6 xu hướng của giới trẻ Việt năm 2008

Năm 2008 khép lại không có những “scandal” hoành tráng nhưng cộng đồng giới trẻ Việt vẫn chứng kiến sự lên ngôi của một số xu thế, cả trên giảng đường, trong không gian ảo lẫn trong cuộc sống thật.

1. Blog lên ngôi, forum tụt hạng

Thông tin blog Yahoo 360 có thể bị đóng cửa hồi đầu năm 2008 khiến cộng đồng netizen (công dân mạng) Việt Nam “hoảng loạn”. Rất may sau đó Yahoo tiếp tục duy trì 360 và cho tới nay Blog Yahoo vẫn thống trị không gian ảo như một kênh trao đổi và chia sẻ thông tin hàng đầu trong giới trẻ hiện nay.

Qua những năm tháng “hoàng kim”, forum (diễn đàn) online hiện đang dần vắng vẻ bởi cư dân mạng lui về hoạt động ngày càng thường xuyên trên blog cá nhân hoặc blog của các nhóm bạn bè. Khi forum trở thành “phố chợ” đông đúc, nơi không ít nick ảo lợi dụng vì các mục đích xấu của cá nhân thì blog dần chiếm lĩnh thị trường nhờ không gian riêng tư, khả năng chọn lọc “bạn chơi” kỹ càng hơn.

Không chỉ là cuốn nhật ký điện tử lưu trữ các thông tin, hình ảnh cá nhân, blog còn trở thành ngôi nhà chung liên kết người Việt trẻ ở khắp nơi để bày tỏ chính kiến, thể hiện quan điểm về những vấn đề nghiêm túc của cộng đồng, quốc gia và thế giới.

Dự báo sang năm 2009, tiếp cận nhiều hơn với giới trẻ quốc tế, cư dân mạng Việt Nam sẽ tiếp tục “vùng vẫy” trên Yahoo 360, đồng thời bắt đầu gia nhập những mạng xã hội ảo đang “hot” nhất hiện nay như Facebook hay MySpace.

Blog Yahoo 360 tiếp tục thống lĩnh. Ảnh chụp màn hình.

2. “High-tech” đến trường

Không chỉ sử dụng diễn đàn, blog và Yahoo Messenger làm công cụ giải trí và “chat chit” vui vẻ, giới trẻ Việt đã biết tận dụng nguồn tài nguyên vô giá trên internet và các ứng dụng công nghệ cao phục vụ cho học tập.

Làm powerpoint thuyết trình, chia sẻ tài liệu online, học nhóm qua mạng, ôn bài qua chat, truy cập thư viện điện tử… không còn xa lạ với nhiều SV.

Tận dụng công nghệ cao phục vụ học tập đã trở thành thói quen của nhiều SV. Ảnh: Lan Hương

Khuôn viên nhiều trường ĐH cũng bắt đầu phủ sóng wifi cho phép SV truy cập internet để tìm kiếm tài liệu ngay tại trường.

Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ ngoại ngữ, giới trẻ Việt vẫn chưa sử dụng được những nguồn tài liệu phong phú trên các website nước ngoài.

3. Nở rộ hoa khôi học đường

Các cuộc thi nữ sinh thanh lịch, hoa khôi học đường nở rộ như nấm sau mưa. Ảnh: Cẩm Quyên

“Trường trường thi hoa khôi, người người thi hoa hậu”. Chưa bao giờ các cuộc thi sắc đẹp nở rộ như năm vừa qua, từ trường phổ thông cho tới ĐH, từ cấp trường cho tới cấp khoa, thậm chí nhiều lớp cũng tự tổ chức thi hoa khôi quy mô nhỏ.

Mục đích của các cuộc thi này là tôn vinh “sắc đẹp và trí tuệ” của nữ sinh và thực tế cũng đã chọn được những “mỹ nhân học đường” xứng đáng được trao vương miện. Tuy nhiên, nhiều chuyện “lùm xùm” ở hậu trường như tin đồn mua bán giải thưởng, bàn tay sắp đặt của các nhà tài trợ, tiền thưởng không tới tay thí sinh, ứng xử ngây ngô… khiến các cuộc thi mất đi ít nhiều ý nghĩa nhân văn.

4. Salsa, múa bụng hớp hồn giới trẻ

Các bước nhảy mê hoặc của bellydance hút hồn giới trẻ. Ảnh: Cẩm Quyên

Những bước nhảy bốc lửa của vũ điệu salsa và những cú lắc người mềm mại của bellydance đã hút hồn giới trẻ Việt trong suốt thời gian qua.

Tự do và phóng khoáng, mãnh liệt và bốc lửa, salsa khiến người trẻ bùng nổ trên sàn nhảy. Mềm mại và uyển chuyển, gợi cảm và nóng bỏng, bellydance như một vũ điệu sinh ra để tôn vinh vẻ đẹp hình thể của tuổi trẻ.

Khi mới du nhập vào Việt Nam, tuy ban đầu hấp dẫn các bạn trẻ bằng yếu tố “lạ”, dần dần salsa và bellydance không còn là một thứ mốt mà đã trở thành một trào lưu được yêu thích thực sự. Nhiều bạn trẻ coi học nhảy vừa là hình thức giao lưu, mở rộng mối quan hệ, vừa giúp rèn luyện sức khỏe, sự dẻo dai và làm đẹp cho bản thân mình.

Những lớp học salsa và bellydance đầu tiên do chính người Việt mở đã bắt đầu xuất hiện với mức học phí dễ chịu nên càng thu hút được giới HS, SV cùng tham gia.

5. “Tự sướng” và “khoe hàng”

Những bức ảnh khêu gợi của dân teen đang tràn lan trên mạng. Ảnh chụp màn hình

Tràn lan và “khủng” nhất trên nhiều diễn đàn và blog của giới trẻ năm vừa qua là những tấm hình hoặc clip “mát mẻ” với đủ các tư thế khêu gợi của chính dân teen Việt.

Rảnh rỗi thì leo lên giường hoặc vào toilet… cởi đồ giơ máy ảnh “tự sướng” rồi gửi cho bạn bè hoặc tải lên mạng cho vui. Nhiều bạn trẻ còn đổ xô đi chụp ảnh “nude” với lý do “lưu giữ lại những khoảnh khắc thanh xuân”.

Không chỉ nữ sinh mà nam sinh cũng “tích cực tham gia” vào các phi vụ “khoe hàng”. Một trong những hình ảnh gây shock nhất năm 2008 là đoạn clip hai nam sinh mặt búng ra sữa say sưa… hôn nhau trong tiếng hò reo của bạn bè xung quanh.

Một số trang web còn đăng tải ảnh “mát mẻ” kèm theo “lý lịch trích ngang” của nhân vật để mọi người cùng vào “bình loạn”.

Muốn nổi tiếng trên không gian ảo, muốn tăng lượng người đọc hoặc có thể bị bạn bè chơi xấu, những chàng trai, cô gái tuổi teen vẫn hồn nhiên xuất hiện trong những tấm ảnh gợi cảm đang được trưng bày tràn lan trên mạng.

6. Kết hôn sớm

Giới trẻ không ngần ngại bước vào hôn nhân sớm. Ảnh: ttvnol.com

Năm 2008 cũng đánh dấu một bước chuyển lớn trong đời sống tình cảm của những người trẻ khi rất nhiều các cặp “vợ chồng son” kết hôn ngay sau khi tốt nghiệp ĐH, thậm chí ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Ổn định về công việc, lại có sự hậu thuẫn cả về vật chất lẫn tinh thần từ phía phụ huynh và cũng không loại trừ lý do “tế nhị” khác, nhiều đôi bạn trẻ đã nên vợ, nên chồng trở thành cha mẹ khi mới vừa bước qua tuổi 20.

Đặc biệt, trong năm vừa qua, nhiều “hot boy”, “hot girl” như “chị Kính Hồng” Thanh Vân, Vân Buri, ca sỹ Đăng Nguyên… cũng lên xe hoa . Thậm chí Miss Audition Ngọc Anh đã làm mẹ ở tuổi 20.

Kết hợp ba cơ chế đối với trách nhiệm thực thi Công vụ

Những tiêu cực trong lĩnh vực quản lí kinh tế xã hội ở mức độ khác nhau xảy ra ở nước ta trong những năm gần đây cho thấy sự suy đồi về tinh thần thực thi công vụ, thoái hóa về nhân cách của nhiều Quan chức và Công chức có nguyên nhân nằm sâu trong cơ chế, thậm chí là thể chế quản lí xã hội, hơn là sai phạm của từng cá nhân riêng lẻ.

Tôi muốn đề cập đến ba cơ chế chủ yếu để giảm thiểu những sai phạm đó cũng như hậu quả của nó đối với xã hội – Khi xem cơ chế là một phương thức vận hành của một quá trình nào đó nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống. Những ý tưởng chủ yếu về ba cơ chế đó là:

1. Cơ chế giám sát

a. Quốc hội giám sát về luật

b. Thanh tra nhà nước giám sát về các chế độ quản lí

c. Các tổ chức phi chính phủ giám sát về trách nhiệm xã hội

d. Công luận với các phương tiện truyền thông giám sát về đạo đức và tính đại diện cho lợi ích toàn dân

2. Cơ chế định vị giá trị xã hội

a. Thang chuẩn mực về trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp

b. Chế độ xây dựng lòng tin giữa những người có trách nhiệm với cộng đồng

c. Khai phá những con đường sự nghiệp ngoài con đường quan chức

d. Truyền thông thay đổi tâm lí của cộng đồng, hình thành những phong trào ủng hộ những hành xử tích cực

3. Cơ chế từ nhiệm

a. Cá nhân phải chịu trách nhiệm toàn bộ về tác nghiệp

b. Thủ trưởng hay cơ quan cấp trên trực tiếp phải nhận về mình trách nhiệm cuối cùng

c. Cá nhân hay cơ quan đề cử chịu trách nhiệm gián tiếp khi người mà họ đề cử mắc sai phạm

d. Thiết định chế độ giải trình thường xuyên định kì về trách nhiệm của các cá nhân thực thi công vụ

e. Ưu tiên những hình thức tự xử của cá nhân mắc sai phạm theo nghĩa được ủng hộ và giảm nhẹ tình tiết khi truy cứu theo luật pháp

f. Thiết lập qui trình phản ứng nhanh giữa các cơ quan liên quan khi quyết định bãi nhiệm cá nhân sai phạm

Trong bài này, Tôi đi sâu kiến giải ý tưởng của mình về cơ chế định vị giá trị xã hội.

Thang chuẩn mực về trách nhiệm / nghĩa vụ xã hội và đạo đức nghề nghiệp:

a. Xác định rõ trách nhiệm: là những việc phải nhận thực thi theo chức trách và phải nhận sự đánh giá, giám sát, phán xét về kết quả, tiến độ, đúng sai theo luật pháp và qui phạm;

b. Xác định rõ nghĩa vụ là thực hiện những việc nhằm trao cho đối tác dịch vụ hỗ trợ, sự thuận lợi, theo cam kết. Và phải nhận sự đánh giá, giám sát, phán xét căn cứ theo qui chế của tổ chức, chế độ quản lí, thỏa thuận hiệp tác;

c. Xác định rõ quyền hạn là quyền được huy động, sử dụng, phân bổ các nguồn lực, tài nguyên khác nhau khi thực thi nhiệm vụ vì mục tiêu của tổ chức. Và được đánh giá, giám sát, phán xét căn cứ theo luật định, thể chế của tổ chức, sự uỷ quyền của cấp trên.

d. Những điều cốt yếu nêu trên phải được ghi rõ vào bản mô tả công việc của tất cả các chức danh, và mỗi cá nhân phải được biết rõ, phải được hướng dẫn thực thi nhiệm vụ.

e. Đạo đức nghề nghiệp bao hàm 3 ý nghĩa chính:

1. Say mê nghề nghiệp (và cơ chế phải làm cho người ta sống được với nghề, gắn bó với nghề và nơi người ta đang làm việc);

2. Vì đối tượng của nghề nghiệp (xây dựng cách thức, phong cách quản lí theo quan điểm “xuất phát từ khách hàng và định hướng khách hàng);

3. Tuân thủ các chuẩn mực xã hội và qui phạm chuyên môn của nghề (trên thực tế nhiều khi có những luật lệ và qui tắc, qui phạm kiểu đánh đố, cài bẫy, hay khiến người ta phải nói dối, “lách luật”). Thiết lập các chuẩn, qui phạm hướng vào tính chuyên nghiệp, khoa học, minh bạch.

Chế độ xây dựng lòng tin giữa người có trách nhiệm và cộng đồng:

a. Lòng tin có được từ sự trung thực, phản tỉnh, cầu thị về những việc mình làm hơn là sự nói quá lên ngay cả những việc tốt mình đã làm được;

b. Các cơ quản quản lí nhà nước cần xác định sứ mệnh và tầm nhìn của mình, có ý nghĩa như là “mục tiêu phát biểu”, sợi chỉ đỏ xuyên suốt các quá trình, các hoạt động hướng tới đóng góp cho xã hội. Sứ mệnh và tầm nhìn cần được khắc chữ trên bia đá, bảng đồng bên cạnh logo của cơ quan ngay bên lối vào chính. Những điều đó tạo nên sự tôn nghiêm, chính thống, niềm tự hào về cơ quan, nhắc nhở về đạo đức nghề nghiệp;

c. Xây dựng uy tín, thương hiệu của các cơ quan quản lí nhà nước bắt đầu từ thiết lập những qui tắc về chuẩn mực ứng xử, các hình thức giao dịch qua những kênh và hình thức truyền thông khác nhau. Công khai đưa ra các mục tiêu chất lượng về cung cấp dịnh vụ cho nhân dân và đối tác;

d. Thiết lập chế độ trả lời công khai, phản ứng nhanh với các thắc mắc của nhân dân, khách hàng và đối tác, bên cạnh đó có chế độ đền bù những thiệt hại mà cơ quan mình đã gây ra cho nhân dân, khách hàng.

Khai phá những con đường sự nghiệp ngoài “con đường quan chức”:

a. Nhìn trong lịch sử Việt Nam và cho đến hôm nay, tâm lí học để làm quan và “làm quan cả họ được nhờ” là rất nặng nề. Vấn đề không nằm trong giáo dục nhận thức nữa mà là trách nhiệm to lớn đặt lên vai chính phủ, phải xã hội hóa tất cả những hoạt động kinh tế, sự nghiệp, hỗ trợ, tôn vinh tất cả những con đường, những hình thức lao động chân chính;

b. Chế độ sử dụng người còn quan trọng hơn cả việc đãi ngộ họ như thế nào. Do đó cần thiết định những chính sách sử dụng hiệu quả các nhân tố tích cực của con người. Chính phủ cần thừa nhận và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, thu hút lao động ở tất cả các khu vực công–tư, trong–ngoài;

c. Chống lại tất cả những hình thức phân biệt đối xử vốn đã thâm nhập vào tiềm thức của cán bộ công chức cho đến người dân, do đã quá lâu chúng ta duy trì những quan điểm, chính sách kiểu “xin- cho”, “quan liêu–hành chính”, “biên chế-ngoài biên chế”…, vô tình không ít cán bộ nhà nước đã trở thành những “tên đầy tớ lưu manh, bất trị”, còn dân lại muốn đổ xô vào các cơ quan nhà nước cho nhàn thân, yên phận và “dễ kiếm chác”;

d. Các danh hiệu cao quí của nhà nước phải được dành trao tặng cho tất cả những ai có đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển của quốc gia, bất kể đó là ai, ở đâu, miễn là người Việt Nam. Chấm dứt cái gọi là “nhà văn/ nhà giáo/ nghệ sĩ/ doanh nghiệp… quốc doanh”. Đương nhiên hội đồng khen thưởng quốc gia cũng phải mở cửa để xã hội hóa. Chấm dứt quan niệm/ suy nghĩ/ hành xử kiểu “thành phần” hay kiểu “mặt trận”, do “chỉ đạo từ trên”.

Truyền thông thay đổi tâm lí cộng đồng và hình thành những phong trào ủng hộ những hành xử tích cực:

a. Việc chỉ một người vượt đèn đỏ có vẻ như không nguy hiểm so với việc cả đám đông đang dừng trước vạch lằn ranh nhưng thờ ơ, vô cảm với việc đèn đỏ của người kia. Nguy hiểm hơn nữa là những người hiện đang dừng lại trước vạch lằn ranh là do có công an đứng đó hoặc họ có thể vượt bất cứ lúc nào ngẫu nhiên vì một lí do bất chợt nào đó của họ. Do đó điều cần thiết là phải hình thành nên tính tự giác cao của cộng đồng, đó là xây dựng dân trí.

b. Cách thức truyền thông như loa phường hiện nay chỉ làm người dân bực mình hơn chứ chưa thể nói đến khả năng xây dựng dân trí, vì thiếu tôn trọng người dân, và chất lượng thấp của truyền thông kiểu đó. Các cơ quan quản lí nhà nước cần tổ chức những diễn đàn, lễ hội, PR,… phù hợp với ngành và mục tiêu quản lí của mình hơn là tổ chức những phong trào mà thực ra không gây được cảm xúc văn hóa trong công chúng.

c. Những người có trách nhiệm của các cơ quan nhà nước phải phản ứng trước nhất và tích cực trên các phương tiện truyền thông ngay sau khi thấy mình có vấn đề hoặc công luận phát hiện vấn đề. Thời gian vừa qua hầu hết các vụ tiêu cực đều do báo chí, nhân dân phát hiện, ngay sau đó gần như không thấy cơ quan nhà nước phản ứng ngay và tích cực, ngoài việc đưa ra đủ thứ lí do bao biện hay đổ lỗi. Lâu dần tạo nên tâm lí trong cộng đồng là các cơ quan nhà nước “cố thủ”, thiếu cầu thị và tư lợi.

>> Xem tiếp các Suy ngẫm

Câu chuyện “Chôn tiền”

Gói kích cầu 6 tỉ USD nên sử dụng thế nào?

Chuyện nhà anh Tư

Gần đây bác Hai cắt tóc đầu ngõ thấy có gì đó không ổn. Tháng trước anh Tư bỏ đi cái khoản lột mặt, tháng này đã đi cắt tóc trễ cả tuần, lại còn không lấy… ráy tai. Chuyện gì đang xảy ra vậy?

Kể cũng lạ, trước đây anh Tư luôn hẹn vào toàn lúc chẳng ai muốn làm việc, (do vậy bác Hai luôn được anh “boa” thêm vài ba nghìn coi như đền bù cho làm việc ngoài giờ). Thực ra, sở dĩ anh Tư phải làm như vậy là do công việc của anh ở công ty nhiều quá, ngày nào cũng phải đưa khách mấy tua, lúc rảnh thì phải chăm sóc cu Tý trông coi nhà cửa vì vợ anh làm ở một công ty xuất khẩu đang ăn nên làm ra, phải tăng ca liên tục. Giờ đây, anh Tư hay đến rất sớm, nhưng cũng chẳng vội vã gì, hai người còn con cà con kê mãi mới bắt tay vào việc. Với hơn 40 năm trong nghề, loáng cái bác Hai đã làm cho anh Tư đã có một cái đầu ưng ý như mọi khi.

Mà dạo này tiệm của bác Hai cũng thưa khách hơn, nhiều người cũng đi cắt tóc trễ hơn và bỏ qua nhiều công đoạn hơn. Điều làm cho bác Hai không vui là mỗi công đoạn chỉ tốn thêm chút ít thời gian của bác và chút ít tiền bạc của khách hàng, có đáng là bao, nhưng không có chúng, tính ra thu nhập của bác Hai giảm đáng kể.

Hỏi ra bác Hai mới biết rằng, dao này công ty du lịch của anh Tư rất ít khách, đi tua bữa đục bữa cái không được bao nhiêu. Thêm vào đó hàng họ bên công ty của vợ anh Tư xuất đi không đều nên việc làm trong giờ còn không đủ lầy đâu mà tăng ca. Hậu quả là thu nhập của cả gia đình giảm đi một khoản kha khá và anh thì phải bớt gội đầu, lấy ráy tai, chị phải bớt dũa móng chân sơn móng tay. Bữa cơm gia đình cũng đôi phần đạm bạc và ít tiếng cười hơn.
Việc cắt giảm chi tiêu của gia đình anh Tư đã làm cho việc làm cũng như thu nhập của bác Hai cắt tóc, cô út làm đầu, chú Năm điện tử bà Sáu bán thịt… giảm sút và từ đó kéo theo một loạt gia đình khác cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Ngồi không chẳng có việc gì làm bác Hai cứ cảm thấy tiếc hùi hụi. Giá mà thằng Tư và những người khác cứ cắt tóc đều đặn lại thêm cái khoản ráy tai gội đầu nữa thì mình vừa có thêm thu nhập,vừa không phải ngồi ngáp ruồi chứng kiến những kẻ vô công rồi nghề (do không biết làm gì) tụ tập rồi sinh chuyện, gây ra bao rắc rối cho làng cho xóm.

Công sức có đáng là bao, một ngày có chừng đó thời gian, nếu không làm thì cũng ngồi không, người này làm cho người kia tất cả đều tốt lên, vậy mà đùng một cái ai cũng cắt, cũng giảm, để rồi rảnh rỗi mà sinh chuyện, xã hội bất ổn. Thực ra câu chuyện nêu trên chính là bức tranh của nền kinh tế đang hiển hiện rất rõ ở Việt Nam mà nguyên nhân của nó là do tác động của (l) khủng hoảng tà chính dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu mà theo Paul Krugman nhà kinh tế đoạt giải Nobel kinh tế năm 2008 thì có thể phải mất cả thập kỷ nó mới qua đi; và (2) những vấn đề nội tại của kinh tế Việt Nam.

Với những gì đang xảy ra thì có thể dự đoán rằng, trong thời gian tới kinh tế Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề lúc này là Việt Nam cần phải làm gì để giảm thiểu những tác động tiêu cực mà cuộc khủng hoảng kép nêu trên gây ra.

Chuyện “chôn tiền”

Về nguyên tắc, việc giải quyết vấn đề suy thoái kinh tế và thất nghiệp khá đơn giản, chỉ cần làm sao đó để thu nhập của gia đình anh Tư đừng giảm là mọi chuyện trở nên yên ổn, vòng lưu chuyển sẽ trở lại như cũ.

Muốn có điều này, công việc của chính phủ chỉ là in tiền sau đó đem… chôn xuống đất, để cho các doanh nghiệp đào lên chia cho người lao động. Kết quả là mọi người vừa có thu nhập vừa có việc làm, suy thoái kinh tế và thất nghiệp được xử lý.

Đây không phải là chuyện đùa mà là lập luận của John Maynard Keynes, người được xem là cha đẻ của Kinh tế học vĩ mô hiện đại và là nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Dựa vào lý thuyết này mà nước Mỹ đã thoát ra khỏi cuộc đại khủng hoảng và suy thoái 1929-1933. Đây cũng chính là một trong những cơ sở để chính phủ các nước đưa ra chính sách kích cầu.

Tuy nhiên, lý thuyết của Keynes chỉ phù hợp với nền kinh tế trong ngắn hạn (short-run). Do vậy nó đã không giải thích được những hiện tượng xảy ra ở cuối thập niên 1970, khi mà những can thiệp của chính phủ không những không làm giảm được suy thoái và thất nghiệp, mà còn làm cho tình trạng lạm phát trở nên trầm trọng hơn, hiện tượng đình lạm (stagflation).

Ở vấn đề này, Milton Friedman đã chỉ ra mối liên hệ giữa tiền và lạm phát. Lạm phát, là do lượng tiền trong nền kinh tế tăng cao hơn so với khối lượng hàng hóa tạo ra. Năm ngoái, trong nền kinh tế có 100 đồng và 100 đơn vị hàng hóa thì mỗi đơn vị hàng hóa có giá 1 đồng. Năm nay chỉ có 110 đơn vị hàng hóa nhưng có đến 121 đồng thì một đơn vị hàng hóa có giá 1,1 đồng, tăng 10% so với năm ngoái. Việc “chôn tiền” thuần túy của chính phủ, trong dài hạn không làm gia tăng sản phẩm cho nền kinh tế, trong khi lượng tiền gia tăng dẫn đến lạm phát.
“Chôn tiền” là việc mà nhiều nước đã và đang làm, nhưng vấn đề ở chỗ là phải ” chôm. như thế nào để chúng có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế, về sau làm cho lượng hàng tăng tương ứng với lượng tiền và mọi người đều khấm khá hơn mà nền kinh tế lại không bị lạm phát quá cao.

Đối với Việt Nam, để làm được điều này, trong gói ngân sách kích cầu hiện tại, cần cân nhắc kỹ hai vấn đề sau:

Thứ nhất, đối với phần dành cho đầu tư các dự án hạ tầng, Chính phủ nên tập trung vào những dự án có hiệu quả về mặt kinh tế dựa trên tiêu chí suất sinh lợi kinh tế (đã bao gồm ước tính của các ngoại tác như giải quyết việc làm, lưu thông dòng chảy hàng hóa…), tránh tình trạng ưu tiên theo quan hệ, hay chia đều theo vùng miền;

Thứ hai, đối với phần dành để hỗ trợ các doanh nghiệp mà phải là phần lớn trong gói ngân sách kê trên? Nên tập trung cho các doanh nghiệp giải quyết được nhiều lao động, nhưng không quá tốn kém về mặt kinh tế, tránh tình trạng phân biệt đối xử, nhất là giữa doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác.

Tóm lại, khi cảm thấy có nguy cơ suy thoái kinh tế, chống suy thoái là cần thiết. Tuy nhiên, việc dùng chính sách ngân sách gia tăng chi tiêu cần phải được tính toán, cân nhắc và triển khai cẩn trọng, nếu không, khi lượng tiền trong nền kinh tê gia tăng nhưng lượng hàng không tăng sẽ làm cho cả ba rắc rối SUY THOÁI KINH TẾ – THẤT NGHIỆP – LẠM PHÁT sẽ cùng xuất hiện một lúc.

Nếu như vậy, tình thế sẽ rất trầm trọng.

Nhàn nhã như Tết

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao”

Chữ Nhàn của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ấy là chữ nhàn khôn giữa thời buổi điều gì cũng vội vàng tất bật. Ấy là chữ nhàn cứ phải dứt bỏ, tu tập mới có được trong mấy ngày Tết…

Ngày đời trôi nhanh, ngày tết trôi chậm

Sự chối bỏ ồn ào cũng là một tập quán cần tu luyện mới có được, ngày Tết nhắc ta tập quán công phu đó.

Một năm lo khôn, mấy ngày Tết tập nhàn cư, tập dại dột.

Đến cả tết cúng lễ tử đang báo động có thể chỉ còn trong tự điển của vài chục năm tới, khi tốc độ đô thị hóa đã biến giá đất nông thôn phát sốt, khi những chiều ba mươi ta còn mải miết ngược xuôi với những cuộc toan tính bất tận. Giật mình.

Giật mình vốn là cảm trạng có thật khi một năm đi qua. Giật mình là để được trở về. Trở về với góc sống, không gian và trạng thái thanh thản của mình. Giật mình là cái buốt nhói trống rỗng hoang lạnh tâm thức sau tháng ngày bươn bả rồi nhận ra cái vô nghĩa của thời gian nhân sinh thường nhật.

Ngày đời trôi nhanh. Ngày tết trôi chậm.

Ngày tết, là dịp để tập nhàn nhã. Để chăm sóc, tân trang lại mình một cách toàn diện, triệt để nhất. Có thể vì thế mà có Tết. Nhưng tân trang thế nào đây cái cỗ máy đang ngày càng chạy hết công suất, bướng bỉnh thách thức trước thời gian, nhiều nguy cơ hỏng hóc không thể bảo hành vì năng suất cần phải tăng mà bảo dưỡng đang bị lơ là (?).

Tân trang là vầy. Nghe to tát máy móc cơ khí hóa ra lại giản đơn như khi ta chuyển từ nhịp nhanh của tiết tấu sống sang nhịp “tempo giusto” (chậm rãi) và… trữ tình. Đó là cái cảm xúc mình chùng lại trước nắng vàng, hoa cỏ tươi mới. Là lúc ta như mẹ già ngồi ở góc bếp quê lựa những trái đu đủ, cà rốt, những bó kiệu mẩy xanh của mùa màng thôn dã để hong phơi một cơn nắng làm hũ dưa món đặt trên kệ tủ. Là khi ta nhớ đến bọn nhóc trong xóm xúm xít quanh nồi bánh chưng, bánh tét ấm khói giao thừa. Là khi ta như người cha già dành hai ngày cuối năm đi dãy cỏ trên những bia mộ dòng tộc, những mong ngày tết rêu cỏ không phủ che những chỗ nằm hoang lạnh. Là khi ta phụ giúp người thân dọn lại cái bàn thờ, lau lại bộ bàn ghế và mua hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa mai trang trí cho không gian căn phòng thân thuộc để tiếp khách, để hoa đáp lại những lời chúc xuân của láng giềng, bà con.

Ngày tết rồi cũng trôi nhanh. Nhưng dư vị háo hức ấy thường đến sớm trong những dự định, sắp đặt dọn dẹp, chăm sóc, tân trang đời sống. Thay một khay trà mới, đặt một cánh thiệp mới, treo một tờ lịch mới… Chăm sóc cho không gian nội thất của gia đình là làm tươi mới cái đời sống vốn ngổn ngang vô tình phù phiếm đến nhức nhối suốt một năm. Là niềm hạnh phúc có thể nắm bắt được khi có thể ăn bình thường, hít thở bình thường và tận hưởng thấu đáo những rung động giao cảm bình thường với người thân với đất trời.

Và hơn bao giờ hết, những ngày cuối năm, trong cái khoảng nhàn nhã ấy ta sẽ ít xem đồng hồ hơn để dành sự bận tâm tập trung làm sao hít thở một cách tròn đầy. Nhiều ngày nhiều tháng ta không nhớ hơi thở của mình. Nhiều ngày, nhiều tháng ta thở những hơi đứt quãng và dồn nén trong lồng phổi nấc giật và co thắt không đều. Nhiều ngày, nhiều tháng ta chưa trải qua những khoảng bình lặng bình yên như lúc này đây nằm vắt vẻo đu đưa trên võng và nghe trong những bài nhạc xuân đồng quê xưa cũ cảm giác thảnh thơi, an tĩnh…

Ngày Tết người ta được phép lâng lâng cùng chén rượu đầy mà không phải la lối om sòm hay ngoài vùng phủ sóng ở những cuộc bia bọt xã giao. Rót rượu và nghe trên tay tiếng sủi tăm của vị men nồng. Nghe trong gió cái mơn man của một sự lay động tinh tế. Người ta chỉ thực sự nhàn khi cảm nhận hết ý nghĩa giao hòa giữa sự hướng tha với hướng nội, giao hòa giữa chiêu kích cảm nghiệm tâm thức với hòa đồng vạn vật đất trời. Ở đó, sự chối bỏ ồn ào cũng là một tập quán cần tu luyện mới có được. Ngày Tết nhắc ta cái tập quán công phu đó.

Rồi thì giờ vẫn là thì giờ. Dù chậm đến thế nào thì ngày Tết rồi cũng qua như bao ngày khác trong năm. Chậu mai trong nhà đã bung hết một mùa sung mãn rực vàng. Những đóa vạn thọ sáng mùng một cười rạng ngòi lác đác mấy bông, nay đã nứt hết những búp xanh cuối cùng. Và chiếc lư hương ba ngày đầu năm ấm môi cười dư ảnh ông bà trên bàn thờ rồi cũng sẽ phải thay cát bụi mới.

Buổi sáng vẫn bắt đầu bằng nắng vàng gió nhẹ. Nhưng là nắng vàng quá độ và gió nhẹ thoảng chút hanh hao. Ta vẫn muốn nằm ì trên võng đong đưa nhìn trời đất bồng bềnh trong khu vườn xanh bóng lá để nghe em nhỏ khoe tiền lì xì, để cắn những hạt dưa béo giòn và tận hưởng nốt cái mơ màng còn sót lại của tết nhất.

Một năm lo khôn, mấy ngày Tết tập nhàn cư, tập dại dột rồi cũng qua. Chẳng đánh dấu mốc nào lên cái hư huyễn đời người như cách người ta ghi trong những giấy tờ bảo chứng hay lưu trữ. Chỉ là thay vì 2005 thì 2007, thay vì 2007 thì là 2008 và cứ thế, những tờ lịch được xé đi và lại dán lên tường… Những con số sẽ lại trở nên vô hồn suốt một chuỗi ba vạn sáu ngàn ngày ròng. Cái chính là đôi khi nó nhắc nhở và làm rơi vãi vào ta những khoảng lặng, lời nhắc nhủ ân cần về hạnh phúc hay khổ đau, về sự ồn ào huyên náo hay ban phát sự bình yên nhẹ nhàng.

Ngày tết, háo hức hay nấn ná một chút để tân trang mình, để kì kèo với sự nhàn nhã thì cứ mạnh dạn tự cho là đâu có lỗi gì!

Về việc bẻ hoa lễ hội Tết Dương lịch

Điều này đã từng diễn ra ở Lễ hội Hoa anh đào tháng 4 Hà Nội cùng năm.

Những người có văn hóa như bị nghẹn lại, bàng hoàng mà chỉ có thể tức giận run lên trong ý nghĩ:

1. Không thấy một quan chức nào ngành Văn hóa lên tiếng mạnh mẽ. Thái độ lên án của cộng đồng quá yếu, một số phản ứng bằng những từ ngữ mềm mỏng, có phần cải lương trên vài tờ báo. Công luận không quan tâm bằng một góc nhỏ hơn vụ Nhật ký Vàng Anh hay bóng đá.

2. Chứng kiến sự bất lực của những người xuất hiện trong sắc phục của lực lượng bảo vệ nhưng chỉ có thể lên tiếng nhắc nhở mà thôi. Thậm chí không ít kẻ vì muốn thể hiện tình yêu với bạn gái nên nhảy lên bẻ hoa. Những người tử tế lương thiện không thể làm gì chỉ ngậm ngùi.

3. Những kẻ tồi tàn ấy có thể bẻ hoa như thế ở nước khác, môi trường xã hội khác được không? Thậm chí chúng ta không thấy hiện tượng như thế ở thành phố khác trên đất nước Việt Nam cơ mà!

4. Có thể xem việc này như một sự sỉ nhục đối với Hà Nội được xem là ngàn năm văn hiến không? Mảnh đất gọi là văn hiến, là Thủ Đô mà chấp nhận nổi một việc phản văn hóa như thế sao?

5. Ghê sợ hơn khi chúng ta quan sát thấy những kẻ bẻ hoa là sinh viên, những người ăn mặc có vẻ lịch sự và những người dường như đã có thời gian sống đủ dạn dĩ ở đất Hà Nội và họ ở đủ các lứa tuổi!

Hoa tượng trưng cho Vẻ đẹp, Sự sống tinh tế, cho tình cảm giữa thiên nhiên và con người, gần với những biểu tượng được tôn vinh trong cuộc sống tinh thần của chúng ta. Những kẻ bẻ hoa, chúng hủy hoại chứ không phải thưởng thức, chúng tàn phá bởi sự vị kỷ xấu xa chứ không phải để chia sẻ và cộng hưởng với người khác. Chúng cướp phá để biểu hiện một tình cảm lố lăng bệnh hoạn – cái cách chúng muốn sở hữu vẻ đẹp. Chúng không muốn ai đến sau chúng được thưởng thức cái Đẹp, vì thế để lại sự tan nát, tơi tả…

Đến loài chim Kền Kền xấu xí và hôi hám cũng là kẻ làm vệ sinh môi trường. Con chó ăn phân trẻ con cũng biết làm cho sạch sẽ. Những kẻ bẻ hoa kia, chúng thuộc loại gì?

Chúng ta phải đặt ra câu hỏi? Ai có trách nhiệm về sự bi thảm ấy? Khi chúng ta vẫn biết con người là sản phẩm của Gia đình, Nhà trường và Xã hội. Vậy thì cần gọi đích danh Người phải nhận trách nhiệm cuối cùng là: Cha mẹ, Thầy Cô và Quan chức… Nhưng sâu xa hơn nữa là Nền giáo dục, đúng hơn là những tư tưởng nền tảng đã tạo ra nền giáo dục đó…

Những con người, những công dân như vậy sẽ biến mảnh đất này thành gì đây? Để cho bao công lao dựng xây tốt đẹp vào bất kỳ một ngày nào cũng có thể trở nên hoang tàn, trơ trụi không chút ghê sợ, đau xót thậm chí giữa thanh thiên bạch nhật?

Sự sống, môi trường, đẳng cấp loài và sự văn minh

Ai cũng biết Môi trường là Điều kiện Đủ, đặc biệt quan trọng để tạo ra sự Sống ( ý tôi muốn nói rằng chỉ sau Điều kiện Cần là ý muốn của Thượng Đế – điều được đề cập trong các Thánh Kinh ). Sự Sống tác động trở lại, với phương thức sống và cách tổ chức của mỗi Loài cải thiện thêm hay hủy hoại đi, hay làm suy kiệt Môi trường đó.

Môi trường như thế nào mới tạo ra sự Sống? Các Nhà khoa học khẳng định : có ( Nước + Không khí + Qui luật tuần hoàn ) gây nên những phản ứng Sinh Hóa đủ để tạo nên những Tế bào sống từ dạng Đơn Bào sau hàng tỉ năm biến động và tiến hóa để đến như ngày nay.

Để phục vụ cho mục đích của bài viết này, ở đây tôi nhấn mạnh: Môi trường đó, để tiếp tục sản sinh và duy trì sự Sống cần (tôi tạm gọi tắt bằng E): (Cân bằng Sinh thái + Qui luật tuần hoàn không bị phá vỡ + Phản ứng Sinh Hóa tương tác các Loài với Môi trường) -> Đi đến sự Sống tiến hóa.

Thế giới các Loài Sinh vật tự nó tuân thủ tuyệt đối các qui luật và đòi hỏi của Môi trường sống nên dường như không có vấn đề gì, mà tiếp tục trường tồn, nếu không có cú đâm rủi ro của các Thiên thể vào Trái đất. Nhưng ngay cả khi có điều đó như đã từng xảy ra thì sự Sống nhờ (E) vẫn tái lập được ở một điều kiện mới, với trình độ mới…Dần dần Môi trường và sự Sống đi đến sự phân Loài / phân vùng / phân cấp rất rõ ràng: Môi trường nào Sinh vật ấy và đều phải có cái Lý tồn tại của nó đối với Môi trường Sống, và chỉ có thể tồn tại nếu Môi trường Sống chấp nhận cái Lý ấy. Với cách tổ chức sự Sống và xử sự của mỗi Loài rất khác nhau, dường như nói lên trình độ sống – hay là Đẳng cấp Loài của chúng.
Ví như: Cá Kình không thể sống ở sông Tô Lịch, mà phải ở Biển Đông. Rừng cỏ Tranh mênh mông mới là nơi sinh sống của Hổ Báo. Đại ngàn và những đỉnh núi cao mới là nơi của Chim Ưng, Đại bàng. Chim Sẻ thì làm tổ con con trên cây Hồng cây Mít. Con Trăn cuốn mình trên cây cổ thụ, con rắn ươn mình dưới đám cỏ… Đẳng cấp Loài là ở môi trường sống của nó.

Và như Hổ Báo ăn thịt phải săn mồi bằng sức mạnh dũng mãnh, khẳng định chủ quyền trên đồng cỏ. Trâu Bò ăn cỏ, nay đây mai đó theo mùa đến chỗ nào có cỏ xanh, vì thế cần to khỏe, nhưng lối sống hiền hòa, xê dịch…Và người ta biết tại sao Hổ Báo cần đôi hàm và răng nanh khỏe mạnh, nhưng phải mãi tự hỏi cái đôi sừng của Trâu Bò thực ra để làm gì khi chứng kiến một con Hổ khiến cả bầy đàn Trâu Bò phải tán loạn. Đẳng cấp Loài là ở cách tồn tại và tranh đấu của nó.

Thấy như trong xã hội, ngoài yếu tố sinh học thì Môi trường sống còn mang tính xã hội (tôi tạm gọi là S ) – nơi con người đang sinh sống trong cộng đồng của họ ( ý thức + Tâm lí + Tinh thần ). Điều đó đã làm nên những phong cách sống hết sức phong phú và phức tạp ( thêm và ngoài các qui luật của Thiên nhiên ). Có những cách sống, tổ chức cộng đồng giống như Loài Ong, Loài Chuột, Loài Hổ Báo…Có Người phẩm chất phong cách sống như Chim Ưng, Đại Bàng, có kẻ như Loài Dơi, Loài rắn… Nhưng điều quan trọng nhất chưa phải là sự phân Loài / phân cấp của Loài Người giống như Sinh vật, mà đáng bàn hơn là với cách thức giống như Sinh Vật ấy, nhưng mang đặc điểm của xã hội Loài người, mỗi cộng đồng đang có cách tổ chức Sống của mình dù ít nhiều đã làm phát triển hay tổn hại đến (E) từ trình độ văn minh sống của Cộng đồng đó (Trình độ sống văn minh – một khái niệm chỉ gán với cách sống của Loài người)

Những qui luật Xã hội (cộng xen vào các qui luật của Tự nhiên), những lợi ích quốc gia khác nhau, ở mức độ nào đó, thực sự dù có làm nền văn minh phát triển, nhưng đã hủy hoại môi trường sống, làm (E) bị phá vỡ từng đoạn, từng mảng. Nhân loại đã nhận ra rõ ràng nguy cơ ấy mà tìm cách khắc phục. Nhưng vấn đề đáng bàn là có những cộng đồng hay nhóm người, mà đẳng cấp Loài của họ còn gây ra sự khó khăn hơn nữa cho bức tranh chung mà còn làm chính xã hội của họ lún sâu hơn vào lụn bại vì phương cách sống, tổ chức sống thấp kém. Nếu Loài Chuột phá hoại, không phải băn khoăn, cần phải hủy diệt, thì có cộng đồng mà đẳng cấp Loài của họ có cách sống tồi tệ hơn Chuột, khiến xã hội rối trí vì không thể đặt vấn đề hủy diệt được

Vì vậy, tôi xin đưa ra Ba khái niệm

1. Hằng số Sinh học: Là năng lực sinh học của một Loài được qui định bởi Tính Trồi cao nhất có thể có đc trong cấu trúc Gen của nó, được tạo ra và định hình trong một phạm vi thời gian rất dài của lịch sử tiến hóa của Giống Loài đó. Ví dụ : Chuột thì có thế nào cũng không trở thành Mèo được

2. Hằng số Cộng đồng: khí chất của một Cộng đồng ( đồng nhất về chủng tộc hoặc về tập tính ) là Tính Trồi làm nên năng lực của Cộng đồng đó, chỉ có thể đạt được đỉnh văn minh cao nhất được qui định bởi tố chất văn hóa Cộng đồng của chính nó ( gọi là Gen Cộng đồng ), đã được hình thành và ổn định trong khỏang thời gian khá dài trong lịch sử của nó. Ví dụ : có những Cộng đồng bao nhiêu nghìn năm vẫn mang tính Bộ tộc đánh nhau và phá phách…

3. Tính Trồi của Gen: Là tốt khi tìm cách thích nghi và góp phần cải tạo môi trường sống rộng lớn để (E)+ (S) tốt hơn, bản thân ưu việt hơn mà tiến hóa ( phát triển cao hơn mặt bằng chung các Loài )- bởi vậy đẳng cấp Loài cao. Là xấu khi hướng tới bảo thủ, tìm cách bảo tồn ( trong yếm thế ) những đặc tính sống của riêng mình trong không gian sống khép kín, vì thế mà thoái hóa, kí sinh hay làm (E)+ (S) thêm hư hại – bởi vậy đẳng cấp Loài thấp

Có thể đề cập đến cách sửa Gen hay tạo nên đột biến, cấy ghép Gen tốt vào chuỗi Gen nào đó của Loài đẳng cấp thấp – như Công nghệ – đã có thể đối với các sinh vật. Nhưng với Cộng đồng đẳng cấp thấp ( đặc biệt là hằng số sinh học và cả hằng số Cộng đồng cùng rất thấp ) với bao nhiêu các yếu tố xã hội, các rào cản văn hóa, tâm lí cộng đồng thì tính sao đây ? Chúng ta thấy cách tốt nhất là tạo cơ hội cho những Cộng đồng đó hội nhập vào môi trường sống văn minh cao với sự áp đặt khuôn khổ của ( Công nghệ + Quản lí + Tổ chức xã hội ) với trình độ cao và để các qui luật ( Thị trường + Qui luật chọn lọc về Giá trị + Qui luật trả giá cho sự sống còn ) tác động vào một cách nghiêm khắc…khiến những thứ hư hỏng, có hại và không văn minh phải bị đào thải mạnh mẽ.

Quay về (E) nói trên, đảm bảo có chỗ cho mọi Loài Sinh vật và mọi Loài Sinh vật phải chứng minh được cái Lý tồn tại sinh học tích cực của nó với (E). Với (E) + (S) cũng thế với các Cộng đồng, phải chứng minh được lý do tồn tại văn minh của mình nếu không sẽ phải bị ý chí của xã hội văn minh đào thải

Cuối cùng, tôi trình bày văn tắt Tổng thức Luận của bài viết này như sau (trên cơ sở xem môi trường sống: (E) + (S) tác động tích cực nên đẳng cấp Loài của các Cộng đồng) :

• Atmosphere ( Khí quyển ) -> Thanh Sạch
• Ecosphere ( Sinh quyển ) -> Cân bằng
• Phychosphere ( Tâm quyển ) -> Minh sáng
• Sociosphere ( Xã quyển ) -> Chính chuẩn
• Noosphere ( Trí quyển ) -> Thức hành

Thị trường và con người

Những khủng hoảng gần đây đều do đạo đức. Lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, dẫn đến khủng hoảng.

Xét lại luận điểm thị trường không hoàn hảo

Gần đây, trong giới học thuật tài chính và giới kinh doanh thực tiễn, người ta đã nghiêm túc xem xét lại luận điểm về thị trường không hoàn hảo trong các vấn đề định giá. Hiểu một cách nào đó, thị trường hoàn hảo là thị trường trong đó người ta có thể bắt chước (replicate) bất kỳ một chiến lược mua bán nào, sản phẩm nào (quyền chọn, cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán từ nợ dưới chuẩn…) từ những sản phẩm cơ bản khác. Bỏ qua các yếu tố kỹ thuật, điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa người ta có thể phòng ngừa bất kỳ loại rủi ro nào trong tương lai. Ít nhất, trong nhiều mô hình tài chính và bảo hiểm, đây là ý tưởng căn bản về một mô hình của thị trường hoàn hảo.

Đây là luận điểm không mới và cũng không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là những mô hình tài chính được ứng dụng, vốn tưởng chừng cách xa các mô hình trong sách giáo khoa, cũng bằng cách này hay cách khác, vô tình hay cố ý, dựa trên những giải pháp trong đó giả định rằng tồn tại một thế giới mà trong đó người ta trung lập với rủi ro (risk neutral world), một thế giới mà các rủi ro có thể phòng ngừa được (hedgable).

Với việc giả định những điều trên, người ta chấp thuận một phần nào khái niệm thị trường là hoàn hảo (complete market), nói nôm na, là có đủ “đồ chơi” để phòng ngừa rủi ro. Trong một hội thảo gần đây ở London, người ta đã tranh cãi khá nhiều về chuyện một số mô hình tưởng chừng không giả thiết rằng thị trường là hoàn hảo, cuối cùng lại dùng những kỹ thuật tài chính để giải quyết vấn đề mà cuối cùng kỹ thuật đó lại thừa nhận thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó.

Cụ thể, các giải pháp này giả định rằng tất cả rủi ro có thể được phòng ngừa và nếu xuất hiện một cơ hội kiếm tiền mà không có rủi ro, thì cơ hội đó sẽ nhanh chóng mất đi (người ta thường gọi đây là giả định no arbitrage trong một thị trường hiệu quả). Nói cách khác, nhiều người làm tài chính đang giả định thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó trong cách tác nghiệp của mình, cho dù họ không thực sự tin thị trường là hoàn hảo.

Điều này có ý nghĩa gì? Câu trả lời là nó làm trầm trọng tình hình khủng hoảng. Nói cách khác, thị trường không có khả năng tự sửa chữa sai lầm hay tự bảo vệ mình khi nó phát hiện ra đã có điều gì đó không ổn diễn ra.

Có những rủi ro không thể (hay đúng ra là chưa thể) phòng ngừa được một cách thích hợp nhưng được giả định đã được phòng ngừa tốt. Ví dụ, rủi ro đối tác nhận phòng ngừa rủi ro phá sản, rủi ro của những sản phẩm phái sinh từ các khoản nợ dưới chuẩn, và rủi ro thị trường mất thanh khoản đột ngột…

Bình thường, các rủi ro này xuất hiện thì mọi chuyện sóng yên, biển lặng, các chuyên gia về kỹ thuật tài chính (financial engineering) kiếm các khoản lương và thưởng 5, 6 con số; những chuyên gia về chứng khoán phát sinh từ nợ dưới chuẩn thì tha hồ kiếm hoa hồng từ việc bán các sản phẩm này. Đến khi xuất hiện một yếu tố gây sụp đổ một phần trong hệ thống tài chính, người ta mới giật mình nhận ra những cái gọi là phòng ngừa rủi ro hoàn toàn thất bại, và góp phần vào việc tạo ra khủng hoảng dây chuyền. Những ý tưởng này phần nào được Stiglitz, Taleb và nhiều học giả khác thừa nhận hay cảnh báo từ lâu. Nhưng ngành bảo hiểm và các sản phẩm phái sinh mới ra đời đã phớt lờ cảnh báo đó.

Thị trường không hoàn hảo và yếu tố con người: thị trường sẽ mắc sai lầm

Tuy nhiên, nếu các rủi ro thị trường không thể phòng ngừa được ở trên chỉ là yếu tố làm trầm trọng khủng hoảng, chứng tỏ là thị trường không thể tự sửa chữa sai lầm của mình, thì nó cũng không nhất định gây ra khủng hoảng. Nếu thị trường không mắc sai lầm thì sẽ không cần phải sửa chữa. Vấn đề là thị trường đã thực sự sai lầm. Khủng hoảng đến từ một yếu tố khác: yếu tố con người.

Có nhiều luận điểm khác nhau để chỉ ra vì sao thị trường là sai lầm, nói cách khác, giá sản phẩm tài chính (giá cổ phiếu, trái phiếu, giá bất động sản, giá sản phẩm phát sinh từ nợ dưới chuẩn…) đều không đúng nữa vào thời điểm trước khủng hoảng. Những cơn sốt giá, và những đợt sụp đổ, là do những chủ thể tham gia thị trường đã đẩy thị trường đến những mức giá “không đúng”. Điều này phá vỡ luận điểm của trường phái tin rằng thị trường sẽ luôn tự điều chỉnh về mức giá cân bằng và mức giá này “đúng”.

Con người mắc sai lầm, và do đó thị trường mắc sai lầm. Và sau đó các định chế thị trường, các cơ chế phòng ngừa rủi ro, những thiết kế không hoàn hảo như người ta tưởng, đã không đủ sức sửa chữa một vài sai lầm ban đầu. Kết quả, chúng ta đối diện khủng hoảng tài chính.

Hành vi phi đạo đức gây khủng hoảng

Có nhiều trường phái mới nổi lên giải thích vì sao giá thị trường không đúng, vì sao thị trường vẫn có những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage opportunities) tồn tại lâu dài, vì sao tạo ra bong bóng và sụp đổ… trong đó viện dẫn nhiều nguyên nhân về bất cân xứng thông tin, về nhà đầu tư không hợp lý (trường phái tài chính hành vi mới nổi gần đây), về việc có nhiều loại các nhà đầu tư khác nhau, về thị trường hợp lý tối thiểu… Tuy nhiên, tìm kiếm đâu đó trong các lý thuyết này, trực tiếp hay gián tiếp, người ta ngụ ý rằng, tồn tại sự lừa gạt lẫn nhau, che giấu thông tin trên thị trường. Đó là vấn đề đạo đức, và là mầm mống căn bản của khủng hoảng.

Giám đốc công ty phù phép số liệu lợi nhuận, thổi phồng giá cổ phiếu. Tổ chức tài chính bất chấp rủi ro, cứ bán sản phẩm phát sinh từ nợ dưới chuẩn vô tội vạ. Công ty xếp hạng tín nhiệm lại không biết vì động cơ gì, xếp hạng những loại chứng khoán từ nợ dưới chuẩn thuộc loại rất an toàn. Và giám đốc quỹ đầu tư không cần biết là giá của các loại chứng khoán này có bất hợp lý không, cứ thấy nó đang kiếm ra tiền là mua. Ngân hàng thương mại thoải mái chiêu dụ khách hàng không đủ điểm tín dụng đi vay mua nhà. Và còn nhiều nữa.

Một người bạn của người viết đã có một nhận định đáng chú ý: khủng hoảng nào gần đây mà chẳng phải do đạo đức. Khủng hoảng 1997, hệ thống ngân hàng góp phần bằng việc cho vay vô tội vạ, đặc biệt là cho những tập đoàn tầm cỡ “quá lớn để đổ vỡ” vay. Năm 2000, là vụ việc Enron và các công ty dotcom, và nay, là vấn đề sản phẩm phái sinh từ nợ dưới chuẩn, mà sâu xa hơn là việc người ta khuyến khích người khác vay tiền mua nhà; người người mua nhà, nhà tăng giá, lại đem nhà thế chấp vay tiền. Đó là những tình huống mà lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, vì lợi nhuận, bất chấp tất cả.

Tiêu biểu là trường hợp Peter Kraus của Merrill Lynch bị “ra đi” với khoản “lương hưu” trị giá 10 triệu đô la Mỹ, gần như cùng lúc với tin Bank of America sẽ sa thải 500 nhân viên của Merril Lynch sau khi sáp nhập. Thật là một bức tranh tương phản gây nhiều suy nghĩ.

Đối phó yếu tố phi đạo đức: pháp trị hay đức trị?

Ngày càng nhiều người nhận ra rằng vấn đề đạo đức trở thành quan trọng trong việc duy trì một nền kinh tế khỏe mạnh. Trong ngành tài chính, các chứng chỉ như CFA chẳng hạn đều yêu cầu học các điều khoản về đạo đức. Các khóa học MBA bắt đầu nói nhiều hơn về đạo đức kinh doanh. Người ta đang cho rằng dạy về đạo đức kinh doanh thì sẽ ngăn ngừa được những hành vi phi đạo đức và ngăn ngừa khủng hoảng (?).

Trong khi đó, một cách tiếp cận thực tế hơn (ít nhất là dưới mắt người viết), là việc siết chặt quản lý vốn đang bị bỏ lỏng quá nhiều đối với thị trường tài chính (nhất là thị trường Mỹ và những phương thức quản lý học theo kiểu của Mỹ). Đây có thể là cách nhìn pháp trị. Gần đây một số nước, bao gồm Mỹ, Pháp tỏ ra mạnh tay trong việc siết lại những “chiếc dù vàng” (tức các khoản bồi thường khi phải ra đi) của các nhà lãnh đạo các tập đoàn lớn đang tính “hạ cánh an toàn” trong khủng hoảng. Và nhiều người làm trong các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn cũng đã bị quốc hội Mỹ “hỏi thăm” và “để mắt” đến.

Vậy là sau một thời kỳ người ta tin rằng hãy để thị trường tự điều chỉnh, nay người ta lại quay về với pháp trị. Điều đáng lo ngại là sau khi nới lỏng quá mức thì những luật định mới có thể lại quá khắt khe mà chưa chắc hiệu quả.

Gợi ý cho Việt Nam

Những thảo luận trên đây có thể tỏ ra có ích cho tình hình nước ta hiện nay. Chuyện suy đồi đạo đức gây khủng hoảng cho thấy cần phải chống tham nhũng và lãng phí mạnh hơn nữa.

Thứ hai, Việt Nam cũng nên có giải pháp ngăn chặn những trường hợp kiểu “hạ cánh an toàn”. Những “chiếc dù vàng” ở Việt Nam có thể có nhiều dạng thức khác, không chỉ ở các tổ chức kinh doanh mà có thể ở đâu đó trong các tổ chức quản lý nền kinh tế hay là các tập đoàn lớn. Nó cũng là mầm mống gây khủng hoảng. Việc triệt tiêu những mầm mống này không thể chỉ bằng đức trị mà phải kết hợp với cả pháp trị.

Thứ ba, như đã đề cập ở trên, thả lỏng quá rồi siết lại thì đúng nhưng siết theo kiểu dàn hàng ngang, không có mục tiêu cụ thể, thì không chừng siết chết động lực phát triển kinh tế. Vì vậy, khi điều chỉnh nới lỏng hay siết lại các hoạt động trong nền kinh tế, nên xem xét liều lượng cho phù hợp.

Cuối cùng, là gợi ý về chuyện chống suy thoái. Không phải cứ có tiền kích cầu là có thể chống suy thoái. Từ chính sách đúng mà truyền động đến nền kinh tế thì phải thông qua con người. Con người mà không có hành động đúng trong trường hợp này thì dù có tiền cũng không đưa nền kinh tế về cân bằng được mà khủng hoảng trầm trọng hơn. Do đó, tiền và chính sách đúng để chống khủng hoảng chỉ mới là một mặt. Con người chống khủng hoảng mới là quan trọng. Vì chính con người là yếu tố quan trọng tạo ra khủng hoảng.

Nghị sĩ công dân

Nền dân chủ sơ khai đầu tiên trong lịch sử loài người bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, tiếng Hy Lạp gọi là “Δημοκρατία”, có nghĩa nhân dân quyết định công việc nhà nước. Tuy nhiên, lúc đó khái niệm “nhân dân quyết định” cũng chỉ giới hạn vào một nhóm người và loại trừ phụ nữ.

Ngày nay, dân chủ được phân ra dân chủ trực tiếp, nghĩa là mỗi người dân có quyền tham gia trực tiếp vào quyết định của nhà nước (trên thực tế ở cấp trung ương không xảy ra ngoại trừ trường hợp trưng cầu dân ý), và dân chủ đại diện (hay gián tiếp) nghĩa là chỉ những người đại diện do dân bầu ra có quyền đó, như nghị sĩ quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân.

Với dân chủ gián tiếp, ý nghĩa thật sự của nền dân chủ (nhân dân quyết định công việc nhà nước) phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ thực tế giữa người đại diện, chính quyền, người dân, và chỉ đạt tới lý tưởng một khi mối quan hệ đó mang bản chất dân chủ trực tiếp – đích phấn đấu của mọi nhà nước dân chủ trên thế giới ngày nay.

Tuy nhiên, không phải cứ có đích tốt là thực thi được, dân chủ là một quá trình vận động tương tự như quá trình sản xuất, cần có giải pháp công nghệ. Trong thời đại hội nhập toàn cầu, công nghệ thực thi dân chủ cũng như mọi lĩnh vực khác, luật pháp, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật… cho phép các quốc gia phấn đấu, đeo đuổi những thành tựu tiên tiến nhất.

Thành tựu công nghệ thực thi dân chủ hiện nay có thể kể đến là “Hội nghị công dân”, được nước Đức áp dụng cho cấp chính quyền địa phương, huyện, thành, do bộ luật cùng tên điều chỉnh, ban hành bởi từng tiểu bang. Theo đó, Hội nghị công dân phải tiến hành mỗi năm một kỳ, do Hội đồng Nhân dân lên kế hoạch, hoặc nếu do 2,5% dân số địa phương thỉnh nguyện thì phải triệu tập trong vòng ba tháng, và Phó hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân chủ tọa.

Mọi công dân có quyền bầu cử đều được quyền dự và phát biểu yêu cầu, đề nghị, chất vấn chính quyền, tương tự như đại biểu quốc hội chất vấn chính phủ ở ta, xoay quanh các chủ đề liên quan tại địa phương, quy hoạch đất đai, phát triển trường học, giao thông công chính, xây dựng cơ sở thể thao, chăm sóc người già, trẻ em…

Luật quy định chi tiết cả chương trình nghị sự: người dự phải trình chứng minh thư, được phát mẫu giấy thống nhất đăng ký phát biểu ghi nhân thân, chủ đề cần nói; chủ tọa thu lại, sắp xếp thứ tự phát biểu theo từng nhóm vấn đề.

Sau khi chủ tọa khai mạc, các ban ngành chính quyền báo cáo tóm tắt phần việc của mình, kế hoạch, kết quả thực hiện và những tồn tại, tiếp theo công dân phát biểu, chất vấn như đã đăng ký, không quá 5 phút/1 diễn giả. Ủy ban cùng từng ban ngành phải trả lời tại chỗ những ý kiến chất vấn; nếu vắng mặt, chủ tọa phải ghi lại câu hỏi chuyển tới họ.

Cuối cùng hội nghị biểu quyết giơ tay từng vấn đề, theo nguyên tắc quá bán, hình thành nên nghị quyết. Nghị quyết này mặc dù không mang tính pháp lý cưỡng chế, chỉ mang tính đề đạt, tư vấn, phản ảnh ý nguyện của dân, nhưng trong vòng ba tháng chính quyền vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý đưa ra quyết định cuối cùng đối với từng vấn đề đã đề đạt, và thông báo bằng văn bản đến từng người dự.

Hội nghị công dân về mặt hình thức có thể coi như tiếp xúc cử tri ở ta, nhưng là một bước tiến về chất, chuyển từ dân chủ gián tiếp, người dân ở vị trí thụ động trông mong vào nghị sĩ, sang dân chủ trực tiếp, đứng hẳn vào vị trí nghị sĩ, chủ động tham gia quyết định công việc nhà nước – lý giải cho việc chính sách nước họ được người dân thực thi nghiêm minh, có ý thức, bởi người dân phải chịu trách nhiệm với chính quyết định của mình, không thể thoái thác đổ cho nhà nước áp đặt.

Công nghệ trên được nước Đức hoàn thiện chi tiết cho mọi điều kiện, ở những thành phố đông dân tới cả triệu không thể có hội trường đủ chỗ, hội nghị công dân được chia nhỏ theo lĩnh vực tới vài chục phiên họp.

Một dạng thức khác của công nghệ trên là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân gửi phiếu xin ý kiến tới từng công dân mình, yêu cầu thông tin cho chính quyền ý kiến của họ đối với từng vấn đề cụ thể ở địa phương theo mẫu in sẵn, dưới dạng câu hỏi kiểu thăm dò xã hội học.

Chẳng hạn, trong tháng 12-2008, từng công dân thành phố Leipzig nhận được phiếu xin ý kiến của Chủ tịch Ủy ban thành phố, hỏi về giao thông, trong năm năm qua họ đã chuyển đổi phương tiện đi lại như thế nào giữa hai thời điểm trước kia và hiện nay, trong số tám loại phương tiện: tàu điện, xe buýt, ô tô riêng, xe gắn máy, tàu hỏa, tàu hỏa nội thành, xe đạp, đi bộ. Lý do thay đổi do giá đắt đỏ, do sức khỏe, do ý thức bảo đảm môi trường, do thuận tiện hơn, do công việc thay đổi, hay còn do nguyên nhân khác. Loại và số lượng phương tiện đi lại của từng hộ, ô tô riêng, ô tô của công ty cho dùng, mô tô, xe ga, xe đạp. Thời gian đi từ nhà đến chỗ đỗ phương tiện, đến chỗ làm việc, dưới 2 phút, dưới 5 phút, dưới 10 phút, hay trên nữa?…

Dạng thức này khác Hội nghị công dân, không có chất vấn, không nghị quyết, và cũng không có hồi đáp của chính quyền, nhưng cùng mục đích là thực hiện dân chủ trực tiếp; tổng kết các câu trả lời của công dân là căn cứ cho hoạch định chính sách của chính quyền; công dân gián tiếp đóng vai trò nghị sĩ.

Công nghệ này cho phép tránh được kiểu dự luật cấm người thấp bé nhẹ cân đi xe gắn máy trên 50 phân khối ở ta với lập luận hạn chế tai nạn, bị phản đối dữ dội, do soạn thảo chủ quan, không có căn cứ dữ liệu, thiếu ý kiến từ chính đối tượng bị luật điều chỉnh – họ cũng là nhân dân!

Công nghệ thực thi dân chủ không chỉ quan trọng đối với người dân trong xã hội mà còn rất đặc biệt đối với doanh nhân trong lĩnh vực kinh tế. Của cải xã hội được làm ra không phải trực tiếp từ nhà nước mà từ doanh nghiệp; một cường quốc kinh tế chỉ ra đời với những công ty, tập đoàn có thương hiệu tầm cỡ thế giới. Chính sách kinh tế, vì vậy, chỉ mang lại hiệu quả thực sự khi nó đặt doanh nhân, người chủ sản xuất vào vị trí nghị sĩ, góp phần hoạch định các chính sách đó – một nội hàm của khái niệm dân chủ trong kinh tế.

Có thể nhận biết nguyên lý trên từ ví dụ ở Đức, doanh nghiệp luôn nhận được phiếu xin ý kiến, mẫu các dữ liệu cần khảo sát, từ chính quyền, từ các cơ quan khoa học, các hội đồng tham vấn kinh tế; tổng hợp ý kiến, dữ liệu thu trở lại bảo đảm căn cứ vững chắc cho việc hoạch định các chính sách, quyết định kinh tế của nhà nước.

Ở ta những sự kiện kinh tế nổi bật trong năm, như thiệt hại mất tới nửa giá gạo xuất khẩu do dự báo sai, hay giải pháp cho kinh tế vỉa hè, hàng rong, lưu thông xe tự chế, định giá xăng dầu, ô nhiễm môi trường, nhiễm độc thực phẩm, nhập siêu… đều có phần nguyên do từ thiếu vai trò nghị sĩ kinh tế của giới doanh nhân, nhà sản xuất, người kinh doanh cá thể.

Nguyên lý nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân, hiện không còn là điều bàn cãi trên thế giới, có chăng chỉ còn công nghệ thực thi khác nhau, và sẽ quyết định đích đến khác nhau, trong đó vai trò nghị sĩ của công dân mang tính quyết định. Khai thác được nó chính là đã huy động được “nội lực” lớn nhất – một khái niệm nức lòng người dân được hiệu triệu nhiều ở ta, nhưng lại thiếu công nghệ thực thi!

Đôi nét về tư duy đa phức

“Chúng ta còn luôn ở trong tiền sử của trí tuệ con người. Chỉ có tư duy đa phức mới cho phép văn minh hóa tri thức.”

Nhận thức khoa học đã từ lâu và nay vẫn được quan niệm là có nhiệm vụ xóa sạch cái bề ngoài phức tạp, của các hiện tượng nhằm bộc lộ cái trật tự mà các hiện tượng tuân thủ.

Nhưng, dường như những phương thức giản ước về nhận thức đã làm hiện tượng trở nên què quặt, hơn là trình bày sát đúng, gây ra mù mờ hơn là soi rõ. Thế là nảy sinh vấn đề: làm thế nào có thể đối diện, xem xét sự phức tạp mà không giản ước, không theo cách đơn giản hóa? Bài toán này không phải lập tức buộc người ta chấp nhận mà bắt buộc chứng minh tính cách chính đáng hợp lý của nó. Bởi cái từ “phức tạp” hoặc “đa thức” đâu có được thừa kế một di sản triết học khoa học, khoa học luận nào đâu. Ngược lại nó còn mang nặng tì tật về ngữ nghĩa, bởi vì nó nói đến “phức tạp” là nói đến mù mờ, lẫn lộn, rối rắm, không trật tự, không chắc chắn. “Phức tạp” là không thể tóm gọn bằng một từ chủ chốt, không thể qui vào một qui luật, không thể trình ra một ý tưởng giản dị. Phức tạp là một từ – đặt vấn đề, một từ – nêu bài toán, chứ không phải một từ – giải quyết vấn đề, từ – giải đáp bài toán.

Và như vậy, để thích ứng với vấn đề phức tạp, phải có tư duy phức tạp, và để khỏi rơi vào hiểu lầm, hiểu sai “tư duy phức tạp” xin dùng “tư duy đa phức” (la penseé complexe).

Với hiện tượng đơn giản, ta quan sát, tìm nguyên nhân tìm biện pháp giải quyết, theo luật nhân quả, tư duy như vậy là theo lối đơn tuyến. Và trên giả thiết – vốn đã trở thành niềm tin rằng đó là hiện thực – mọi việc đều theo qui luật, đều xác định được (determinism). Với hiện tượng phức tạp như mớ bòng bong, chằng chịt tùm lum, thành một cái mạng (réseau), không còn có thể dùng tư duy đơn tuyến (linéaire) để tiếp cận nghiên cứu hiện tượng được nữa. Phải dùng một lối tư duy thích hợp. Đôi mươi năm trước, cụm từ “tư duy xi-bec-nê-tic” đã được dùng, nay thấy dùng cụm từ “tư duy đa phức” của triết gia lẫy lừng danh tiếng Edgar Morin. Từ những phát hiện mới của nhiều môn khoa học tự nhiên ví như vi vật lý, sinh học phân tử… mà ra những thuyết mới tạo nền cơ sở cho tư duy mới. Đó là những thuyết như thuyết về Hỗn độn (Chaos), về Tai biến (Catastrophes), về Ngẫu nhiên (Hasard), về Bất xác định (Indéterminié). Phạm vi bài nhỏ này không sao dung nạp việc trình bày, dù rất sơ lược những thuyết đó, chỉ xin thưa một điều: đi vào những cái mới nhất của phương Tây trí tuệ này, gặp lại khá nhiều điều cốt lõi là phương Đông trực giác đã nói. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khác: hai mặt oái ăm của sinh vật gọi là Người. Một phương trời thảo luận khác.

Bây giờ đang nói về tư duy đa phức. Dường như trước hết có hai chuyện phải xua đi cho đỡ phần ảo tưởng. Đa phức không có nghĩa là hoàn toàn vứt bỏ giản ước mà chỉ vứt bỏ những khiếm khuyết của giản ước: què quặt, đơn chiều, thô mộc, mù mờ ở kết luận vốn lấy cái được phản ánh làm cái thực tại để giữ lại những gì đã thành tựu được: trật tự, phân minh, sáng sủa, chính xác ở tiến hành nhận thức – Đa phức không có nghĩa là bổ sung thứ này thứ khác cho nhiều lên để ra vẻ phức tạp, dĩ nhiên, tư duy đa phức vứt bỏ cái lối chẻ chặt chia cắt, cô lập, tìm đến những cái gì móc nối liên kết, tương tác, tương sinh, lấp những chỗ đứt đoạn hẫng trống giữa các môn khoa bọc. Nhưng, tư duy đa phức, ngay từ đầu, biết rằng con người không thể có được một tri thức hoàn bị, tuyệt đối đầy đủ. Khẳng định của Pascal: “Mọi sự vật đều được gây nên và gây nên vật khác, được phù trợ và phù trợ vật khác, vừa trực tiếp vừa gián tiếp và tất cả đều tồn tại bởi một dây liên hệ tự nhiên và vô cảm nối liền nhau những sự vật xa nhau nhất và khác nhau nhất”.

Như vậy, nhận dạng đầu tiên đối với tư duy đa phức là vươn đến một tri thức không cục bộ, không ngăn cách, không giảm thiểu, giản ước, và thừa nhận mọi tri thức đều bất kết thúc và bất hoàn bị. Một tri thức đa chiều, đa tuyến, cũng là có dạng mạng. Mạng tư duy đối diện tiếp cận mạng hiện tượng, tìm cho ra một điểm nào đó mà bám vào đó là tháo gỡ được mớ bòng bong. Edgar Morin viết: “Cái từ “đa phức” đến với tôi là do được chuyển tải bởi các lý thuyết về tin học, về xi-bec-nê-tic, về hệ thống, về tự tổ chức… nối liền trật tự với vô trật tự, với tổ chức, trong tổ chức có một và có nhiều khái niệm… những khái niệm đó thao tác với nhau, vừa bổ sung vừa tương khắc, tương tác, và kết chùm những mối quan hệ giữa kinh nghiệm thực chứng, lô-gic với hợp lý… tư duy đa phức không né tránh hoặc vứt bỏ thách thức, mà góp phần trợ giúp việc tiếp nhận thách thức, và có khi vượt qua thách thức…”

Năm tháng hiện nay và sắp tới dồn dập quá nhiều thách thức, có những thách thức đối với vận mệnh của quả đất, của loài người. Cấp thiết và xiết bao quan trọng tư duy gỡ được bòng bong, vượt qua được thách thức, và nguy hiểm biết bao nếu vẫn chống gậy già nua đi trên đường đơn tuyến nhân quả đơn giản.

Khoa học quả đã đem lại cho chúng ta những hiểu biết tuyệt vời “sánh tày Thượng Đế”, nhưng hằng ngày vẫn xảy ra vô số chuyện mù quáng, phi lý, dốt nát, sai lầm. Nhỏ như biết hút thuốc lá là bị ung thư mà vẫn thích thú hút. Lớn như một dân tộc dùng sức mạnh quân sự đày dọa một dân tộc khác vào thảm cảnh mà chính dân tộc mình là nạn nhân hàng thế kỷ?

Theo E.Morin, những đe dọa lớn nhất đối với loài người đều gắn liền với tiến bộ mù quáng và không kiểm soát được của tri thức( như vũ khí hạt nhân, hư hỏng sinh thái…). Những sai lầm, dốt nát mù quáng đó có một tính chất chung vốn là kết quả của “một kiểu thức tổ chức tri thức đã lỗi thời, bất lực trong việc nhận thấy và nắm bắt sự đa phức của thực tại”.

Có phải chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng, khó hiểu khi nghe những cái tin đại loại như thiếu niên làm giám đốc công ty tin học, chỉ đạo kinh tế bằng bất đối xứng, cừu mang gien người? Và bao nhiêu tồi tệ, man rợ cũng đến khó hiểu: ma túy vào học trò tiểu học, cuồng dâm với trẻ con, khỏa thân và đồng tính luyến ái là “thành tố văn hóa”.

Liệu lối tư duy theo cơ khí, sản phẩm của thời cơ khí, có thể lý giải và giải quyết mọi mặt hiện tượng đó, giải quyết một cách tốt đẹp cho con người, nhân loại? 10 tuổi, 14 tuổi đã làm giám đốc công ty tin học, có thu nhập, đấy là chuyện tốt, đáng mừng, hay chuyện đáng lo sợ, sẽ xảy ra cái gì? Sẽ xảy ra cái gì sau con cừu mang gien người?

Từ thời Descartes tách đôi chủ thể tư duy Ego Cogitans với khách thể ngoại tại Res Extensa, tức tách triết học rời khoa học, và nhiều thế kỷ, tư duy chúng ta theo những nguyên lý về phân ly về rút gọn, về trừu tượng hóa. Tóm lại là Giản ước. Nhờ đó, khoa học và triết học thu được nhiều thành tựu lớn lao, nhưng đến giữa thế kỷ XX trở đi bộc lộ nhiều khiếm khuyết sai lạc. Triết học không theo kịp khoa học, không tổng kết được hiện thực là điều có lẽ được thấy ra đầu tiên. Tách chia triết học rời khoa học, là làm tắc nghẽn giao lưu giữa tri thức khoa học với tư duy triết học, làm cho triết học bất lực tới mức không thể tự nhận định về mình một cách khoa học.

Do nguyên lý phân ly mà cắt chia 3 lĩnh vực trọng đại của tri thức khoa học là vật lý học, sinh học và nhân học – Các môn học càng chuyên sâu càng cắt rời manh mún hiện thực, việc cắt rời độc đoán này thao tác trên hiện thực, lại được xem là hiện thực. Thế là dẫn tới “thông minh mù quáng” nó không sao quan niệm nổi cái Một với cái Đa (unitas multiplex), hoặc tìm đến cái Một thì loại trừ cái Đa, hoặc chồng chéo cái Đa mà không hay ở đó có cái Một – “Thông minh mù quáng” hủy hoại mọi tổng thể, mọi tập hợp, cô lập mọi vật rời môi cảnh, không nhận ra mối liên hệ giữa người quan sát với vật được quan sát – Khủng khiếp nhất là dẫn đến chỗ ngay ở các bộ môn gọi là khoa học nhân văn mà lại chẳng thấy con người, chẳng cần khái niệm con người.

Thế giới hiện tượng là phức tạp, đa phức, là những cái đan lồng vào nhau, những sự kiện, biến cố, hành động, quyết định, tương tác, phản hồi… luôn biến đổi, không biết trước, không ngờ tới. Nhìn vào, đó là chằng chịt, lộn xộn, vô trật tự, nước đôi hai mặt, mơ hồ, mù mờ, bấp bênh… trông đến dễ sợ. Tư duy phải xua dẹp đi những gì là mất trật tự, hỗn loạn. Phải làm cho sáng tỏ, phải đem lại trật tự… nhưng coi chừng lại bị mắc vào “thông minh mù quáng”. Bởi vì, chẳng hạn, có nhũng cái hỗn độn, mất trật tự, phải xua đi, phải sắp xếp nhưng có những cái hỗn độn, mất trật tự – lại phải được duy trì tìm hiểu trong môi cảnh và mọi liên hệ, tác động của chúng. Ở thế giới vật lý, đã phát hiện nguyên lý về suy giảm và về hỗn loạn vô trật tự (nguyên lý thứ nhì của nhiệt động học). Ở thế giới vi vật lý, hạt không phải là “viên gạch cơ bản” đầu tiên, mà là một biên cương cho một đa phức khác có lẽ khó quan niệm được. Vũ trụ không còn được xem là cỗ máy vận hành hoàn hảo mà là một quá trình luôn đồng thời giải thể và tổ chức. (Ở đây nhắc lại một chút vũ trụ của phương Đông gồm cả không gian và thời gian, vũ trụ của phương Tây (univers, cosmos) vốn chỉ có mỗi không gian, nay đang kết thêm thời gian). Rõ ràng, không thể nào có chuyện rút gọn, giản ước trừu tượng hóa ở đây nếu muốn hiểu biết đúng đắn. Thay thế cho phân ly- rút gọn- đơn chiều là chẳng hạn, phân ly- liên hợp, đơn chiều- đa chiều. Thay thế cho Một- Đa là Một trong Đa và Đa trong Một…

Bệnh lý trước đây của tư tưởng là đưa lại sự sống độc lập cho thần thoại và thần thánh mà con người tạo ra. Bệnh lý hiện đại của trí tuệ là cực – giản ước khiến ta mù mịt trước thực tế phức tạp. Bệnh lý của ý tưởng là huyền bí hóa thực tại và xem đó là thực tại duy nhất.
Bệnh lý của lý luận lý thuyết là chiết trung và giáo điều vốn khép kín lý thuyết và làm nó hóa đá. Bệnh lý của lý tính là hợp lý hóa nó, nhồi nhét cái có thật vào trong một lô ý mềm mạch lạc nhưng phiến diện, cục bộ, đơn phương, không biết rằng có một phần nào đó của cái có thật là bất khả hợp lý hóa, và rằng hợp lý hóa có nhiệm vụ đối thoại với chính cái bất khả hợp lý hóa.

Kết thúc phần “Sự cần thiết của tư duy đa phức”, E.Morin viết: “Chúng ta còn luôn ở trong tiền sử của trí tuệ con người. Chỉ có tư duy đa phức mới cho phép văn minh hóa tri thức”.
Hỗ trợ cho ý kiến trên, xin dẫn ý sau đây của người rất nổi tiếng trong giới lý luận Mác-xít, Coeorge Lukács: “Đa phức phải được quan niệm là yếu tố bậc tồn tại. Do đó, trước hết phải xem xét cái đa phức với tư cách là cái đa phức rồi chuyển tiếp từ cái đa phức đến những yếu tố của nó, đến những quá trình sơ đẳng của nó”.

Biết người, cần biết cả… ta

Tiếp tục bước trên sân chơi quốc tế 2009, chúng ta vừa phải nhập cuộc, vừa phải tỉnh táo biết mình là ai, không thu mình lại, không bắt chước rập khuôn.

Làm thế nào để tiếp nhận và lên qua làn sóng toàn cầu. Đó là thách thức đối với giáo dục Việt Nam, trước hết là với những người có trách nhiệm lãnh đạo, với nhà quản lý giáo dục hiện nay.

Coi chừng duy ý chí kiểu mới

Chưa bao giờ ở Việt Nam những cuộc thảo luận về giáo dục lại sôi nổi và rộng khắp như hiện nay. Đó không phải do ý muốn của Bộ Giáo dục – Đào tạo mà do chính yêu cầu của cuộc sống. Việt Nam đã gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường. Vấn đề này không còn bàn cãi nữa. Nhưng giáo dục trong xã hội chuyển sang kinh tế thị trường, và rộng hơn là trong bối cảnh toàn cầu hóa thì lại đang đặt ra nhiều vấn đề tranh cãi gay gắt.

Lâu nay trong một xã hội khép kín chúng ta dễ bằng lòng với chính mình “mẹ hát con khen hay”. Việc du nhập kinh nghiệm của các nền giáo dục phát triển tạo ra những “cú hích” cần thiết phá vỡ những khuôn mẫu đã cũ kỹ, lạc hậu, từ triết lý giáo dục, nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy, tổ chức trường học… Những kinh nghiệm tiên tiến ấy sẽ góp phần hiện đại hóa giáo dục Việt Nam, nối kết giáo dục Việt Nam với các nền giáo dục trên thế giới, mở rộng tầm nhìn và bậc thang giá trị vượt ra biên giới quốc gia và dân tộc hướng tới những chuẩn mực chung, từ đó đào tạo nên những con người không bó hẹp trong lối suy nghĩ cục bộ mà biết tư duy có tính chất toàn cầu, có tinh thần dân chủ, có khả năng hợp tác, có thể làm việc trong môi trường quốc tế.

Bức tranh ấy lôi cuốn các nhà quản lý giáo dục, làm cho họ thấy cần phải thay đổi giáo dục Việt Nam cho thật nhanh, thay đổi cùng một lúc tất cả. Tuy nhiên, nguyện vọng tốt đẹp nhưng duy ý chí ấy đã đẻ ra phương châm “đi tắt đón đầu” theo kiểu “tiến thẳng là chủ nghĩa xã hội không thông qua chủ nghĩa tư bản” vốn đã một thời phổ biến trong tư duy giới lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa và để lại những hậu quả nghiêm trọng. Nhiều chủ trương ồ ạt về giáo dục hiện nay như hai vạn tiến sĩ, xếp loại đại học, đào tạo theo tín chỉ, tăng học phí ở giáo dục phổ thông phản ánh tâm lý muốn “nhảy vọt”, muốn bắt chước các nước tiên tiến, muốn nhanh chóng thực thi quan niệm xem giáo dục như một hoạt động dịch vụ, có tính chất thị trường, mà quên rằng, giáo dục đại học ở các nước ấy đã phát triển trước chúng ta hàng trăm năm, rằng cơ sở vật chất của trường học ở ta còn vô cùng nghèo nàn, rằng đồng lương của thầy giáo còn không đủ sống.

Nếu chúng ta muốn xây dựng những trường đại học lớn, tầm cỡ quốc tế thì phải bắt đầu từ việc xây dựng từng bộ môn, từng khoa và làm dần dần, chứ không phải là vội vã nhập các trường đại học hoàn chỉnh thành một vài đại học quốc gia để rồi một thời gian sau lại cho các trường tách ra. Gần đây, việc nâng hàng loạt trường cao đẳng lên thành đại học, thậm chí một số khoa trung cấp lên thành khoa của trường đại học, nhiều người đang dạy trung cấp và cao đẳng bỗng dưng trở thành giảng viên đại học, đã bộc lộ cái nhìn thiển cận về giáo dục đại học, thể hiện cách làm duy ý chí, nóng vội, cẩu thả mà chắc chắn chúng ta sẽ phải trả giá trong một thời gian dài.

“Phẳng” kinh tế, nhưng không thể phẳng văn hóa giáo dục.

Văn hóa và giáo dục là những thứ hình thành dần dần, không phải muốn là có ngay một lúc. Toàn cầu hóa mang lại những bức tranh đẹp về nền giáo dục tiên tiến của các nước, như một làn sóng tràn vào làm xáo động giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, học tập, bắt chước như thế nào nhất định phải dựa trên những điều kiện thực tế của Việt Nam. Chúng ta đã nói rằng toàn cầu hóa là cơ hội, là xu thế tất yếu. Trong bối cảnh đó, một trong những cách ứng xử khôn ngoan nhất là phải chủ động. Chủ động lựa chọn những kinh nghiệm hay và phù hợp với thực tiễn của mình. Nhiều khi cái chúng ta cần bắt chước không phải là cái mà các nước tiên tiến đang làm, mà là những kinh nghiệm của họ trong quá khứ, những kinh nghiệm để đi lên từ một nền giáo dục còn lạc hậu đến một nền giáo dục có đẳng cấp quốc tế.

Đặc biệt chúng ta phải chủ động trong việc giữ gìn những giá trị đặc sắc của nền giáo dục dân tộc đã hình thành và phát triển hàng ngàn năm, từ đó giúp cho việc bồi dưỡng đạo đức và tâm hồn của thế hệ trẻ. Cần phải nhận thức một cách sâu sắc rằng toàn cầu hóa trong kinh tế khác toàn cầu hóa trong văn hóa và giáo dục. Thế giới có thể “phẳng” về kinh tế và công nghệ nhưng không thể “phẳng” về văn hóa và giáo dục. Bởi vì văn hóa và giáo dục là vấn đề con người, vấn đề đời sống tinh thần và nhân cách của cá nhân mà mỗi cá nhân là một số phận, một vũ trụ riêng tư không lặp lại, gắn với môi trường, với cộng đồng bằng trăm ngàn sợi dây liên hệ khác nhau. Chúng ta vẫn hay nói về bản sắc của văn hóa. Nhưng văn hóa không thể hình thành thiếu giáo dục. Bởi vậy muốn giữ gìn bản sắc văn hóa nhất định phải gìn giữ bản sắc của giáo dục, gìn giữ cái riêng trong việc đào tạo con người. Cái riêng ấy chủ yếu không nằm trong việc truyền bá tri thức mà nằm trong quá trình bồi dưỡng ý thức về các giá trị, quá trình làm cho cá nhân không chỉ thông minh và mạnh mẽ hơn mà còn nhân hậu hơn, có đời sống tâm hồn phong phú hơn. Rốt cuộc thì không phải công nghệ sẽ cứu thế giới, mà tình yêu, “cái đẹp sẽ cứu thế giới”.

Dân tộc – tồn tại bằng chính cái hồn của mình

Giáo dục Việt Nam đã có truyền thống lâu đời dựa trên phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”. Đó là một di sản quý báu. Mỗi thời đại giải thích phương châm này theo cách của mình, nhưng cái chung nhất vẫn là đề cao những giá trị đạo đức, đề cao việc làm người. Nếu chúng ta hiểu “Tiên học lễ” không phải là giáo dục sự phục tùng, chỉ biết vâng lời, mà là giáo dục lòng kính trọng đối với người khác, sự tôn trọng những giá trị tốt đẹp, giáo dục lòng hiếu thảo và vị tha, tinh thần nhân ái, ý thức về cộng đồng, thì phải xem đây là truyền thống tốt đẹp cần được phát huy trong thời đại toàn cầu hóa. Để tồn tại trong thời đại toàn cầu hóa, mỗi dân tộc cần phải có cái riêng của mình. Sự đa dạng về văn hóa và giáo dục không chỉ có lợi cho việc bảo vệ bản sắc của mỗi dân tộc, mà còn quan trọng với toàn nhân loại: Thế giới sẽ trở nên nhạt nhẽo biết chừng nào nếu tất cả chỉ có một màu, mọi thứ đều giống nhau.

Chúng ta cũng có truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Rất tiếc là những giá trị ấy đang bị mai một. Nếu không biết giữ gìn và phát huy, chúng rất dễ bị chìm đi trong làn sóng toàn cầu hóa, rong thời đại kinh tế tri thức. Một xã hội tiến đến công nghiệp hóa đang biến những người đi dạy học và chữa bệnh thành những người hành nghề chứ không còn là thầy là lương y, từ mẫu. Trong khi nền kinh tế thị trường chưa đẻ ra được cơ chế kiểm soát tương ứng với nó, trong khi xã hội chưa đủ những ràng buộc pháp lý cần thiết đối với mỗi thành viên của nó, thì rất nhiều thứ phải trông chờ vào sự lương thiện của con người. Nếu xã hội không tôn trọng thầy giáo và thầy giáo chỉ cư xử với học sinh như một người hành nghề thì điều gì sẽ xảy ra.

Giáo dục Việt Nam gắn chặt với văn hóa Việt Nam. Cũng như văn hóa, nó phải đóng góp vào gia tài chung của nhân loại phần riêng tốt đẹp của mình.