi và chúng trở thành một phần của tôi.

– Cái ta cần hơn vào lúc này là những ngọn đèn pha để đưa ta đến bến, những nguyên tắc, quan niệm để dẫn dắt chúng ta đến một nền Giáo dục phù hợp yêu cầu cuộc sống hiện đại, xã hội hiện đại, thế giới văn mình hiện đại.

– Đối với tôi, dù nghỉ hưu hay còn trong biên chế, tôi vẫn làm việc đều đặn, vẫn nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu Toán học, đồng thời quan tâm thiết tha đến sự nghiệp chấn hưng giáo dục, khoa học của đất nước, chừng nào còn đủ sức, vì đó là điều thiết yếu, nguồn vui trong cuộc sống của tôi.

– Con người không có cảm xúc, không rung động, vô cảm trước mọi việc thì không thể làm được bất cứ việc gì.

– Cái chính là có niềm đam mê với cuộc sống, say mê với điều mình đã tin tưởng và lựa chọn, nó giúp mình vượt qua tất cả những gì đắng cay, buồn bã nhất.

Các sách chuyên đề đã xuất bản

Giải tích hiện đại (1959)
Lý thuyết quy hoạch tuyến tính (1967)
Phân tích hệ thống và ứng dụng (1987)
Global Optimization; Deterministic Approaches (Tối ưu toàn cục – những cách tiếp cận tất định, viết chung với R. Horst, Springer, 1990)
Optimization on Low Rank Nonconvex Structures (viết chung với H. Konno, Phan Thiên Thạch, NXB Kluwer Academic Publishers, London, 1997

.

Phỏng vấn, viết về tác giả

Hoàng Tụy: Tài năng và nhân cách lớn (Báo Đà Nẵng)
GS Hoàng Tụy, một nhà toán học và giáo dục lớn của Việt Nam (TS. Nguyễn Xuân Xanh)
Kỷ yếu mừng giáo sư Hoàng Tuỵ 80 tuổi – sĩ phu thời nay (Hà Dương Tường)
Tôi rất lo lắng cho giáo dục của ta
Nền giáo dục Việt Nam: Đang ở tọa độ nào, và định vị ra sao?
Phát triển giáo dục dưới góc nhìn của nhà giáo
Giáo sư Hoàng Tụy và Giải pháp cứu ngành giáo dục
Để hội nhập, phải hiện đại hóa giáo dục
Đổi mới cách công nhận GS, PGS: Sao khó thế?
Bệnh giả dối đang thành nỗi nhục lớn
Tìm cách giảm sự thụ động cho sinh viên

.

Bàn về giáo dục Việt Nam
GS Hoàng Tụy: Nhìn thẳng vào khủng hoảng giáo dục VN (Tuần Việt Nam)
Những nghịch lý giáo dục

Không nên vô cảm trước sự tụt hậu
7 kiến nghị cấp bách về phát triển giáo dục Đại học
Giải pháp nào cho giáo dục đại học?
Năm mới, buồn vui với giáo dục
Hiện đại hóa giáo dục để đi vào nền kinh tế tri thức
Phải thay đổi cách thi tốt nghiệp
Đổi mới giáo dục ĐH theo hướng nào?
Giáo dục đang đi về đâu?
Trao đổi về “giải pháp cứu ngành giáo dục” của giáo sư Hoàng Tụy
“Nút cổ chai” và “cửa thoát” của giáo dục
Bệnh thành tích và thi đua: Thâm căn!
Mười vấn đề lớn của giáo dục
Mệnh lệnh từ cuộc sống
Nghĩ từ các giải quốc tế của học sinh tiểu học
Những bất cập trong việc xã hội hóa giáo dục

.

Ngẫm chuyện đất nước
Khi con người VN đi vào thời đại văn minh trí tuệ
Chỗ mạnh, chỗ yếu trong tâm lý con người Việt Nam khi đi vào thời đại văn minh trí tuệ
Phiếm luận về khuyết tật hệ thống
Để có lớp trí thức xứng đáng
Giáo sư không phải “giá trị quốc gia”
Tối ưu trong khoa học kỹ thuật kinh tế và đời sống
“Lương, cỡ nào cũng sống được – thế mới lạ!”
“Tôi nói, cơ chế sản sinh ra tham nhũng…”
Vấn đề đào tạo nhân tài
Cạnh tranh thời nay thực tế là bằng trí tuệ, thông qua giáo dục và khoa học

Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984)


NGUYỄN HIẾN LÊ(1912-1984)

Nguyễn Hiến Lê là một nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế…

Nguyễn Hiến Lê sinh 8-1-1912 tại Hà Nội, nguyên quán ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây nay thuộc Ba Vì, Hà Nội. Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội, trước ở trường Yên Phụ, sau lên Trường Bưởi.

– Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội vào làm việc, định cư tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ bắt đầu quãng đời nửa thế kỷ gắn bó với Nam bộ.

– Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông thôi làm ở sở, đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952 chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

– Sau năm 1975, ông về ẩn cư ở Long Xuyên, đến năm 1984 ông qua đời tại nhà riêng ở Sài Gòn.

– Những năm trước 1975 và cả trong thời gian sau này, Nguyễn Hiến Lê luôn là một cây bút có tiếng, viết miệt mài và là một nhân cách lớn. Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn du ký khoa học “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười”, năm 1935.

– Ông có sức làm việc đều đặn 13 tiếng đồng hồ mỗi ngày gồm 6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết. Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông hàng năm có đôi ba tác phẩm ra mắt công chúng và cả đời đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ.

– Trong đời cầm bút của mình, đến trước khi mất, ông đã xuất bản được hơn một trăm bộ sách, về nhiều lĩnh vực: văn học, ngôn ngữ học, triết học, tiểu luận phê bình, giáo dục, chính trị, kinh tế, gương danh nhân, du kí, dịch tiểu thuyết, học làm người… Tính ra, số bộ sách của ông được xuất bản gần gấp 1,5 lần số tuổi của ông và tính từ năm ông bắt đầu có sách in (đầu thập niên 1950), trung bình mỗi năm ông hoàn thành ba bộ sách với 800 trang bản thảo có giá trị gửi tới người đọc.

– Nguyễn Hiến Lê có những đóng góp đáng trân trọng và sáng giá về hoạt thuật ở các lĩnh vực: ngữ học Việt Nam, lịch sử và triết học, văn học Trung Hoa. Những năm trước 1975, tại Sài Gòn ông là một trong vài người cầm bút được giới trí thức quý mến về tài học, nhân cách đối với xã hội cũng như trong học thuật. Do thành quả lao động ngiêm cẩn của mình, ông được đa số độc giả công chúng trân trọng, kể cả học sinh, sinh viên. Ông đã từ chối nhiều giải thưởng văn chương, văn hóa nghệ thuật cao quý của chính quyền Sài Gòn.

Quan điểm sáng tác

– Ngòi bút Nguyễn Hiến Lê đề cập đến nhiều lĩnh vực mà ở lĩnh vực nào cũng có căn cứ khoa học, am tường cặn kẽ về các đối tượng, sâu sắc về các vấn đề được nhắc tới và không thiếu tính nghệ thuật. (Nguyễn Quang Thắng)

– Với cách trình bày trong sáng, đơn giản nhưng không qua loa, người đọc dễ lãnh hội được những điều mà tác giả gửi gấm trong chữ viết. Và bàng bạc, trong chữ nghĩa, trong ý tưởng là cái tâm thẳng thắn và ý hướng giúp những người muốn học hỏi có dịp để đạt cho bằng được những kiến thức cần thiết cho đời sống. (Nguyễn Mạnh Trinh)

– Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT – “Lời mở đầu” của tác phẩm “Đời viết văn của tôi”.

– Văn thơ phải tự nhiên, cảm động, có tư tưởng thì mới hay. Ở Trung Hoa, thơ Lý Bạch, văn Tô Đông Pha hay nhất. Ở nước ta, thơ Nguyễn Du tự nhiên, bình dị mà bài nào cũng có giọng buồn man mác.

– Khi nghèo thì phải tận lực chiến đấu với cảnh nghèo vì phải đủ ăn mới giữ được sự độc lập và tư cách của mình. Nhưng khi đã đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, phải để thì giờ làm những việc hữu ích mà không vì danh và lợi. Giá trị của ta ở chỗ làm được nhiều việc như vậy hay không.

Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Như kinh Dịch nói, lúc thì âm thắng, lúc thì dương thắng; mà việc đời sau khi giải quyết xong việc này thì lại sinh ra việc khác liền; sau quẻ Ký tế (đã xong) tiếp ngay quẻ Vị tế (chưa xong). Mình cứ làm hết sức mình thôi, còn thì để lại cho các thế hệ sau.

– Tìm hiểu cái hay của người, rút kinh nghiệm của người để bồi bổ cho nền văn hóa của mình mà vẫn giữ được bản sắc, vẫn rán có sáng kiến của mình chứ không theo đúng người để mong đồng hóa với người… (Cao Văn Luận)

– Với tính cách của người trí thức luôn băn khoăn trăn trở và ý thức trách nhiệm trước tiến đồ dân tộc, Nguyễn Hiến Lê còn thường tổng duyệt lại những kinh nghiệm lịch sử, phân tích các mặt ưu khuyết điểm của phương đông, phương tây rồi dựa trên thực tế văn hoá của nước mình để đề xuất việc nào nên làm, việc nào nên tranh, rồi viết lại như những lời tha thiết dặn dò.

– Chép sử thì không ai có thể hoàn toàn khách quan được, chỉ có thể thành thực được thôi. Chỉ ghi lại những việc xảy ra, không tìm hiểu nguyên nhân, không khen không chê, thì theo tôi, không phải là viết sử. Có những giá trị tinh thần mà chúng ta phải tôn trọng, phải bênh vực, trái lại thì phải chê. Có như vậy mới là thành thực với người đọc và với chính mình.

– Không xông xáo tham dự trực tiếp vào mọi sinh hoạt, công tác xã hội, không thấy mặt ông ở nơi “trọng thể”, hội hè đông đảo nhưng không có vấn đề nào cấp thiết liên quan đến công cuộc cải tiến dân sinh, xã hội mà không có những bài viết thiết thực kịp thời của ông để bày tỏ quan điểm của mình một cách minh bạch hay góp ý kiến xây dựng hết sức khách quan và thẳng thắn với chính quyền, với các giới, tổ chức. Những loạt bài về thanh niên, về chương trình học, thi cử, về tâm lý ính viên xuất ngoại với những biện pháp thích nghi hầu cứu vãn tình trạng trước nguy cơ xuất não, về xuất bản sách báo, kiểm duyệt chứng tỏ rằng khi cần nói thẳng thì ông không ngần ngại nói ngay lên sự thật, nói lên cảm nghĩ chống đối của mình, song vẫn chân thành, có tinh thần xây dựng, không đả kích cá nhân, thành ra không ai làm khó dễ ông. Trên công việc làm, ông tiêu biểu cho hạng người cần mẫn, siêng năng, nói ra là tin cậy được.

Phỏng vấn, viết về tác giả

Nguyễn Hiến Lê, người trí thức chân chính
Nguyễn Hiến Lê – một người Hà Nội (Văn hiến Việt Nam)
Nguyễn Hiến Lê – hai mươi năm, một trăm cuốn sách
Nhà văn Nguyễn Hiến Lê: Viết như là… hành xác (Văn nghệ Công an)
Nguyễn Hiến Lê, kẻ sĩ trong thời đại chúng ta (An Việt toàn cầu)
Nhân sinh quan của tôi (Nguyễn Hiến Lê)
Một tuyển tập đồ sộ (Tuổi trẻ cuối tuần)


Văn học, tiểu thuyết

Hương sắc trong vườn văn (2 quyển) – 1962
Đại cương văn học sử Trung Quốc (3 quyển) – 1955
Cổ văn Trung Quốc – 1966
Chiến Quốc sách (viết chung với Giản Chi) – 1968
Sử Ký Tư Mã Thiên (viết chung với Giản Chi) – 1970
Tô Đông Pha – 1970
Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa (dịch) – 1970
Kiếp người (dịch Somerset Maugham) – 1962
Mưa (tuyển dịch nhiều tác giả) – 1969
Chiến tranh và hoà bình (dịch Lev Nikolayevich Tolstoy) – 1968
Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu (dịch Alan Paton) 1969
Quê hương tan rã (dịch C. Acheba) – 1970
Cầu sông Drina (dịch I. Andritch) – 1972
Bí mật dầu lửa (dịch Gaillard) – 1968
Con đường thiên lý – 1990
Mùa hè vắng bóng chim (dịch Hansuyn)
Những quần đảo thần tiên (dịch Somerset Maugham) – 2002

Triết học

Nho giáo một triết lý chính trị – 1958
Đại cương triết học Trung Quốc (viết chung với Giản Chi) – 1965
Nhà giáo họ Khổng – 1972
Liệt tử và Dương tử – 1972
Một lương tâm nổi loạn – 1970
Thế giới ngày mai và tương lai nhân loại – 1971
Mạnh Tử – 1975
Trang Tử – 1994
Hàn Phi Tử – 1994
Tuân Tử -1994
Mặc học – 1995
Lão Tử – 1994
Luận ngữ – 1995
Khổng Tử – 1992
Kinh Dịch, đạo của người quân tử – 1990

Lịch sử

Lịch sử thế giới (viết với Thiên Giang) – 1955
Đông Kinh Nghĩa Thục – 1956
Bài học Israel – 1968
Bán đảo Ả Rập – 1969
Lịch sử văn minh Ấn Độ (dịch Will Durant) – 1971
Bài học lịch sử (dịch Will Durant) – 1972
Nguồn gốc văn minh (dịch Will Durant) – 1974
Văn minh Ả Rập (dịch Will Durant) – 1975
Lịch sử văn minh Trung Quốc (dịch Will Durant) – 1997
Sử Trung Quốc (2 quyển) – 1997

Giáo dục – giáo khoa

Thế hệ ngày mai – 1953
Thời mới dạy con theo lối mới – 1958
Tìm hiểu con chúng ta – 1966
Săn sóc sự học của con em – 1954
Tự học để thành công – 1954
33 câu chuyện với các bà mẹ – 1971
Thế giới bí mật của trẻ em – 1972
Lời khuyên thanh niên – 1967
Kim chỉ nam của học sinh – 1951
Bí quyết thi đậu – 1956
Để hiểu văn phạm – 1952
Luyện văn I (1953), II & III (1957)
Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam (viết với T. V. Chình) – 1963
Tôi tập viết tiếng Việt – 1990
Muốn giỏi toán hình học phẳng – 1956
Muốn giỏi toán hình học không gian – 1959
Muốn giỏi toán đại số – 1958

Chính trị – Kinh tế

Một niềm tin – 1965
Xung đột trong đời sống quốc tế – 1962
Hiệu năng – 1954
Tay trắng làm nên – 1967
Tổ chức công việc theo khoa học – 1949
Tổ chức công việc làm ăn – 1967
Lợi mỗi ngày một giờ – 1971
Những vấn đề của thời đại – 1974

Gương danh nhân

Gương danh nhân – 1959
Gương hi sinh – 1962
Gương kiên nhẫn – 1964
Gương chiến đấu – 1966
Ý chí sắt đá – 1971
40 gương thành công – 1968
Những cuộc đời ngoại hạng – 1969
15 gương phụ nữ – 1970
Einstein – 1971
Bertrand Russell – 1972
Đời nghệ sĩ – 1993
Gogol – 2000
Tourgueniev – 2000
Tchekhov – 2000

Khảo luận – tùy bút – du ký

Đế Thiên Đế Thích – 1968
Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười – 1954
Nghề viết văn – 1956
Vấn đề xây dựng văn hoá – 1967
Chinh phục hạnh phúc (dịch Bertrand Russell) – 1971
Sống đẹp – 1964
Thư ngỏ tuổi đôi mươi (dịch André Maurois) – 1968
Chấp nhận cuộc đời (dịch L. Rinser) – 1971
Làm con nên nhớ (viết với Đông Hồ) – 1970
Hoa đào năm trước – 1970
Con đường hoà bình – 1971
Cháu bà nội tội bà ngoại – 1974
Ý cao tình đẹp – 1972
Thư gởi người đàn bà không quen (dịch André Maurois) – 1970 10 câu chuyện văn chương – 1975
Đời viết văn của tôi – 1996
Hồi ký Nguyễn Hiến Lê – 1992
Để tôi đọc lại – 2001

Tự luyện – Học làm người

Tương lai trong tay ta – 1962
Luyện lý trí – 1965
Rèn nghị lực – 1956
Sống 365 ngày một năm – 1968
Nghệ thuật nói trước công chúng – 1953
Sống 24 giờ một ngày (dịch Arnold Bennett) – 1955
Luyện tình cảm (dịch F. Thomas) – 1951
Luyện tinh thần (dịch Dorothy Carnegie) – 1957
Đắc nhân tâm (dịch Dale Carnegie) – 1951
Quẳng gánh lo đi và vui sống (dịch Dale Carnegie) – 1955
Giúp chồng thành công (dịch Dorothy Carnegie) – 1956
Bảy bước đến thành công (dịch G. Byron) – 1952
Cách xử thế của người nay (dịch Ingram) – 1965
Xây dựng hạnh phúc (dịch Aldous Huxley) – 1966
Sống đời sống mới (dịch Powers) – 1965
Thẳng tiến trên đường đời (dịch Lurton) – 1967
Trút nỗi sợ đi (dịch Coleman) – 1969
Con đường lập thân (dịch Ennever) – 1969
Sống theo sở thích (dịch Steinckrohn) – 1971
Giữ tình yêu của chồng (dịch Kaufmann) – 1971
Tổ chức gia đình – 1953

Các bài đăng trên tạp chí

242 bài trên tạp chí Bách Khoa, 50 bài trên các tạp chí Mai, Tin Văn, Văn, Giáo Dục Phổ Thông, Giữ Thơm Quê Mẹ. Ngoài ra ông còn viết lời giới thiệu cho 23 quyển sách.

Tạp chí Bách khoa (1957)

– Vấn đề dịch văn
– Tính cách chính trị của Nho giáo
– Đại tướng Montgomery
– Tiếng Việt ngày nay
– Phép dịch thơ
– Heinrich Schliemann
– Cái thần trong văn

Tạp chí Bách Khoa (1958)
– Chính sách chính trị của Nho giáo
– Thomas Elva Edison
– Xã hội theo Nho giáo
– Dịch sách cổ của ta
– Quản Trọng
– Léon Tolstoi
– Kỷ luật phải xây dựng trên những quy tắc nào?
– Văn thể hùng vĩ
– Dịch sách Nho giáo (một tin mừng)
– Vương Dương Linh
– Tị hiềm

Tạp chí Bách Khoa (1959)
– Phê bình “Vài nhận xét về văn phạm’ của P. J. Honey
– Tết đi thăm cụ Võ Hoành
– Cái chết của Socrate
– Điểm sách “Triết lý văn hóa khái luận” của Nguyễn Đăng Thục
– Điểm sách “Đường thi trích dịch” của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản
– Con vịt (tùy bút)
– Óc thẩm mỹ và cái đẹp
– Phê bình “Le Parler Vietnammien” của Lê Văn Lý
– Con đường giao thông giữa Đông Tây
– Văn “ba lan”
– Điểm sách “Tân Liêu trai” của Phong Ngạn (Bình Nguyên Lộc)
– Ý kiến về truyện ngắn Việt và ngoại quốc
– Ông bà Curie

Tạp chí Bách Khoa (1960)
– Dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ
– Đính chính sử liệu Việt nam của Tưởng Quân Chương
– “Văn học Việt Nam” của Phạm Văn Diêu
– Norbert Wiener
– Florence Nightingale
– “Người báo hiệu” của Ch. Dickens
– “Việt ngữ chánh tả” của Lê Ngọc Trụ
– Một chương trình dịch sách ngoại quốc
– Champollion
– Dostoievski
– Mustapha Kemal
– Tình hình xuất bản 1959
– “Mưa” của S. Maugham

Tạp chí Bách Khoa (1961)
– Tiếng Việt làm chuyển ngữ ở Đại học
– Một gương tiết kiệm
– Kỹ thuật chân chính
– Ibn Séoud
– Vài ý nghĩ về cú pháp
– Tình hình xuất bản 1960
– So sánh ngành xuất bản Pháp và Việt Nam hiện nay
– Đuổi bắt ảo ảnh

Tạp chí Bách Khoa (1962)
– Hạng trẻ anh tuấn
– Quốc gia Israel
– Bi kịch 1000 năm chưa dứt (Do Thái)
– Isaac Newton
– Thống nhất nhan đề các áng văn thơ cổ
– “Người chỉ huy” của J. Steinbeck
– Cải tổ nền giáo dục Việt Nam
– Từ vụ Dreyfus tới L’État juif
– Tiến sĩ Hồ Thích
– I. P. Semmelweiss
– “Việt Nam ca trù biên khảo” của Đỗ Bằng Đoàn

Tạp chí Bách Khoa (1963)
– G. Abel Nasser và kênh Suez
– Nasser và vụ kênh Suez
– Vấn đề sinh tử của Ai Cập: nước
– Những hiệp ước về kênh Suez

Tạp chí Bách Khoa (1964)
– Th. Edward Lawrence
– Mối tình giữa Phan Bội Châu và Hồ Thích
– Cần nâng cao tri thức đại chúng
– Lại sắp đến mùa thi
– Helen Keller
– Góp ý về chính sách cách mạng của Bộ giáo dục

Tạp chí Bách Khoa (1965)
– Alexander Fleming
– Mặc Tử, Dương Tử, Lão Tử
– Mạnh Tử, Trang Tử
– Pháp trị
– Vấn đề đánh trẻ
– Làm con nên nhớ
– Triết học Trung Hoa thời Tiên Tần
– Biệt Mặc và Danh gia
– Thân phận con người trong Truyện Kiều
– Ngu í viết về tôi

Tạp chí Bách Khoa (1966)
– Nhà cầm quyền và dư luận
– Một cách mạng trong giáo dục ở Pháp
– Cuốn “Một nền giáo dục nhân bản”
– Somerset Maugham
– Ý kiến về chính sách bỏ thi
– Jules Verne
– Cuốn “Vài ý nghĩ của giáo Mưu”
– Cụ Dương Quảng Hàm

Tạp chí Bách Khoa (1967)
– Walt Disney
– Loại địa phương chí
– Chuyển bất lợi thành thắng lợi
– Ben Gourion
– Dịch “Thư ngỏ gửi một thanh niên” của A. Maurois
– Một nền giáo dục phục vụ
– Ông bà La Fayette
– Mười năm cầm bút và xuất bản
– André Maurois
– Bọn trí thức chúng ta làm được gì…?
– Cái chết của giáo sư Trần Vinh Anh

Tạp chí Bách Khoa (1968)
– Thanh niên Pháp đáp “Những thư ngỏ…” của André Maurios
– Văn học Trung Quốc hiện tại
– Lỗ Tấn
– Kinh tế Israel – Kibboutz
– Thảm trạng Irak
– Dịch văn ngoại quốc
– Sự thuần khiết trong ngôn ngữ
– Văn học Đài Loan (1945-1958)
– Truyện “Toàn phong” của Khương Quý (Đài Loan)
– Lão Xá
– Bán đảo Ả Rập sau thế chiến II
– Thảm trạng chiến tranh Dầu lửa
– Chiến tranh và Hòa bình của Tolstoi

Tạp chí Bách Khoa (1969)
– Bốn lối kết trong tiểu thuyết
– Ba Kim
– Honoré de Balzac
– Khóc bác Đông Hồ
– Mao Thuẫn
– Vấn đề kiểm duyệt

Tạp chí Bách Khoa (1970)
– Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên
– Đặc tính thơ Trung Hoa (dịch Lâm Ngữ Đường)
– Einstein
– Lịch sử văn minh của Will Durant
– Văn chương hạ giới rẻ như bèo
– “Châu Á và hòa bình thế giới” của Tr. Minh Triết
– “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức
– Phỏng vấn Han Suyin (dịch)

Tạp chí Bách Khoa (1971)
– Bertrand Russell
– Đất Hà Tiên với họ Mạc và họ Lâm
– Hôn nhân và nghề cầm viết
– Tình hình xuất bản năm 1970

Tạp chí Bách Khoa (1972)
– Nguy cơ xuất não
– Nhà giáo họ Khổng
– Lịch sử và chiến tranh (Will Durant)
– Suy tư về phong trào Về nguồn
– Lịch sử và kinh tế (W. Durant)

Tạp chí Bách Khoa (1973)
– Kỷ nguyên tiêu thụ và nghề viết văn
– Nhớ Hư Chu
– Nhân số và nạn đói

Tạp chí Bách Khoa (1974)
– Năm 2000
– “Mảnh vụn văn học sử” của Bằng Giang
– Mạnh Tử
– Tai Họa Minamata

Tạp chí Bách Khoa (1974)
– Báo cáo số 1 và số 2 của nhóm La Mã

Tạp chí Mai (1960)
– Đừng phàn nàn suống, phải đòi hỏi
– Đánh mắng con
– Giáo dục sinh lý
– Thiếu nhi thông minh
– Thuật đòi hỏi
– Đòi hỏi các tư thục những gì?
– Chuyển ngữ ở Địa học – Quốc văn ba lối 1961
– Hai kỳ thi Trung học đệ nhất cấp vừa qua
– Hồ sơ thanh niên
– Hôn nhân
– Tứ đức ở thời nay
– Phê bình “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của Mộng Tuyết và “Sài Gòn năm xưa” của Vương Hồng Sển

Tạp chí Mai (1962)
– Nghỉ ngơi và tiêu tiền
– Vấn đề thanh niên

Tin văn (1965)
– Văn chương và dân tộc tính

Tin văn (1966)
– Làm sao cho học sinh bớt dốt Việt văn
– Đả phá dễ hay xây dựng dễ?

Tin văn (1967)
– Tiếp thu văn hóa Tây phương
– Phát huy văn hóa truyền htống
– Một phong sự khá sống động

Văn (1967)
– Để giải thích Truyện Kiều

Tin văn (1970)
– Thi sĩ Quách Tấn và “Xứ trầm hương”

Tân văn (1968)
– “Nước non Bình Định” của Quách Tấn
– Chiến Quốc sách: giá trị về văn học

Tin văn (1969)
– “Đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt nam” của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọn Huề
– Tình hình xuất bản sau biến cố Mậu Thân”

Giáo dục phổ thông (1958)
– Chính sách xã hội của Nho giáo

Giáo dục phổ thông (1959)
– Hương và Sắc
– Voltaire: ông vua không ngôi
– Hai bài văn và hai bài thơ
– Ba luật căn bản về sự phát triển của trẻ
– Chung cụ (dịch John
Calsworthy) (Hồ Thích, Phạm Thận, Longfellow, Emma Calvé)

Giáo dục phổ thông (1960)
– Phương pháp trắc nghiệm trẻ em

Giữ thơm quê mẹ (1965)
– Bút pháp và cá tính

Đại học (tập san nghiên cứu của Đại học Huế)
– Một phương pháp nghiên cứu ngữ pháp Việt Nam (1961)
– Ngữ pháp là gì? (1962)

Phạm Quỳnh (1892 – 1945)

PHẠM QUỲNH(1892 – 1945)

Phạm Quỳnh – hiệu Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân – là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu.

Ông chủ trương chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.

1. Tiểu sử

– Ông sinh ra ở Hà Nội ngày 17-12-1892.
– Năm 1908, sau khi đỗ đầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn), ông làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội.
– 1913, ông làm biên tập viên cho Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh.
– Năm 1917-1932 ông làm chủ bút Nam Phong tạp chí, dưới sự bảo trợ của ông Louis Marty, Trưởng phòng Chính trị tại phủ Toàn Quyền Pháp, Hà Nội, tuyên truyền cho tư tưởng “Pháp Việt đề huề”.
– Cũng trong thời kỳ 1924-1932, ông làm Giảng sư khoa Văn Chương và Ngôn Ngữ Hán-Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội.
– Năm 1922, Phạm Quỳnh còn tham gia sáng lập và làm Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến đức, giữ cương vị Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. Ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille có bài diễn thuyết ở cả Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp.
Năm 1925-1928, làm Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ.
Năm 1926, làm nhân viên Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ.
– Năm 1929, ông được cử vào Đại hội nghị Kinh tế Lý tài Đông Dương, cùng với ông Nguyễn Văn Vĩnh.
– Năm 1930, trước phong trào nổi dậy của dân Việt, đối với chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của người dân Việt, vua quan Việt, và chính quyền Bảo Hộ Pháp.
– Năm 1931, Phó Hội Trưởng, Hội Địa Dư Hà Nội,
– Năm 1931- 1932, Tổng Thư Ký, Ủy Ban Cứu Trợ Xã Hội Bắc Kỳ.
– Cuối năm 1932, ông vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, thời gian đầu làm Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).
– Năm 1939, ông cùng vua Bảo Đại sang Pháp xin chính phủ Pháp trả lại Bắc Kỳ cho triều đình Huế (theo đúng Hiệp Ước 1884 Pháp Việt đã ký).
– Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam.
– Ngày 23-8-1945 ông bị Việt Minh bắt và giam ở lao Thừa Phủ, Huế. Trong lúc du kích dẫn giải cấp tốc ông cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi) rời khỏi Huế đề phòng những chuyện bất trắc không hay. Cả ba người bị nhóm áp tải thủ tiêu mà không rõ theo chỉ thị nào của cấp trên. Vì thế có nhiều giả thuyết khác nhau về lệnh giết ba người. Mãi tới năm 1956 mới tìm thấy di hài ông trong khu rừng Hắc Thú và cải táng tại khuôn viên chùa Vạn Phước.

2. Nam Phong là tạp chí xuất bản hằng tháng ở Hà Nội những năm 1917-34. Thành lập theo chủ trương của Toàn quyền Pháp Albert Sarraut. Phạm Quỳnh làm chủ bút, phụ trách phần tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ; phần chữ Hán do Nguyễn Bá Trác đảm nhận. Từ 1922 trở về sau có thêm phần tiếng Pháp.

Ngoài mục đích ban đầu là tuyên truyền chính sách bảo hộ và đề cao công cuộc “khai hóa” của Pháp ở Việt Nam, tạp chí còn mở rộng khảo sát các đề tài lịch sử xã hội và văn hóa-văn minh của Việt Nam và thế giới. Về văn học, Nam Phong chuyên về biên khảo, dịch thuật và giới thiệu sáng tác mới. Có các mục Văn uyển, Tiểu thuyết, Văn học bình luận – cung cấp cho độc giả một số kiến thức khái quát về văn học, triết học, lịch sử, địa lí; bước đầu giới thiệu văn học cổ Việt Nam bằng chữ Hán qua các triều đại; dịch ra quốc văn một số tác phẩm văn học có giá trị như thơ văn thời Lý-Trần, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ, “Thượng Kinh kí sự” của Lê Hữu Trác và nhiều tác phẩm thơ văn cổ khác. Trong xu thế đề cao tinh thần “bảo tồn cổ học”, “dung hòa Đông Tây”, tạp chí có vị trí nhất định và có cống hiến trong đời sống văn hóa và báo chí Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20.

Các bài viết của Phạm Quỳnh ở tạp chí Nam Phong, được ông tập hợp lại trong bộ sách gồm năm tập, gọi là “Thượng Văn chi tập” (1943), về sau được Bộ Quốc gia Giáo dục tái bản (1962).

3. Theo thống kê, ông đã có trên 30 công trình nghiên cứu, phê bình chủ yếu của các nhà nghiên cứu, học giả thuộc nhiều thế hệ phát biểu ý kiến nhìn nhận về văn nghiệp Phạm Quỳnh và vị trí của ông trong lịch sử văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Dưới đây là những phác hoạ tổng quát mấy khuynh hướng chính trong việc đánh giá văn nghiệp học giả Phạm Quỳnh.

*Khuynh hướng phủ nhận là chính, đứng trên nhãn quan chính trị tất cả cho công cuộc giành độc lập, giải phóng dân tộc.

Khuynh hướng này gắn chặt con người chính trị của Phạm Quỳnh với các hoạt động văn hoá đầy mâu thuẫn của ông; không thừa nhận mảy may hiệu quả khách quan trong hoạt động báo chí, văn chương của ông, mà áp đặt cứng nhắc với yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc; cho rằng chủ trương bảo tồn quốc hồn, quốc tuý, tiếng Việt mà Phạm Quỳnh cổ xuý làm chệch hướng đấu tranh cách mạng trực tiếp với kẻ thù.

Tuy nhiên về chủ tâm của Phạm Quỳnh: cam chịu làm tay sai hay chỉ muốn lợi dụng địch hoặc trong ông có những uẩn khúc nào, tâm sự của ông ra sao thì tài liệu hãy còn sơ sài ngoài tập di bút “Hoa đường tùy bút” chưa trọn vẹn. (Các ý kiến của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Văn Trung, Trần Đình Hượu, Nguyễn Văn Hoàn, Thiếu Sơn giai đoạn sau…).

*Khuynh hướng thận trọng và cởi mở, ghi nhận những đóng góp khách quan của Phạm Quỳnh (gắn liền với các cộng sự của ông trong nhóm Nam Phong tạp chí) ở phần khả thủ nhất.

Khuynh hướng này thiên về xem xét ảnh hưởng tích cực của lập trường dân tộc, chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh trong thái độ trân trọng di sản văn học dân tộc, truyền bá, dịch thuật những tác phẩm văn chương ưu tú của nước ngoài, chăm chút ngôn ngữ tiếng Việt. Không vội vàng kết luận về động cơ chính trị của Phạm Quỳnh, một khi chưa đầy đủ căn cứ xác thực để minh định bản tâm của Phạm Quỳnh. (Các ý kiến: Thiếu Sơn thời kỳ đầu, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Nghiêm Toản, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguyễn Ngọc Thiện, Trần Đình Sử, Trịnh Bá Đĩnh, Từ điển văn học (bộ mới) do Đỗ Đức Hiểu chủ biên…) .

*Khuynh hướng chiết trung, chiêu tuyết, biện hộ cho Phạm Quỳnh cho rằng trong sâu xa, cơ bản ông là người yêu nước theo kiểu của ông.

Khuynh hướng này chứng minh những lời nói tâm huyết của ông bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, làm sáng tỏ cái chết oan khuất của ông; chủ trương cần xuyên qua vỏ bọc ngoài để thấy ẩn ý tốt đẹp hướng về dân tộc trong tác phẩm của ông. (Các ý kiến của Nguyễn Trần Huân, Vương Trí Nhàn, Xuân Ba…). Đơn cử ý kiến của Nguyễn Trần Huân: “Sự xoay sở tế nhị của Phạm Quỳnh để dung hoà đôi bên rút cục có lợi cho Việt Nam, nếu không kể một vài nhượng bộ cần thiết cho thực dân Pháp”. “Nói cho thật khách quan, nên nhận rằng đó là một sự xấu xa cần thiết tương đối nhỏ bé so sánh với những công lao to tát mà tạp chí đã làm cho tiếng Việt. Nhóm Phạm Quỳnh đã tạo những huy hiệu cao cả cho nền văn chương Việt Nam trẻ tuổi đang hình thành và tìm kiếm con đường của mình”.

Mấy lời tự bạch:

Tôi còn nhớ năm sáu năm về trước, hồi tôi mới lập ra báo Nam Phong này, ngoài mấy anh em làm báo, không thấy mấy người làm văn quốc ngữ. Có lẽ không ai nghĩ đến rằng chữ Quốc ngữ có thể làm thành văn chương được. Trước tôi, ông Nguyễn Văn Vĩnh từ hồi báo Đăng Cổ đã hết sức hô hào, ông thường nói: “Hậu vận nước Nam hay dở thế nào là ở chữ Quốc ngữ.” (trong bài đề tựa ho bản dịch Tam Quốc Chí của Phan Kế Bính). Vì ông với tôi trước sau vẫn có một chủ nghĩa là biết rằng ở nước ta chữ Nho không thể giữ được hết, chữ Tây không thể học được khắp, nhưng muốn cho chữ Quốc ngữ dùng được việc thì phải rèn tập cho mỗi ngày mỗi hay hơn lên. Bởi thế nên chúng tôi gia công gắng sức trong bao nhiêu năm, không quản công phu khó nhọc, không quản cớ kẻ chê bai, chỉ ước ao có một điều là có ngày người mình cũng “làm văn” được như người, nghĩa là làm văn bằng tiếng mình, không phải mượn tiếng người. Ngày ấy có lẽ đã tới đây…

(Trích “Làm Văn”, trang 18, Nam Phong, số 67, tháng 01-1923)

Về phần riêng tôi, như thế là số mệnh đã an bài. Tôi là người của chuyển tiếp, vì vậy, sẽ không bao giờ được người đời hiểu mình. Chuyển tiếp giữa Á Đông và Tây Âu, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị sản phẩm của xâm lăng và đương nhiên là phải hư hỏng ngay từ nền tảng, và một nền trật tự mới không thể nhất đán mà thành tựu, khả dĩ biết tôn trọng phẩm cách của con người. Sống giữa đầy rẫy những mâu thuẫn như thế, cố gắng dung hòa các mâu thuẫn đó, với hoài bão thực hiện một chương trình tiến hóa hợp tình hợp lý khả dĩ đưa đến tình trạng hòa hợp toàn diện; dĩ nhiên là tôi phải đương đầu với những ngộ nhận đủ loại…

Và một cuộc phiêu lưu đưa đến với tôi.

Là một nhà ái quốc An Nam, tôi yêu nước với tất cả tâm hồn: người ta lên án tôi phản bội Tổ quốc, vì tôi đồng lõa với xâm lăng và phục vụ xâm lăng!

Mặt khác, là bạn chân thành của nước Pháp: người ta lại trách tôi khéo léo che đậy một ý thức quốc gia khe khắt và bài Pháp sau một tấm bình phong thân Pháp !

Và trường hợp của tôi làm ai nấy ngạc nhiên. Người ta cố tìm hiểu giải thích, bằng đủ mọi cách, mà vẫn không thể hiểu.

Có lẽ, một ngày kia, người ta sẽ hiểu, khi một thỏa hiệp được chào đời có thể hòa giải tinh thần quốc gia An Nam và chính sách thuộc địa Pháp.

Tôi tin sự hòa giải có thể thực hiện được. Nhưng trong khi sự hòa giải đó chưa được thực hiện, cuộc phiêu lưu của tôi không tránh khỏi trở nên bi đát?

Có lẽ chăng, đó chẳng phải là cuộc phiêu lưu của riêng tôi. Nó vượt ra ngoài khuôn khổ của một cá nhân, để trở nên của cả một thế hệ, một thời đại”.

Thư “Chúc mừng năm mới” gửi Marty, ngày 30/12/1933

(Theo bà Phạm Thị Ngoạn: Tìm hiểu Tạp Chí Nam Phong, nguyên tác viết bằng tiếng Pháp, bản dịch của Phạm Trọng Nhân, Nxb Ý Việt, Yenes, Pháp, 1993).

Các tác phẩm chính:

Thượng Chi văn tập (5 tập) (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962)
Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà văn – H, 2004)
Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932 (NXB Tri thức, H,2007)
Mười ngày ở Huế
Một tháng ở Nam Kỳ
Luận giải về văn học và triết học (Nxb. Văn hoá Thông tin và Trung tâm văn hoá – ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, H, 2003)
Hoa Đường tùy bút

Một số công trình nghiên cứu liên quan tới văn nghiệp học giả Phạm Quỳnh:

Phê bình và Cảo luận: Phê bình nhân vật – Thiếu Sơn (Hà Nội, 1933)
Bài học Phạm Quỳnh – Thiếu Sơn (trước 1973)
Văn học Việt Nam dẫn luận (Introduction à la litérature Vietnamienne) – Maurice Durant và Nguyễn Trần Huân (Maison neulve et la rose, Paris, 1969)
Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (T3) – Phạm Thế Ngũ (Sài Gòn, 1965)
Chủ đích Nam Phong – Nguyễn Văn Trung (Nam Sơn, Sài Gòn, 1975)
Trường hợp Phạm Quỳnh – Nguyễn Văn Trung (1973 – 1975)
Vụ án Truyện Kiều – Nguyễn Văn Trung (1973 – 1975)
Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX – Đặng Thai Mai (bản in lần thứ ba, H. 1974)

Phạm Quỳnh qua cái nhìn hậu thế

Sự công bằng lịch sử được trả lại (*)

Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

Báo chí – nhà báo và sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại đầu thế kỷ XX

Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ

Nhãn quan văn hóa của Phạm Quỳnh, qua du ký

Lý luận phê bình văn học của Phạm Quỳnh

Trực diện với Văn học Việt Nam thế kỷ XX

Phạm Quỳnh – Ngọn gió Nam

In lại Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh

Về một bài thơ bây giờ mới được biết đến – Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh

Trích đăng tác phẩm Phạm Quỳnh

Một tháng ở Nam Kỳ

Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932

Lời giới thiệu Phạm Toàn

Việt Nam – Tâm hồn và bản chất – Nguyễn Xuân Khánh dịch

Trên sông Hương

Thơ nước Nam

Người nông dân Bắc Kỳ qua tiếng nói bình dân

Việt Nam ở giao điểm các nền văn minh – Nguyên Ngọc dịch

I – Bản sắc đất nước và con người nước Nam

Bài học lịch sử

Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam
Tâm lý ngày Tết
Suy nghiệm về lịch sử nước Nam

Bài học của tổ tiên

II – Phương Đông và Phương Tây – Các quan hệ văn hóa Pháp-Việt

Phương Đông và phương Tây

Vấn đề phương Đông và phương Tây
Những lý tưởng của Phương Đông

Khổng Tử và Khổng giáo

Triết gia Mạnh Tử

Một khuôn mặt triết học Trung Hoa độc đáo: Mặc định – vị tông đồ của hòa bình và hữu nghị

Ý nghĩa của Phật giáo

Theo con đường của Thích Ca Mâu Ni

Tấm gương Nhật Bản

Suy nghĩ về Trung Hoa

Ba bình diện

Những lễ hội phù hoa của trí năng

Trả lời ngài Paul Viviane

Phương pháp

Học thuyết

Tiếp thụ

Những lời tâm sự
Trường phái lãnh đạo

Sự tổng hợp cần thiết

Việt Nam – Chủ nghĩa dân tộc và chế độ bảo hộ Pháp – Ngô Quốc Chiến dịch

Chính trị

Chính sách tôn trọng nhau

Điều kiện để Pháp-Nam xích lại gần nhau

Chủ nghĩa dân tộc
Tinh thần bất ổn
Về các cuộc cải cách

Bảo hộ hay trực trị

Cải cách chính trị

Tiến tới một bản hiến pháp

Thư ngỏ gửi ngài Bộ trưởng thuộc địa

Thể chế Liên bang Đông Dương yà chủ nghĩa dân tộc nước Nam

Sứ mệnh của nước Pháp

Việt Nam – Những vấn đề văn hóa và chính trị – Phạm Xuân Nguyên dịch

Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi

Những vấn đề giáo dục và dạy học – Nhật Bản và Đông Dương

Cải cách trí tuệ và luân lý
Cuộc tiến hóa của tiếng nước Nam (*)

Một nền văn hóa dân tộc
Văn hóa Pháp và Phục Hưng nước Nam

Một vấn đề ngôn ngữ học

Ngôn ngữ mới của nước Nam

Nghiên cứu vốn cổ Hán-Nôm

Các môn cổ văn Hán-Nôm

“Những trang Pháp” hay người Nam và tiếng Pháp

Thượng Chi văn tập (Quyển 1)

Năm 1943, thể theo lời yêu cầu của một số đông độc giả, nhà văn Phạm Quỳnh đã chọn lọc và nhuận chính lại một số bài của ông đã đăng ở Nam Phong tạp chí, và cho in thành bộ “Thượng Chi văn tập” (5 quyển). Bộ sách gồm những bài mà Phạm Quỳnh đã khiêm nhượng cho là “nghe được” – song trên thực tế, đây hầu hết là những bài bình luận, dịch thuật khảo cứu có giá trị chắc chắn đối với công cuộc bảo tồn kho tàng văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam

Tự ngôn
Nghĩa vụ là gì?
Sự giáo dục đàn bà con gái
Thơ ta thơ tây
Văn quốc ngữ
Nghĩa vụ của nhà làm báo
Khái luận về văn minh học thuật nước Pháp
“Cái nghĩa chết” (Bình luận tiểu thuyết)
Hội Hàn lâm nước Pháp
Nghĩa gia tộc (Bình luận tiểu thuyết)
“Chúa bể” (Bình luận tiểu thuyết)
“Phục thù cho cha” (Bình luận tiểu thuyết)
Thơ Baudelaire
Triết học là gì?
Triết học nước Pháp
Descarte, tổ triết học nước Pháp
Đẹp là gì?
Một nhà khoa học nước Pháp: Marcelin Berthelot
Văn thuyết

Thượng Chi văn tập (Quyển 2)

Lời văn đẹp tư tưởng hay

Dịch Phápvăn

Tựa bài “Tế Tướng sĩ văn”

Phê-bình thơ văn mới: “Một tấm lòng”

Sử luận.

Sử học chuyên luận

Chữ Nho với văn Quốc-ngữ

Tiếng Việt Nam có cần phải hợp nhất không ?

Đã nên làm Từ điển Việt Nam chưa ?

Trảy Chùa Hương

Chữ Pháp có dùng làm Quốc văn Việt Nam được không ?

Khổng phu Tử Luận

Đạo đức đã đến ngày từ chức chăng?

Thế lực của đồng tiền

Một nhà văn tả thực : Guy de Maupassant

Danh dự luận

Tịch mịch

Luận giải văn học và triết học Phạm Quỳnh

Cuốn sách tập hợp những bài viết cho là tốt và tiêu biểu cho ngòi bút Phạm Quỳnh, hầu hết đã in trên tạp chí Nam Phong. Qua đó bạn đọc sẽ thấy rõ hơn được phần nào trạng thái tư tưởng và học thuật ở buổi giao thời Á Âu, thấy được phương diện học giả của chủ bút Nam Phong tạp chí.

Văn quốc ngữ
Chữ Nho với văn quốc ngữ
Bàn về quốc học
Quốc học với quốc văn
Bài diễn thuyết bằng quốc văn
Tục ngữ ca dao
Truyện Kiều
Thơ ta thơ Tây
Bàn về tiểu thuyết
Khảo về diễn dịch
Bàn về diễn thuyết
Thơ là gì?
Phê bình thơ văn mới: “Một tấm lòng” của Đoàn Như Khuê
Văn học nước Pháp
Thơ Baudelaire
Một nhà văn tả thực: Guy de Maupassant
Phục thù cho cha
“Cái nghĩa chết”
Triết học là gì?
Descarte, tổ triết học nước Pháp
Tư tưởng Keyserling
Phật giáo lược khảo
Khổng giáo luận
Văn minh luận
Đông Á, Tây Âu hai văn minh có thể dung hòa được không?
Đẹp là gì?
Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây

Hoa Đường tùy bút:

Tập Hoa Đường tùy bút – Kiến Văn, Cảm Tưởng I, với bài cuối cùng Cô Kiều và tôi viết còn dở dang là những lời tâm sự ông rút từ ruột gan mình muốn thổ lộ, nhắn gửi với người đời sau. Đây là bản thảo đầu tiên ông viết chỉ để mình đọc, chưa phải để đưa đi in. PhamTon’s blog đã thu thập bản sao chụp toàn bộ 11 bài ấy và công bố nguyên văn.

Thế thái nhân tình
Muốn sống
Chỉ buộc chân voi
Văn học, chính trịVô duyên
Chuyện một đêm một ngày
Con người hiểm độc
Anh chàng khoác lác
Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường
Tư tưởng Keyserling
Cô Kiều và tôi

Mười ngày ở Huế

Cung chiêm các Tôn Lăng