Ý nghĩa nhan đề bài thơ Viếng lăng Bác

Ý nghĩa nhan đề bài thơ Viếng lăng Bác

Bài làm

Mỗi một tác phẩm, một bài thơ – “đứa con tinh thần” của người nghệ sĩ – đều được nâng niu, trân trọng, mang theo một cái tên đầy ý nghĩa và những quan điểm, triết lí của tác giả về cuộc đời – ấy chính là nhan đề tác phẩm. Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương cũng vậy. Chỉ đơn giản 3 chữ thôi, tưởng chừng như chỉ đơn giản là một lời thông báo về hành động ra lăng Bác viếng thăm của nhân vật trữ tình, hay cũng chính là tác giả, nhưng ẩn chứa bên trong lại chính là tiếng lòng thành kính, xót thương, trân trọng cùng biết ơn của chính Viễn Phương – nhà thơ, cũng như là của chính những đồng bào miền Nam đối với Bác – vị lãnh tụ, vị Cha già kính yêu của dân tộc. Cách lựa chọn từ để đặt nhan đề của tác giả rất đặc biệt. “Viếng” chính là từ dùng để chỉ hành động đến chia buồn với người đã mất; ấy nhưng ở câu thơ đầu bài thơ, tác giả lại dùng từ “thăm” chứ không phải là “viếng”. “Thăm” lại là hành động đến thăm hỏi, trò chuyện và gặp gỡ với người còn sống. Còn “lăng Bác” là nơi vị Cha già ấy yên nghỉ. Nhan đề bài thơ đã đề cập đến một sự thật đau lòng rằng Người đã nhắm mắt, đã đi xa. Nhưng khi nó kết hợp với cách dùng từ ở câu thơ đầu tiên đã mở ra một tầng ý nghĩa sâu rộng hơn cả bên trong tình cảm thiêng liêng của tác giả, người dân Việt Nam với Bác: đó không chỉ đơn giản là biết ơn, là kính trọng, mà với người dân miền Nam nói riêng và người dân Việt Nam nói chung, Bác vẫn còn sống mãi trong lòng con dân.

Xem thêm:  Nghị luận về hiện tượng sống ảo của giới trẻ, học sinh hiện nay trên facebook, zalo

Từ khóa tìm kiếm

Ý nghĩa nhan đề bài thơ Nói với con

Ý nghĩa nhan đề bài thơ Nói với con

Bài làm

Mỗi một tác phẩm – “đứa con tinh thần” của người nghệ sĩ, đều được cha đẻ trân trọng đặt riêng cho một cái tên, ấy chính là nhan đề tác phẩm. Nhan đề tác phẩm văn học luôn chứa đựng thông điệp, tình cảm, cũng như những triết lí nhân sinh tác giả muốn gửi gắm đến bạn đọc. Nhan đề “Nói với con” của Y Phương cũng vậy. Ba chữ trong nhan đề như vẽ ra trước mắt ta một bức tranh về người cha cùng đứa con thân yêu, người cha tỉ mỉ cùng dịu dàng nói cho con nghe những điều trong cuộc đời phải nhớ, ân cần dặn dò, dạy bảo con. “Nói với con” – dường như đó không chỉ đơn giản là lời của người cha dặn con về cội nguồn, về quê hương… mà còn là lời dặn tới thế hệ tương lai sau này phải luôn ghi nhớ tới cội nguồn của mình, luôn ghi nhớ đến tình cảm gia đình, quê hương, đất nước để sống sao cho có ý nghĩa, cho phù hợp. Chính nhan đề đã gợi ra cho ta những cảm nhận đầu tiên về trang thơ của Y Phương, nhẹ nhàng tình cảm, chứa chan bao yêu thương với giọng thơ chậm rãi, ôn nhu, tựa như tình cảm của người cha dành cho con vậy. Như vậy, nhan đề bài thơ không chỉ là lời người cha nói với con, mà còn là lời dặn đến thế hệ tương lai. Y Phương đã dành trọn triết lí thâm sâu của mình vào 3 chữ “Nói với con” của nhan đề đến bạn đọc.

Xem thêm:  Phân tích tâm trạng nhân vật Liên.

Ý nghĩa hình ảnh con quạ trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn

Ý nghĩa hình ảnh con quạ trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn

Bài làm

Lỗ Tấn (1881 – 1936) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Ông là nhà văn cách mạng thế hệ đầu tiên có phương châm và mục đích sáng tác đúng đắn, dùng ngòi bút để phanh phui các “căn bệnh tinh thần của quốc dân”, tác phẩm Thuốc là một trong số đó. Một trong những thành công của tác phẩm đó là chi tiết hình ảnh con quạ xuất hiện ở cuối bài.

Khi nói đến loài quạ, có vẻ như trong suy nghĩ của chúng ta chúng luôn mang một ý nghĩa xấu. Có lẽ đó là vì ở phương Tây quạ từ lâu đã được coi là một điềm xấu, ngay cả trong các nền văn hóa nơi mà các con quạ được xem là thủ môn của pháp luật thiêng liêng, nó vẫn còn là biểu tượng của “mặt tối”, “cái không biết”. Ở châu Á, trong văn hóa của Trung Quốc và Nhật Bản đã chọn để miêu tả con quạ như một biểu tượng tốt, là một ví dụ về tình yêu, hiếu thảo và sự tận tâm. Một truyền thuyết Trung Quốc còn miêu tả quạ như một biểu tượng mặt trời, chim đại diện cho nguyên lý sáng tạo.

Nội dung truyện xoay quanh chủ đề Thuốc – một thứ “thuốc” kinh khủng, gớm ghiếc hiếm có xưa nay. Đó là bánh bao tẩm máu tươi của những kẻ tử tù bị chém đầu, đem nướng lên cho người bệnh ăn. Thiên hạ đồn rằng thứ thuốc ấy chữa khỏi được cà những bệnh thuộc “tứ chứng nan y” như phong, lao, cổ, lại. Vợ chồng lão Hoa chủ quán trà gom góp số tiền tích cóp đã lâu và lão Hoa đích thân đến tận pháp trường để mua “thuốc” cho con trai bị bệnh lao nặng, với hi vọng là nó sẽ khỏi bệnh. Nhưng đau xót thay, máu của tử tù chết chém không chữa được bệnh lao! Thế là tiền mất tật mang, cuối cùng đứa con trai độc đinh của vợ chồng lão Hoa vẫn chết.

Xem thêm:  Giải thích câu tục ngữ Lửa thử vàng gian nan thử sức – Văn mẫu lớp 7 tuyển chọn

y nghia hinh anh con qua trong tac pham thuoc cua lo tan - Ý nghĩa hình ảnh con quạ trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn

Ở cuối truyện chúng ta bắt gặp hình ảnh hai bà mẹ đi thăm mộ con. Nghĩa địa của làng mộ dày khít như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ, có một con đường mòn ở giữa chia làm hai: Nghĩa địa người chết chém phía bên trái nghĩa địa người nghèo phía bên phải. Cả hai bà mẹ cùng rất kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa: “hoa trắng hoa hồng nằm khoanh trên nấm mộ khum khum”. Bà mẹ Hạ Du cứ lẩm bẩm câu hỏi “Thế này là thế nào?”. Câu hỏi vừa hàm chứa sự sửng sốt, vừa ẩn giấu niềm vui vì có người đã hiểu con mình. Đồng thời đã là câu hỏi thì đòi hỏi có câu trả lời. Việc làm của Hạ Du đã khiến mọi người phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Với vòng hoa, Lỗ Tấn đã bày tỏ sự trân trọng và tiếc thương đối với người chiến sĩ cách mạng tiên phong.

Con quạ là một hình ảnh đặc biệt và có ý nghĩa biểu trưng trong phần kết truyện. Khi đang cố nhìn ngó xung quanh để xem ai đã đến đặt vòng hoa lên mộ con bà thì bà Hạ chỉ nhìn thấy “một con quạ đen đậu trên cành khô trụi lá”. Tiếng khóc của bà Hạ cất lên sau đó là lời kết án, theo luật nhân quả báo ứng trong tâm thức của những người dân bình thường: “chúng nó giết con thì rồi chúng nó sẽ bị báo ứng thôi”. Con quạ trong văn hóa Trung Hoa có một ý nghĩa khác với quan niệm dân gian của Việt Nam. Ở Việt Nam, con quạ là kẻ tham ăn, vì thế nó đã phải mang bộ lông màu đen suốt đời, là biểu tượng của điềm dữ, thường gắn liền với những bất hạnh của con người. Con quạ vốn là loài chim phổ biến ở các nước xứ lạnh. Trong văn hóa Trung Hoa cũng như trong văn hóa Nhật Bản, con quạ là biểu tượng của “đức hiếu thảo”, cho nên lời cầu khẩn của bà Hạ: “Nếu hồn con quả thật đang ở đây nghe lời mẹ nói thì con ứng vào con quạ kia, đến đậu vào nấm mộ con cho mẹ xem, con ơi!” cũng cho thấy quan niệm văn hóa đặc biệt đó. Cho dù “con quạ vẫn đậu trên cành khô trụi lá, rụt cổ lại, im lìm như đúc bằng sắt” thì trong cảm thức bà Hạ vẫn sống dậy một niềm tin. Ngoài ra, người Hán xem quạ như một dấu hiệu thần kì để tái lập trật tự xã hội. Đối với người Trung Hoa, quạ là con chim của mặt trời, là hiện thân của mặt trời, là “kim ô” mà câu chuyện Hậu Nghệ bắn mặt trời luôn được truyền tụng đã cho thấy điều đó.

Xem thêm:  Đề thi chọn đội tuyển HSG Ngữ văn 10- Văn học trung đại

Với hình ảnh con quạ vút bay về phía trời xa cũng chính là một dự cảm của Lỗ Tấn về một ngày không xa sự nghiệp cách mạng nói chung sẽ đến được bầu trời cao đẹp tự do, con người Trung quốc sẽ được giải phóng. Đó còn có thể chính là hình ảnh tìm thấy một con đường đi mới cho cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ dẫu còn nhiều xa vời cách trở.

Từ khóa tìm kiếm

Ý nghĩa hình ảnh con đường mòn trong truyện Thuốc của Lỗ Tấn

Ý nghĩa hình ảnh con đường mòn trong truyện Thuốc của Lỗ Tấn

Bài làm

Thuốc là truyện ngắn hiện thực đặc sắc của nhà văn Lỗ Tấn, tác phẩm thể hiện nỗi đau của cả Trung Quốc trong xã hội đương thời khi đứng trước thực trạng cả dân tộc Trung Quốc khi “ngủ say trong cái nhà hộp bằng sắt” còn người cách mạng thù “bôn ba trong chốn quạnh hiu”. Tư tưởng chủ đề của “Thuốc” được thể hiện bằng một loạt chi tiết đắt giá, đó là những chi tiêu biểu như chiếc bánh bao tẩm máu, hình ảnh vòng hoa mà còn được truyền tải thông qua những chi tiết thoáng qua nhưng lại thể hiện ý nghĩa sâu sắc như hình ảnh con đường mòn xuất hiện gần cuối tác phẩm.

Bối cảnh của tác phẩm Thuốc là xã hội tăm tối, ngột ngạt dưới ách thống trị của triều đình Mãn Thanh trước khi nổ ra phong trào cách mạng Ngũ Tứ – sự kiện mở đầu cho lịch sử Trung Quốc hiện đại. Sự xâm chiếm và can thiệp thô bạo của một số đế quốc như Anh, Pháp, Mĩ, Nhật đã biến Trung Quốc thành một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa. Thời vàng son của các triều đại vua chúa đã ở vào dĩ vãng. Thay vào đó là một xã hội đình trệ, suy thoái mà theo nhận định của Lỗ Tấn: So với tiến bộ thì đình trệ cũng gần với con đường diệt vong rồi.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận

y nghia hinh anh con duong mon trong truyen thuoc cua lo tan - Ý nghĩa hình ảnh con đường mòn trong truyện Thuốc của Lỗ Tấn

Phần cuối của tác phẩm là hình ảnh hai bà mẹ đi thăm mộ con. Họ đều có điểm chung là có con bị chết trẻ, họ cùng đến nghĩa địa để viếng con. Những người con của họ đều được chôn tại miếng đất dọc chân thành phía Tây vốn là đất công. Điều khác biệt là những đứa con ấy được chôn ở hai phía của nghĩa địa được ngăn cách bằng “con đường mòn, nhỏ hẹp, cong queo” do “những người hay đi tắt giẫm mãi mà thành”. Con đường tạo ra bởi thói quen, bởi thành kiến ngự trị lâu ngày, thói quen ăn sâu thành nếp nghĩ trong đầu óc mọi người, bởi thế con đường này không chỉ để đi mà con đường này còn là con đường của thành kiến, được tạo ra bằng sự u mê, dẫn tới sự đối xử không bình thường, thành sự ngăn cách tự nhiên, bất khả kháng của những con người trong xã hội ấy.

Đứa con của bà Hoa được chôn ở “phía tay phải” nơi dành cho “những người nghèo”, còn đứa con của bà Hạ thì chôn ở phía tay trái, nơi dành cho “những người chết chém hoặc chết tù”. Con đường trở thành ranh giới ước định giữa “dân” và “giặc”. Điểm nổi bật lên từ nghĩa địa này là cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ mà từ đó toát lên ý nghĩa biểu trưng là các nhà giàu, tức tầng lớp thống trị trong xã hội Trung Hoa thời đó, tồn tại trên sự hi sinh xương máu của “dân” và của “giặc”, “dân” bị bóc lột, bị bần cùng hóa mà chết dần chết mòn trong đói khổ, còn nếu chống đối thì bị qui là “giặc” và tất yếu là phải chết. Cả hai loại chết đều cùng vì khổ đau, vì bị áp bức nhưng lại bị phân biệt đối xử rõ ràng qua hai nửa của nghĩa địa được ngăn cách bằng con đường của thành kiến mê muội ấy. Điều đó thể hiện qua hình ảnh “bà kia ngập ngừng không dám bước tới nữa, sắc mặt xanh xao bỗng đỏ lên vì xấu hổ”, bởi lẽ phần mộ của con bà nằm bên phía dành cho người “chết tù hoặc chết chém” tuy “nấm mộ” của con bà “với nấm mộ của thằng Thuyên nằm cùng một hàng, chỉ cách con đường mòn ở giữa”.

Xem thêm:  Chuyên đề Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề văn bản thuyết minh

Có thể thấy người dân Trung Quốc lúc bấy giờ rất lạc hậu, u mê với những tư tưởng kì quái, trong nhận thức hạn hẹp của họ, những người làm cách mạng đồng nghĩa với giặc, những người đáng bị lên án, trừng phạt. Do vậy, hình ảnh con đường mòn xuất hiện gần cuối tác phẩm như sự ám ảnh ghê gớm về sự u mê, tăm tối của người dân Trung Quốc đương thời, thái độ và hành động của những người dân ấy điển hình cho nước Trung Hoa thời trung cổ.

Dưới ngòi bút của Lỗ Tấn, hình ảnh con đường mòn hiện lên như là một biểu hiện của tình trạng u mê, lạc hậu của người dân Trung Quốc thời kì trước cách mạng. Qua đó hứa hẹn một tương lai tốt đẹp ở phía trước.

Ý nghĩa chi tiết giọt nước mắt của Chí Phèotrong truyện ngắn Nam Cao

Ý nghĩa chi tiết giọt nước mắt của Chí Phèotrong truyện ngắn Nam Cao

Hướng dẫn

Ý nghĩa chi tiết giọt nước mắt của Chí Phèo trong truyện ngắn Nam Cao:

Bài làm:

Nước mắt vốn là sản phẩm cụ thể của tình cảm. Là thứ mà con người ta chỉ đến khi rơi vào trạng thái nảy sinh một tâm trạng, và đỉnh cao của nỗi đau hay niềm vui hạnh phúc, đều có thể trào nước mắt. Văn học việt Nam vốn là một thế giới phong phú, vậy nên ở đó ta có thể bắt gặp được những giọt nước mắt của nhiều nhân vật khác nhau. Giọt nước mắt của bà cụ Tứ trong vợ nhặt hay giọt nước mắt trong hạnh phúc một tang gia. Nhưng hơn cả, ta vẫn nhận ra sự đau xót của nhân vật trong Chí Phèo.

Giọt nước mắt chí phèo không đơn thuần là nỗi đau, đó còn là hạnh phúc của một tâm hồn đã được nhận tình yêu thương như một món quà đặc ân của thượng đế. Chí vốn được xem là một con quỷ dữ của làng Vũ Đại, đi đến đâu hắn cũng gây ra bao đau thương, một con người có tâm hồn mất đi nhân tính và cô đơn.

Nhưng, Thị Nở đã đến, “hắn thèm lương thiện” Thị như một cứu tinh của bến bờ lương thiện trong Chí. Chí Phèo cảm động, chưa có ai gần gũi hắn như thế, chưa có ai quan tâm hắn như thế, hắn chưa bao giờ được một người đàn bà nào cho cái gì, toàn hắn đi dọa nạt, và hắn nhớ tới bà Ba, con quỷ cái…

Xem thêm:  Tinh Thần Yêu Nước Qua 3 Văn Bản Chiếu Dời Đô Hịch Tướng Sĩ Nước Đại Việt Ta

Từ đó, con người lương thiện bên trong Chí được bộc lộ. Là con người, hắn cũng biết khóc, biết rung động trước những tình cảm của mình. “thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình như ươn ướt” Một con người như Chí đã khóc, khóc vì một loạt cảm xúc chưa từng có. Hắn vừa vui vừa buồn vừa ăn năn giọt nước mắt làm thức tỉnh con người bên trong của hắn bản chất của một tâm hồn lương thiện.

Đó cũng là giọt nước mắt đau khổ. Thị nở sau khi nghe lời bà cô đã rũ bỏ tình cảm với hắn, Chí Phèo níu kéo Thị, nhưng Thị gạt ra “hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu, hắn bỗng nhiên ngẩn người” “hắn ôm mặt khóc rưng rức” tiếng khóc của một con người đau khổ tuyệt vọng, con đường đến với lương thiện của hắn đã mất thật rồi…

Nam Cao vốn là nhà văn có biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật, ông sử dụng những cái đó để hóa thân vào nhân vật, bộc lộ miêu tả nỗi đau nhân vật. Giọt nước mắt của Chí, một kẻ lưu manh cũng là của một anh canh điền lành như đất. Đã cho ta thấy sức tố cáo của xã hội phong kiến, và cũng là sự cảm thương cho nhân vật của tác giả cũng là cho người nông dân lúc bấy giờ.

Xem thêm:  Phân tích chi tiết cho chữ trong chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Theo Vanmau.top

Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian

Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian

Hướng dẫn

Mục Lục

Trong bài Tựa viết cho tập Thơ thơ của Xuân Diệu, Thế Lữ có nêu nhận xét:

“Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”

Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên. Chọn và phân tích một vài đoạn thơ của Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám để làm rõ vấn đề.

Đề thi chọn học sinh giỏi Văn quốc gia năm 1974 – 1975

Bài làm:

Hành trình của đời người đi cùng với thời gian phiêu lãng. Với tình cảm yêu mến, trân trọng nhà thơ – chàng trai trẻ hiền hậu và say mê tóc như mây vướng trên đài trán ngây thơ mắt như bao luyến mọi người và miệng cười mở rộng một tấm lòng yêu đời. Chàng đi trên đường thơ hái những bông hoa gặp dưới bước chân những hương sắc nảy ra bởi ánh sáng của lòng chàng. Chính vì vậy mà trong bài Tựa viết cho tập Thơ thơ của Xuân Diệu, nhà thơ Thế Lữ đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”.

Cứ mỗi lần xuân tới, những trái tim non trẻ của các thế hệ học sinh lại rung lên những cảm xúc mãnh liệt trước tâm tình của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài thơ Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn đầy mê đắm của thi nhân, trong mùa xuân diệu kì.

Làm thơ xuân vốn là một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều mang một dấu ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945, mùa xuân còn gắn với cái tôi cá nhân cá thể giàu cảm xúc của các nhà Thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với:

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín

Cảnh trí bâng khuâng sực nhớ làng.

(Mùa xuân chín)

Và Nguyễn Bính với:

Mùa xuân là cả một mùa xanh

Trời ở trên cao lá ở cành.

(Mùa xuân xanh)

Nhưng có lẽ Xuân Diệu chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. Vội vàng là lời tâm tình với mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi đang căng tràn nhựa sống.

Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái của Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã thấy: “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt”. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tên Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự họa của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình. Thực ra, cái điệu sống vội vàng, cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là một kết cục không tránh khỏi mai sau. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao diệu kì. Mà sống là phải tận hiến và tận hưởng! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức ấy luôn giục giã, gấp gáp. Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.

Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất “ngại” đi cùng chính luận. Ấy thế nhưng nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu gầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên là loại thơ xúc cảm. Nhưng đọc kĩ sẽ thấy rằng thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như mâỵ trôi, nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cái tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột cuốn theo bao hình ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh họa cho triết học. Mà đó chính là minh triết của một hồn thơ. Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài nhưng tự nó hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ “ta muốn ôm”. Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lí thuyết, dưới là thực hành! Điều rất dễ thấy là thi sĩ chọn cách xưng hô cho từng phần. Ở trên, xưng “tôi”, lập thuyết đối thoại với đồng loại. Ở dưới, xưng “ta”, đối diện với sự sống. Phần luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ dào dạt, sôi nổi đã xóa mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm.

Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. Ấy là cái ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên – một ước muốn không thể:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Muốn “tắt nắng đi” và muốn “buộc gió lại” ư? Đó là những điều không ai có thể làm được, những khát khao thật là phi lí. Nhưng cái phi lí ấy lại có lí đối với trái tim nhà thơ, bởi đó là một trái tim đầy khát khao mãnh liệt, muốn sống đến trọn vẹn chữ sống, muốn giữ mãi cho minh những hương, những sắc của cuộc đời. Mà cuộc đời thì đẹp biết chừng nào, quý giá biết chừng nào! Trong cuộc sống này, tất cả đều kì diệu, bởi mỗi sự vật dù có nhỏ bé đến đâu cũng hiến cho đời cái tuyệt diệu của mình. Con người ở giữa không gian của “nắng” và “hương” này thật lạ! Chàng thi sĩ của vườn trần có những ước muốn và đòi hỏi thật vô lí, muốn vượt ra khỏi quy luật bình thường của tạo hóa. Nhưng quy luật thời gian vẫn lạnh lùng nghiệt ngã, nắng vẫn chầm chậm trôi về cuối ngàỵ, gió vẫn lang thang hoài không nghỉ, báo hiệu cho tàn phai và phôi pha sắp sửa bắt đầu. Xuất phát từ điểm nhìn của một cái tôi chủ quan, chẳng qua Xuân Diệu chỉ muốn diễn giải đầy đủ hơn sự có lí của tâm hồn: Giữ trọn vẹn hơn những vẻ đẹp cuộc đời, hưởng thụ tận cùng màu sắc và hương vị của sự sống.

Xem thêm:  Soạn bài Cảnh vật quanh em

Điều nhà thơ “muốn” trong một không gian ngập đầy nắng và gió đã nói lên ý thức về thời gian trong tâm tưởng con người: Nỗi lo sợ trước viễn cảnh chia li, như có lần Xuân Diệu đã từng chứng kiến: Đương lúc hoàng hôn xuống

Là giờ viễn khách đi

Nước đượm màu li biệt

Trời vương hương biệt li

(Viễn khách)

Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy đắm say. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. Ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.

Ý niệm về thời gian ấy còn là nỗi lo cho tương lai:

Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn

Vừa xịch gối chăn, mộng vàng tan biến ;

(Giục giã)

nên trái tim giục giã nhà thơ bày tỏ nỗi niêm tha thiết với mùa xuân. Mùa xuân đến, trong sự mong đợi của nhà thơ, cùng với hương và sắc, làm bừng lên sức sống của không gian. Có ai đó đã nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”’.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si.

Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra một thiên đường trên mặt đất. Nếu thơ xưa, các nhà thơ chỉ sử dụng thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thời Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhận vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời lúc xuân sang. Như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say: Của ong bướm tuần tháng “mật” ngọt ngào, nào là hoa của đồng nội xanh “rì”, nào là lá của cành tơ “phơ phất” của yến anh là khúc tình “si”… thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên, căng ra mà đón nhận tất cả, cảm nhận tất cả. Sự sống ngồn ngộn đang phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì, một sự mời mọc mà thiên nhiên là những món ăn có sẵn. Những vẻ đẹp được liệt kê bằng nhũng tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu – cảnh vật trong thơ đã trở nên cuộn trào sắc màu, cuộn trào sức sống. Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu, rất hãnh diện, được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh, đẹp đẽ, là biểu tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu, giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên, bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật, trong đất trời và của muôn loài. Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt, biến hóa (3/2/3 và 3/5). Đặc biệt là những hình ảnh, những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể, in đậm phong cách Xuân Diệu: “Tuần tháng mật” “đồng nội xanh rì”… tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say! Sức sống của mùa xuân làm vạn vật có linh hồn, quấn quýt giao cảm đến độ cuồng nhiệt. Bằng những tiếng “này đây” vồ vập, linh hoạt giữa những hàng thơ, tạo nên điệp khúc, Xuân Diệu háo hức như muốn sờ tận tay, chạm mặt mùa xuân. Bước chuyển của 1 mùa xuân nhờ vậy cũng rõ rệt hơn, bay lên cùng cái náo nức rộn rã, mê mải trong lòng tác giả, nồng nàn và tinh tế. Niềm vui như một vị thần độ lượng ngày nào cũng đến gõ cửa từng nhà:

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam hình ảnh mặt trời – vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng, tình tứ và lãng mạn đến thế. Với Xuân Diệu, mỗi ngày được sống, được nhìn thấy mặt trời, được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày vui. Hình ảnh “thần Vui hằng gõ cửa” gợi những liên tưởng gần gũi với hình tượng mặt trời trong thần thoại Hi Lạp xưa. Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ngòi bút của Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đã sáng tạo nên một câu thơ tuyệt bút: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian tháng giêng so sánh với một hình ảnh vốn cụ thể, mang tính nhục cảm. Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu vẫn tinh khôi, vẹn nguyên, trong sáng, lại gần gũi và trẻ trung đến thế. Cái mới trong thơ tình Xuân Diệu là thế! Đó là sự kết hợp hài hòa giữa tâm hồn và thể xác khiến tình yêu thăng hoa. Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc, tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn, sự đan xen hai luồng cảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ tình Xuân Diệu.

Phải nói rằng, trong thơ Việt Nam, chưa có ai cảm nhận mùa xuân như cách cảm nhận của Xuân Diệu. Xuân Diệu không lấy thiên nhiên làm chuẩn để so sánh với vẻ đẹp con người như ta vẫn gặp trong thơ cổ mà lại thấy vẻ đẹp con người làm chuẩn để so sánh với vẻ đẹp của thiên nhiên. Nếu ta gặp trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhan sắc của Thúy Vân được Nguyễn Du miêu tả là: “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”. Còn Xuân Diệu thì: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Con người bao giờ cũng là điều tuyệt diệu. Cái hay, cái đẹp, cái mới của hồn thơ Xuân Diệu, có thể nói cái rất Xuân Diệu phần nào là ở đó. Khác với Nguyễn Du tả mùa xuân tươi đẹp với chuẩn mực là thiên nhiên; khác với Chế Lan Viên trong Điêu tàn, mùa xuân đáng yêu là thế mà thi nhân chối bỏ gay gắt, quyết liệt:

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?

Với tôi, tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.

(Xuân)

Đối với Xuân Diệu, mùa xuân thật tươi đẹp, thật quyến rũ. Ở đây, Xuân Diệu không có sự phủ nhận thực tại như Chế Lan Viên, mà trái lại, trước thực tại, ông luôn đón nhận nó một cách nồng nhiệt, thiết tha. Có một cuộc sống đẹp đẽ như vậy để sống, có những sắc màu tuyệt diệu như vậy để tận hưởng, con người ta sẽ sung sướng biết bao. Mùa xuân không còn riêng của đất trời vạn vật mà đã hòa vào hồn người. Mùa xuân đến với con người như một người yêu, góp hết sự sống của muôn loài lên “cặp môi gần” hiến dâng, đầy ham muốn của con người. Qua cách cảm của Xuân Diệu, cuối cùng cái đích của sự sống vẫn là con người, chuẩn mực của mọi vẻ đẹp cuộc sống vẫn là con người với tất cả khát khao về hạnh phúc. Hạnh phúc cùng mùa xuân, tận hưởng vị “ngon” của cả một không gian xuân, nhà thơ đã biểu lộ cảm xúc cực điểm của sự sung sướng. Niềm hạnh phúc trần thế ấy đồng nghĩa với sự sống!

Xem thêm:  Tả cây xoài nhà em lớp 5

Mùa xuân đem đến cho chàng trai Xuân Diệu một niềm ham sống và men say của tình yêu. Nhưng nhịp hoan ca bỗng khựng lại giữa chừng trong một câu thơ tách ra hai thái cực: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”. Về hình thức, đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành hai câu chứa đựng hai tâm trạng, hai cảm xúc trái ngược nhau: “sung sướng” – vội vàng”. Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả là “vội vàng một nửa”. Thường thì con người ở tuổi trung niên mới tiếc hoa niên. Ở đây Xuân Diệu đang xuân, đang quá đỗi trẻ trung mà đã nuối tiếc, đã vội vàng. Bởi vì sao? Bởi vì Xuân Diệu nhận ra rằng điều sung sướng ấy sẽ ngắn ngủi biết bao, cho nên: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Nhà thơ cắt nghĩa cái vội vàng ấy bằng những dự cảm của tâm hồn. Trước một niềm khoái lạc vô biên khiến con người như bồng bềnh chao đảo trong cảm giác ngất ngây, linh cảm về một cuộc chia li đã hiện hình rõ nét:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Xưa nay, người ta chỉ tiếc thời gian khi nó đã trôi, chỉ tiếc những kỉ niệm khi nó đã trở thành quá khứ, chỉ tiếc mùa xuân khi nó đã không còn. Ở đây, với sự nhạy cảm đến lạ lùng của nhà thơ, của người yêu cuộc sống đến độ đắm say, Xuân Diệu đã tiếc mùa xuân cả khi mùa xuân đang còn, ngay cả khi mùa xuân mới đến. Nhà thơ biết rằng mùa xuân sẽ trôi qua nhanh, mà hình như với những gì quý giá, với những vẻ đẹp, nó còn trôi nhanh gấp bội, nhanh đến khủng khiếp. Cái sắp tới rồi sẽ đi qua, cái đang non trẻ, thắm tươi rồi sẽ già nua, tàn úa. Điều ấy có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với Xuân Diệu: “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”. Câu thơ của Xuân Diệu thật là buồn bã, bởi nhà thơ vừa như phát hiện một điều bi thảm cho mình: Mùa xuân sẽ trôi qua, tuổi trẻ sẽ trôi qua, mà khi tuổi trẻ trôi qua thì cuộc đời có ý nghĩa gì nữa. Điều quý giá nhất của cuộc đời, của đất trời, là mùa xuân, quý giá nhất của con người là tuổi trẻ. Những cái “nghĩa là” ấy gắn liền với triết lí về sự sống đã có từ ngàn xưa, không phải là một ý niệm mới mẻ. Cách Xuân Diệu một ngàn năm, trong thế giới của Đường thi, ta đã gặp nỗi lòng của một Trần Tử Ngang trước vũ trụ bao la:

Ai người trước đã qua

Ai người sau chưa lạị

Ngẫm trời đất thật vô cùng

Riêng lòng đau mà lệ chảy.

(Đăng U Châu đài ca, bản dịch của Tương Như)

Suy tư ấy có liên quan đến thân phận con người: cái hữu hạn của đời người – cái vô hạn của đất trời. Với Xuân Diệu, khi mùa xuân đồng nghĩa với tuổi trẻ, sự sống, tình yêu, gắn bó với cái tôi yêu đời của nhà thơ, thì chia li đồng nghĩa với cái chết.

Con người khao khát vô tận nhưng cuộc sống lại có quy luật của nó, chặt chẽ vô cùng, nghiệt ngã vô cùng:

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian.

Thời gian thì vô hạn nhưng đời người thì hữu hạn. Trong cái hữu hạn ấy, cái hữu hạn của con người càng nhỏ bé hơn nữa, nhỏ bé đến tội nghiệp. Có lẽ như bao người ở đời, nhà thơ đã từng lí luận với mình rằng mùa xuân của cuộc đời là bất tận, mùa xuân đi, mùa xuân lại đến. Nhưng tự lí luận như thế, không những người ta không tự an ủi được mình, mà chỉ càng xót xa hơn cho cái hữu hạn nhỏ bé của chính mình:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Mùa xuân của đất trời đẹp lắm, quý giá lắm, nhưng mùa xuân chỉ quý, chỉ đẹp khi con người có thể biết được, hưởng được cái mùa xuân ấy. Không có con người, hay con người không được hưởng, thì mùa xuân có đó mà làm gì? Bởi vậy, những câu thơ của Xuân Diệu chuyển sang một giọng buồn bã.

Trong khi đồng nhất hóa mùa xuân với con người, Xuân Diệu đã sống đến tận cùng cảm giác, yêu đến tận cùng mê say và gửi cả vào mùa xuân khát vọng của một tâm hồn muốn vươn tới cõi vô biên. Nhưng khi ý thức về thời gian đi liền với tàn phai và hủy diệt, nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bi kịch của con người phải chịu sự chi phối của quy luật khách quan. Đó cũng là nỗi niềm chung của con người khi chốn vùi tuổi trẻ trong một cuộc sống đã mất ý nghĩa mà Hồ Xuân Hương đã chẳng từng than thở đó sao?

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con. .

(Tự tình II)

Điều đặc biệt là Xuân Diệu không thu gọn cảm xúc trong nỗi niềm ngao ngán cho riêng bản thân. Thi nhân đã dành hẳn một niềm “bâng khuâng, tiếc cả đất trời” để Ịàm nên một cuộc chia li bi tráng với mùa xuân:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

Khắp sông núi đều than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim vội vàng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Những cuộc chia li nổi tiếng trong lịch sử văn chương cổ kim có lẽ cũng chỉ bùi ngùi đến vậy. Nước sông Dịch lạnh theo nỗi niềm thái tử Đan đưa tiễn Kinh Kha sang sông hành thích bạo chúa – Tần Thủy Hoàng, người chinh phụ đưa chồng ra chiến trận:

Nhủ rồi nhủ lại cầm tay

Bước đi một bước giây giây lại dừng.

(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)

Tất cả đều cảm động lưu luyến nhưng đó là cảnh chia li giữa người với người. Tản Đà mượn lời Thề non nước, Tống biệt, Cảm thu,Tiễn thu cũng chỉ là mượn cảnh nói người, cảm xúc man mác lặng lẽ. Còn Xuân Diệu đã diễn tả đầy đủ đến từng chi tiết cụ thể không khí của cuộc chia li, từ thời gian “tháng năm rớm vị chia phôi“, không gian “sông núi đều than thầm” đến “con gió xinh thì thào”, “chim đứt tiếng reo”… Cảm quan lãng mạn cùng hòa với suy tư về bản thân đã khắc họa độc đáo cảm giác tinh tế của nhà thơ. Tất cả đều buồn bã, tất cả đều mất hết hương vị, chỉ còn “rớm vị chia phôi” với “than thầm tiễn biệt”, chỉ còn “hờn nỗi phải bay đi”, chỉ “sợ độ phai tàn sắp sửa”. Trong thơ Việt Nam cả phong trào Thơ mới, chưa ai có giọng thơ nuối tiếc thời gian, thương tiếc cuộc sống thiết tha như Xuân Diệu. Cũng những nét ấy, sắc màu âm thanh ấy, ở đoạn trên náo nức, rạo rực là thế, mà ở đoạn này thì buồn thương ngậm ngùi, xót xa biết bao, tưởng chừng Xuân Diệu hình dung thấy rõ ràng mùa xuân đã mất, tuổi trẻ đã qua, nhà thơ đã kêu lên một cách tuyệt vọng, bật thành tiếng than não nuột: “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”, tiếc thương cho vẻ đẹp mùa xuân, tuổi trẻ, sự sống một đi không trở lại. Nỗi đau đớn phải thật chân thành để Xuân Diệu có tiếng kêu như thế. Còn làm được gì nữa bây giờ? Thời gian cứ mênh mông nhưng mùa xuân và đời người cứ ngắn ngủi. Còn làm gì được nữa để biến cái hữu hạn của đời người ấy ra thành vô hạn để cùng vô hạn với thời gian, với mùa xuân mãi mãi của đất trời? Chỉ còn một cách, ấy là biến cái hữu hạn về lượng thành ra cái vô hạn về chất, nghĩa là phải vội vàng, phải hối hả, phải đắm say, phải mãnh liệt, phải sống để thu vào đến độ cao nhất những gì là đẹp đẽ, quý giá của đời sống, của mùa xuân, của tuổi trẻ. Phải nghĩ ngay đến cái nguy cơ mùa xuân sắp qua, tuổi trẻ sắp hết.

Xem thêm:  Phân tích tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải

Từ cảnh “Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” (Giục giã) này trước nỗi lo âu, linh cảm về sự tàn phai cùng dòng chảy thời gian, có một giao điểm hội tụ tình cảm và lí trí của nhà thơ, trở thành một niềm thôi thúc cháy bỏng:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.

Đó là lời kêu gọi của tình yêu, của đam mê và khát khao vượt ra thực tại đáng buồn để tìm đến mùa xuân. Chính vào lúc tưởng như rợn ngợp trong sự hoang mang, nhà thơ đã vượt lên để thể hiện rõ chất người cao đẹp – tìm về ý nghĩa của sự sống.

Không quay về quá khứ để hoài niệm, không tìm kiếm một ngày mai vô vọng, con người ở đây sống cùng thực tại mãnh liệt, dường như cùng với các động tác vội vàng cuống quýt kia là sự cuồng nhiệt với đời:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng.

Đúng là những câu thơ giục giã, cảm xúc của Xuân Diệu như một dòng suối ào ạt tuôn chảy, tưởng chừng ngôn từ xô đẩy vào nhau, chen lấy nhau để tạo theo kịp nguồn cảm xúc ấy. Những tiếng “ta muốn” láy đi láy lại mãi để khẳng định niềm khao khát mãnh liệt và cháy bỏng. Những từ ngữ Xuân Diệu sử dụng ở mức độ mãnh liệt nhất: “muốn ôm” “muốn riết” “muốn say”, “muốn thâu”; lại còn: “một cái hôn nhiều” chữ nghĩa của Xuân Diệu thật mới lạ và đầy cảm xúc. Trong một dòng thơ, Xuân Diệu bắt đầu bằng từ “và” lại có đến ba từ “và” ở giữa câu thơ. Xuân Diệu nồng nhiệt đến rối rít, đến cuồng quýt, tưởng chừng có thể một lúc dang tay ra ôm hết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình. Sống như thế mới đi đến chỗ tận cùng của niềm hạnh phúc được sống:

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi

Tưởng chừng những cái “ta muốn” là sự lặp lại cảm xúc đầu bài thơ. Nhưng đi liền với các cảm giác và hành động: “ôm”, “riết” “say” “thâu” “hôn”, “chếnh choáng” “đã đẩy” “no nê”, ‘cắn”, cảm xúc đã phát triển đầy đủ, trẻ trung trong trạng thái ngây ngất. Từ thái độ ban đầu còn có chút e dè đến thái độ vồ vập vội vàng, có chút tham lam là cả một sự chuyển hướng của suy tư. Xuân Diệu không chờ đợi mà muốn chiếm lĩnh sự sống, thâu vào đầy đủ vẻ đẹp cuộc sống, sống thành thật với chính mình, sống hết mình. Hạnh phúc của sự sống là mùi thơm, là ánh sáng, là thanh sắc, tận hưởng cuộc đời là có được cảm nhận về những điều ấy ở độ tràn trề nhất: “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê”. Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất, Xuân Diệu nhận ra cuộc đời, mùa xuân, như một cái gì quý nhất, trọn vẹn, như một trái đời đỏ hồng, chín mọng, thơm ngát, ngọt ngào, để cho nhà thơ tận hưởng trong niềm khát khao cao độ.

Thái độ sống ấy đã được nhà thơ tuân thủ suốt cuộc đời mình và chàng thi sĩ choáng men say đã tìm ra ý nghĩa của sự sống trước ranh giới của mất mát, tàn phai và cái chết, chiến thắng nỗi sợ hãi hư vô. Khát khao được sống, được yêu, được giao cảm cùng vũ trụ và cuộc đời, Xuân Diệu đã chiến thắng thời gian, vẫn vẹn nguyên sức sống dồi dào của tuổi hai mươi:

Trong hơi thở chót dâng trời đất

Cũng vẫn si tình đến ngất ngư. (Không đề)

Bài thơ Vội vàng đã thể hiện tinh tế những giác quan bén nhạy của hồn thơ Xuân Diệu trước mùa xuân, gắn với quan niệm sống của ông về ý nghĩa sự sống đời người. Con người, với những tính cách và cảm xúc độc đáo hiện diện trong từng câu chữ, mang nét đặc trưng của cảm quan lãng mạn. Bài thơ còn đưa ra một quan niệm sống tích cực: Phải biết tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời. Hiểu một cách đúng đắn quan niệm này có nghĩa là mỗi người cần phải sống hết mình với cuộc sống hôm nay, sôi nổi chân thành và thiết tha với đời. Chính vẻ đẹp của con người sẽ làm nên vẻ đẹp bất tử cho cuộc đời. Lời nhắn nhủ trong Vội vàng cũng là tâm niệm suốt đời của nhà thơ, đã làm ta hiểu hơn về tấm lòng trẩn gian của một người thơ yêu đời mê đắm. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này, là để ca hát về tình yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si? Thơ Xuân Diệu – vội vã với nhịp đập của thời gian.

Nguyễn Thị Chí Linh

Trường THPT Kim Sơn A – Ninh Bình

Bài đoạt giải Nhất. Bài do cô giáo Đào Thu Hòa cung cấp.

Theo Vanmau.top

Viết về người thầy giáo đầu tiên của em – Ba em

Viết về người thầy giáo đầu tiên của em – Ba em

Bài làm

Trong những năm học vừa qua, em đã nhận được sự dạy dỗ tận tình của rất nhiều thầy cô giáo. Ai ai em cũng quý, cũng yêu. Nhưng có một thầy giáo đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong cuộc đời em đó chính là ba của em.

Ba em tên là An, là một giáo viên dạy bóng bàn. Năm nay ba em 34 tuổi. Ba rất đẹp trai. Ba có dáng người cao nhưng hơi gầy, nước da trắng. Ba em là một người rất giản dị. Thường ngày ba hay mặc chiếc quần jeans và áo sơ mi trông rất lịch sự. Mùa đông đến, ba khoác lên mình chiếc áo da rất bảnh trai. Ba chơi bóng  bàn rất hay. Sau buổi chiều, nhìn ba tập luyện cho các anh, các chị em thấy thật ngưỡng mộ ba. Ba em hiền và vui tính lắm. Chiều chiều, ba đến trường để đón em về. Trên xe, bao giờ ba cũng hỏi han việc học của em ở lớp, ba còn kể cho em nhiều chuyện vui. Về với ba lúc nào em cũng thấy vui vẻ. Nhớ ngày em còn học lớp Một, hằng đêm, ba kiên nhẫn ngồi bên dạy em từng chữ cái. Khi em đau, ba ôm em vào lòng, rờ tay lên trán em, ba còn đút cháo cho em ăn nữa. Ba luôn che chở, bảo vệ cho em. Ba chính là người thầy vĩ đại nhất của em!

Xem thêm:  Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ai có lỗi – Tiếng việt 3.

Em thật hạnh phúc khi có ba. Chỉ còn ít ngày nữa thôi là đến ngày tri ân các Nhà giáo, em muốn gửi đến ba lời biết ơn sâu sắc nhất. Em hứa với ba sẽ cố gắng học giỏi để ba vui và tự hào về em.

Viết về người thân trong gia đình của em – Ông nội em

Viết về người thân trong gia đình của em – Ông nội em

Bài làm

Thế là một năm học mới cũng đã bắt đầu. Như mọi năm, vào ngày khai trường, hầu hết  các bạn học sinh ai cũng xúng xính quần áo đẹp,  cầm trên tay lá cờ Tổ quốc, những quả bóng bay rực rỡ sắc màu theo bố mẹ bước chân vào cổng trường Trưng Vương yêu dấu . Riêng em, em cũng được mặc quần áo mới, cũng hân hoan hớn hở đến trường  như tất cả các bạn nhưng người luôn nắm chặt tay em dẫn đi chính là ông nội của em. Nhiều bạn đã hỏi em rằng: Bố mẹ của bạn đâu rồi ? Đó cũng là điều dễ hiểu thôi!!!!

Em được sinh ra ở đất nước Nga xinh đẹp, quanh năm tiết trời lạnh giá. Vào mùa đông tuyết phủ trắng xóa. Lên 4 tuổi, vì điều kiện gia đình, em phải rời xa bố mẹ để trở về Việt Nam sống cùng ông bà nội. Thế là từ một cô bé quen với bàn tay chăm sóc, chiều chuộng   của mẹ, em tập làm quen với cuộc sống mới., không có bố mẹ kề bên. Cứ thế, em lớn dần lên trong tình yêu thương của ông bà nội. Và từ đó, trong trái tim , em luôn biết ơn người sáng nào cũng đưa em đến trường, lo cho em từng bữa ăn giấc ngủ – đó là ông nội  của em.

Xem thêm:  Tả cánh đồng lúa quê hương em lớp 4

Ông em năm nay đã gần 60 tuổi rồi nhưng vẫn còn rất khỏe mạnh, da dẻ vẫn còn hồng hào,  mắt  vẫn còn tinh.. Giọng nói ông nghe thật ấm áp, truyền cảm đến lạ kì. Em vẫn thích nhất khuôn mặt của ông. Mỗi lúc ông cười trông thật hiền từ, phúc hậu. Ai cũng bảo bố em giống ông, mà em cũng cảm thấy như vậy. Chính vì điều đó nên nỗi nhớ bố trong em cũng nguôi đi phần nào.

Năm nay em vừa tròn 9 tuổi và cũng đã 5 năm sống cùng ông bà nội. Quãng thời gian ấy cũng đủ dài để em biết ông yêu em đến nhường nào. Những lúc em ốm, ông lo lắng ân cần ở bên chăm sóc, ép em ăn từng miếng cháo, uống từng viên thuốc  để nhanh khỏi bệnh. Bàn tay ông nhẹ nhàng lắm, lúc nào cũng nắm tay em, ôm em vào lòng. Có những lúc em nhớ bố mẹ quá nên đã ngồi khóc một mình. Cảm giác đó thật đáng sợ làm sao! Những lúc như thế ông giống như một  người bạn xuất hiện thật đúng lúc vỗ về , động viên em vượt qua tất cả. Em yêu lắm những phút giây bên ông. Ông còn là một người thầy của em khi ở nhà. Ông thường dạy em những điều hay lẻ phải, khuyên em tránh xa những điều xấu, ông còn dạy em học mỗi khi em gặp bài học khó,…

Xem thêm:  Tả một cô hoặc một chú cán bộ y tế đang chăm sóc người bệnh

Bây giờ ở Việt Nam trời đã vào thu rồi, không khí của những ngày đầu tựu trường vẫn còn đâu đây. Em đã mất đi cái cảm giác buồn buồn của một cô bé không được bố mẹ dắt tay trong ngày khai trường. Trong em giờ đây chỉ là niềm tự hào vì đã có một người ông như thế! Em cầu mong ông thật khỏe mạnh để mãi bên cạnh em và để lúc nào em cũng được nói với ông : “ Cháu yêu ông nhiều lắm, ông ơi! “

Viết về người phụ nữ của em – Mẹ em

Viết về người phụ nữ của em – Mẹ em

Bài làm

Trong cuộc sống của chúng ta hạnh phúc luôn là những điều gần gũi và giản đơn nhất. Hạnh phúc có thể là tiếng cười vui sướng khi được điểm tốt, là ánh mắt hy vọng của trẻ thơ hay chỉ đơn thuần là một khoảnh khắc giao cảm nào đấy. Nhưng đối với tôi, hạnh phúc gói gọn lại bằng một tiếng đầy thân yêu và chân thành nhất, đó là “Mẹ”, là bến đỗ của đời tôi.

Có thể với mọi người mẹ chỉ là một người bình thường nhưng sao đối với tôi mẹ là điều gì đó rất thiêng liêng và lớn lao. Nhắc đến mẹ, tôi lại nhớ về những ngày thơ bé, tiếng ru à ơi trìu mến của mẹ như ngọn gió dịu mát thổi hồn tôi vào những buổi trưa hè. Còn đôi mắt mẹ nhìn tôi âu yếm, lấp lánh như những vì sao trên bầu trời cao. Mái tóc của mẹ tuy chẳng còn đen nhánh như thuở ngày xuân và in hằn rõ trên đó những nét bụi của thời gian, nhưng điều đó càng làm tôi thêm trân quý mẹ hơn, càng thôi thúc trong tôi cái tình yêu cháy bỏng và nồng nàn dành cho mẹ, tôi biết cả cuộc đời mẹ chỉ luôn lo lắng cho tôi, cho những ước mơ và khát khao của tôi. Nhìn mẹ, tôi thương mẹ da diết. Tình thương ấy cứ lớn dần lên từ lúc nào, để tôi có cuộc sống như ngày hôm nay. Đôi bàn tay mẹ đã làm lụng cực khổ biết bao nhiêu điều, sự khổ nhọc đã làm đôi bàn tay mẹ chai sạn và sần sùi hơn nhiều. Nhưng mỗi khi tôi yếu lòng, vấp ngã thì đôi bàn tay ấy sẵn sàng níu tôi đứng dậy trên sự vấp ngã của mình, cho tôi được dựa vào bờ vai vững chắc ấy.

Xem thêm:  Tả thấy giáo mà em yêu quý đã từng dạy em – văn hay lớp 5

“Mẹ” – một tiếng thôi mà sao nghe thân thương đến kì lạ. Mẹ của tôi là thế đấy! Tôi yêu những gì thuộc về mẹ dù là những điều chẳng còn nguyên vẹn. Còn bạn thì sao? Hạnh phúc của bạn có như của tôi không? Tình yêu lớn nhất của bạn đã dành cho mẹ rồi chứ?

Dẫu cuộc đời này còn lắm gian lao, gập ghềnh nhưng tôi luôn tin rằng mẹ sẽ mãi bên cạnh tôi. Nếu như không có mẹ, cuộc đời tôi sẽ như là con diều mà không gặp gió, chẳng bao giờ được chao lượn giữa bầu trời xanh, được làn gió ấy thổi đến những vùng trời mới lạ. Tôi chỉ muốn nói với mẹ một điều thầm kín từ đáy lòng mình rằng: “Con yêu mẹ lắm, mẹ ơi!”

Viết về mùa hè đáng nhớ của em

Viết về mùa hè đáng nhớ của em

Bài làm

Khi hàng mưng cuối sân trường thắp lên những lòng lửa đỏ và khi tiếng ve bắt đầu náo nức râm ran thì đó cũng là lúc một năm học sắp kết thúc. Mùa hè yêu thương vẫy gọi chúng em.

Mùa hè đến, em được học tập và trải nghiệm ở trường Trưng Vương. Điều đó thật có ý nghĩa biết bao ! Sáng nay, sân trường đã rụng những cánh hoa mưng màu đỏ thắm. Hương thơm dịu nhẹ thoang thoảng lan tỏa khắp không gian rộng lớn. Trường Trưng Vương trồng rất nhiều hoa mưng. Hàng mưng chạy vòng quanh khắp cả sân trường. Thú thực mới đầu chúng em cũng không thích lắm. Ai lại trồng nhiều cây mưng như thế bao giờ! Nhưng giờ đây mới thấy người đi trước đã có một cái nhìn đầy nghệ thuật. Mưng nở đỏ như một dải lụa thắm chạy vòng quanh.  Nếu nhìn từ xa, ai cũng ngỡ  ngôi trường Trưng Vương đang tưng bừng trong ngày hội với hàng chục băng rôn hồng kì đỏ thắm.

Mùa hè ở trường Trưng Vương không chỉ đẹp ở loài hoa mưng mà còn đẹp ở màu áo hồng của lứa tuổi học trò. Chúng em tha hồ tung tăng vui đùa khắp sân trường. Em yêu mùa hè, mùa mà chúng em có thể thoải  mái vui chơi, sinh hoạt, Mùa hè mang lại cho chúng em biết bao nụ cười. Các bạn nam, bạn nữ được diện cho mình những bộ áo bikini rực rỡ sắc màu và đắm mình trong làn nước trong xanh của bể bơi trường Trưng Vương.

Xem thêm:  Em hãy tả cảnh mẹ con vật nuôi quấn quýt bên nhau – Tập làm văn 4

Đặc biệt , mùa hè này  lần đầu tiên chúng em được đi xa mà không có bố mẹ. Một cảm giác hồi hộp, xốn xang và có chút gì đó lo lắng. Khu du lịch suối nước nóng Thanh Tân chào đón các bạn học sinh. Cảnh vật nơi đây thật đẹp ! Ai ai cũng thích thú thả mình theo dòng nước mát với các trò chơi trượt thác, chui ống, tắm biển nhân tạo, hồ phun nước… Nhà trường đã tổ chức cho chúng em một chuyến đi trải nghiệm đầy thú vị.

Thời gian  trôi nhanh và mùa hè đã khép lại. Dù biết rất buồn nhưng lòng em lại xôn xao, rạo rực khi mùa thu đến và năm học mới sắp bắt đầu. Em sẽ không phải tiếc nuối nữa khi mình đã có một mùa hè thật ý nghĩa, một mùa hè đầy yêu thương bên mái trường Trưng Vương yêu dấu.