TẠI SAO LẠI GỌI MỸ LÀ MẼO

Trong 12con giáp của người Trung Hoa không có con mèo. Người Trung Hoa thay mão bằngcon thỏ. Mão cũng như tên 11 con giáp khác Tỵ, Sửu, Dần, Mão...không phải dongười Trung Hoa phát kiến ra. Mặc dầu mão, mẹo, mèo gần cận với Hán ngữ “miêu”,nhưng những từ này không phải do Hán ngữ đẻ ra như những người nặng đầu óc HánNho cho là như vậy. Mão, Mẹo, Mèo, Miêu là những từ chị em cùng phat gốc từ mộttổ cổ xưa. Nên nhớ Hùng Vương của chúng ta là vua Mặt Trời mọc trong Liên bangMặt Trời, một đế quốc có một nền văn minh huy hoàng cổ xưa hàng chục ngàn năm.Nếu không thì không thể nào một sáng một chiều mà có thể làm ra được nhưng siêutác phẩm nghệ thuật đồng thau như trống đồng Ngọc Lữ. Liên Bang Mặt Trời thờ MặtTrời nên rất rành về niên lịch, năm tháng. Cổ sử còn ghi Việt Thường có lịchRùa. Trống đồng chắc chắn có những dấu tích về “Lịch Mặt Trời” giống như MayaAztec có “Đá Lịch Mặt Trời”, Khmer có lịch “Bầu Ràn” vào khoảng năm 634 trướcTây lịch. Và dĩ nhiên tên niên lịch năm tháng bằng tiếng Việt cổ không phải làchuyện hoang tưởng...Thật vậy tác giả Bùi Huy Hồng trong bài “Mấy Nét Về ThiênVăn Học Thời Hùng Vương” đã viết “Ở Cam-pu-chia còn lưu lại đến ngày nay một cuốnlịch cổ nhất là lịch “Bầu Ràn” (634) dùng 12 tên con giống tiếng Việt và Mường...(HùngVương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t. III, tr. 299)

Như đãbiết qua các bài viết trước đây:

*Hợi là con Hoi, con Hôi, con Oi, tứccon Heo. Hoi, oi là mỡ bị oxyt hóa có mùi hoi, oi. Con heo là con có nhiều mỡnên gọi là con Hoi, con Hợi, Hoi, oi liên hệ với Pháp ngữ huile, Anh ngữ oil làdầu mỡ. Bằng chứng là Thái ngữ moo là con lợn. Moo liên hệ với Việt ngữ mỡ.Pháp, Anh porc, pork, thịt heo liên hệ với bơ (po- = bơ). Việt ngữ lợn cùng vần với lờn nhờn, nhớtliên hệ với dầu mỡ. Hợi liên hệ với Anh ngữ “hog” , Avestan “hù”...Heo nái gọilà Sề: “Ba bà đi bán lợn sề”. Sề liên hệ với Cổ ngữ Anh “sù” (lợn sề), Latin“sùs” (lợn sề), gốc Ấn Âu ngữ *sù- (heo, lợn)

*Tí  là con Chuột. Việt ngữ tí là nhỏ, lắt, nhắt.Chuột có nghĩa là chút, liên hệ với Phạn ngữ chutt “to become small” là nhỏ, vídụ ta có câu nói bé như con chuột; dưa chuột là dưa bé tí teo. Con Tí là conchút, con chuột. Anh ngữ mouse, mice (chuột nhắt) liên hệ với Việt ngữ mẻo, mọn(nhỏ), với gốc micro-(nhỏ).Anh Pháp rat (chuột nhà) liên hệ với Việt ngữ lắt (l=r), nhắt (l=nh)...

Bạn đang xem: Tại sao lại gọi mỹ là mẽo

*Sửu liênhệ sẩu, xẩu, sỏ là sừng, đầu như xương sẩu, sừng sỏ, với sậu là cứng: ngô sậulà bắp cứng (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính tả Tự Vị).

*
Theo qui luật biến âmc = s (cắt =sắt), cứng = sừng. Con sửu, con sẩu,con sậu là con sừng. Anh Pháp buffalo, buffle (trâu) có gốc “bu” liên hệ với Việtngữ bổ, báng, Anh ngữ butt (húc). Theo tr = s (trống = sống, đực), trâu = sẩu, sậu, sửu.

Sửu liên hệ với:

-Ethiopicsor “ox, steer”; Do thái ngữ sòr (s có dấu ă) “bull, ox” Akkadian sùru (s có dấuă) “ox”... gốc tái tạo Tiền cổ - Á Phi (Proto-Afroasiataic) *cụ-r- (có dấu ă)“bull, ox”.

-Theos=c=k=g, sửu liên hệ với Cổ ngữ Anh “cù”, Anh ngữ hiện kim cow (bò cái), Phạnngữ go-, gáuh (bò), Gothic kô, Armenian kov “cow”, sumerian gu 4 (4 nhỏ dưới)“ox, bull, cow”, gud “bull, bullock, cow”...

*Dần: Dần là con con..dằng ! Dần làcon Vân, con Vân, con Vằn (d=v). Con cọp gọi là con Vằn, con Vần, con Dần, conDằng vì đa số có những đường vằn! Ta cũng thấy rõ điểm này qua sự kiện con tômvằn gọi là con tôm cọp. kiểm chứng lại bằng Ấn, Âu ngữ: Anh ngữ con cọp

*
gọi là“tiger” (đọc là “tai gơ”) : ti- (‘tai) liên hệ với “tie” (dây, dải, cột, cà vạt).con “tiger” trên da có những “dải” tức là những vằn. Rõ hơn “tiger” liên hệ với“stripe” (vằn, sọc). Con “tiger” liên hệ với “tie” “stripe” với Việt ngữ tau,thao (giải, dây), dải. Pháp ngữ “tigre” (đọc là “ti-gờ-rờ”) liên hệ với Hán Việtti là sợi, dây, giải, với Latin tenia, dải, trong Ký sinh trùng học dùng từtenia chỉ con lãi. Theo l=d, lải = dải, con tenia là con lải, con dải...Tigrecũng giống “tiger”. Có một câu đối về cọp:

 Cái là tượng, tượng làvoi, voi chầu cửa cái

 Tu là hổ, hổ là cọp,cọp bắt thầy tu

Qua câunói này, ta thấy con cọp có nơi còn gọi là con tu, và con voi cũng gọi là concái. Trước hết xin giải nghĩa một chút về cái là “tượng”. Ta biết “cái” hiểutheo gnhĩa duy âm là mẹ, đứng đầu, “to” theo nghĩa duy dương là cà, lớn, to, đứngđầu, vua (Đức ngữ kaiser, vua liên hệ với Việt ngữ cả, cái). Tượng là con voi.Tại sao con voi gọi là con tượng? “Tượng” cùng vần với “tướng” có nghĩa là“to”. Ta có từ ghép điệp nghĩa “to tướng”.Như thế con tượng là con to, con tướng cùng nghĩa với từ cái với to, tướng. Convoi cũng còn gọi là con bồ. Bồ tượng. Bồ cũng có nghĩa là to, tướng, tượng nhưtấm thân bồ tượng. Từ bồ chỉ con voi phổ thông ở Trung Nam. Theo o = u (mờ = mù)bồ = bù, bu (mẹ), người Huế gọi cái vú là cái bù. Vú cũng có nghĩa là mẹ. Nhưthế theo nghĩa duy âm con bồ là con bù (mẹ), con bu (mẹ) tức là con Cái (mẹ).Cái là mẹ và cũng là to như ngón cái. Bu là mẹ cùng vần với bự là to. Như thế bồcũng là con to, con tướng, con tượng. Theo nghĩa duy dương bồ là biến âm của bô(cha), bố (cha) và cũng có nghĩa là lớn như thấy qua từ ghép “to tổ bố” đúng vớinghĩa từ cái, cả (to).

Bây giờhãy tìm hiểu sao “tu là hổ”. Tu là tua, là tau, là thao (nón quai thao), là dải.Hán Việt, tu là râu (tu mi nam tử). Râu là dâu là tâu, là tau (d=t) là thao.Râu là những sợi, những “dải, dây” mọc ở quanh miệng, ở mặt người. Ta cũng thấyrâu, dâu là sợi, là dây, là dải, qua tên cây dâu (tằm)? Cây dâu có lá dùng nuôisâu tằm nên liên hệ với tơ sợi. Vây con tu là con tua, con dải, con ti, contiger, con tigre. Tu liên hệ với tiger, tigre.

*Mão: Bây giờ tìm hiểu nguyên ngữ từMão, Mẹo. Chúng ta thương cho rằng còn mèo được gọi tên theo tiêng kêu meo meo.Sự thật không phải vậy. Họ mèo là họ có mấu nhọn. Ta thấy mão là biến âm của mấu.Mấu là cái móc, vật có mũi nhọn cong như móng vuốt. Mấu là cào, xé bằng ngữ“maul”, cấu xé bởi loài có mấu sắc như cọp, mèo, sư tử, beo...Tho a+e (đa = đề),ta có mão = mẹo. Theo m = b, mẹo = bẹo, béo (nhéo). Mão, mẹo, mèo, mấu liên hệ vớiPhạn ngữ màrjara-, mèo.

 

*
Mèo, mão, mẹo họ nhà cọp. Ta đã biếtcon cọp là con chộp, con chụp (mồi). Điểm này cũng thấy rõ qua Anh ngữ “cat”,Pháp ngữ “Chat”. Anh ngữ “cat” họ hàng với “catch”; chụp, vồ, tóm, bắt (banh)...Pháp ngữ “chat” với h câm thành “cat”. Nếu hiểu theo Việt ngữ thì “cat”, “chat”có ca- là cào, cấu. Con mèo là con vật có móng nhọn sắc, con cào, con cấu.

 Ta cũng thấy con mão, con mẹo,con mèo là con mấu qua Mã ngữ. Con cọp Mã ngữ gọi là “hari mâu” (Bình Nguyên Lộc,Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam, tr.154). Hari là trời. “Hari mâu” là mâutrời, con mấu trời, con mèo trời. Rõ ràng “mâu” liên hệ với mấu, mão, mèo. Cọp “mâu”với mão cùng một loài có mấu nhọn.

 Vậy con mèo là con mấu, con “mau”(1), con mão rồi thành con mẹo, con mèo. Như đã biết, tổ tiên chúng ta thường đặttên loài vật theo động tác kiêm ăn hay tự vệ của con vật, như con gấu là con cấu(c = g) con bấu (g = b).

 Trong họ nhà mèo có móng vuốt nhọncòn có:

 Báo : từ “báo” là biến âm của mão:báo = mảo (b =m), con báo là con bấu, con mấu, con “mau” (1).

 Beo : beo là biến âm của mèo : beo =mèo, co beo là con bẹo, con béo, con véo...

 Khái: con cọp cũng được gọi là conkhái như thấy qua câu “Qua truông trỏ bòi cho khái”. Theo kh = g như khẩy = gẩy(đàn), khái = gãi. Gãi gần cận với cào. Con khái là con gãi, con cào, được gọitheo móng sắc, cái vuốt của hổ, mèo. Khái có Ká- liên hệ với Anh ngữ “cat”,Pháp ngữ “chat”.

 Ngoài ra ta cũng thấy gấu cũng đượcgọi theo bàn tay có móng vuốt. Theo g = c (gái = cài): gấu = cấu và theo c = b (cậy = bậy) cấu = bấu, mấu. Anh ngữ “bear” gần cận với Việt ngữ Bấu. Bear ruột thịtvói “paw”, bàn tay có móng vuốt nhọn của gấu. Ta có paw = baw (p = b) và baw =bauu (w = uu), bấu; paw = bấu, cái bấu.

Xem thêm: Tại Sao Không Xem Được Trang Cá Nhân Của Người Khác Trên Facebook ?

 Như thế ta thấy rõ mão, mẽo, mẹo cũngnhư các tên của các con giáp khác đều ruột thịt với Việt Xin hẹn năm tới sẽ nóivề từ Thìn, con rồng.