Người trẻ phải tự chủ

Chuyên gia Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, (cũng từng là Thư ký của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã tâm sự cùng SVVN về câu chuyện tự chủ của người trẻ và sứ mệnh của họ trước yêu cầu của đất nước…

Ông từng nhấn mạnh những đòi hỏi cấp bách của đổi mới, cải cách đối với Việt Nam sau 22 năm đổi mới. Với riêng giới trẻ, đòi hỏi này đặt ra như thế nào, thưa ông?

– Nếu được phép nói thẳng thắn suy nghĩ của tôi về chính thế hệ mình, xin thưa: Trong sự chuẩn bị cho thế hệ trẻ hôm nay trước thách thức mới của đất nước, thế hệ đi trước – trong đó có tôi – đã phạm nhiều lỗi lầm, làm cho thế hệ trẻ ngày nay của đất nước ta bị chậm trễ. Cá nhân tôi thực sự ăn năn về điều này.

Tôi cho rằng thế hệ chúng tôi đã phạm không ít lỗi; do nhiệt tình cách mạng, do sự bất cập.., và nhiều người trong thế hệ chúng tôi đang ngày càng phạm nhiều lỗi do tha hóa nữa. Mọi yếu kém của chúng tôi để lại nhiều hệ quả cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Mong giới trẻ hôm nay hãy dám và quyết nhận thức đất nước này là của các em và tự quyết định tất cả từ nhận thức này!

Các em hãy nhìn vào khoảng cách tụt hậu kinh hoàng so với thế giới bên ngoài mà đất nước đang phải đối mặt ở thế kỷ

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của ta so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế tri thức!

Con đường trở thành người đi làm thuê và đất nước cho thuê? Đề nghị ông nói rõ nỗi lo này của ông.

– Vâng. Lao động cơ bắp, bán tài nguyên, cho thuê địa điểm sản xuất và bán môi trường vẫn là các yếu tố tăng trưởng chủ yếu trong nền kinh tế nước ta. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) ta thu hút được trong 20 năm qua rất nhiều, song một bộ phận khá lớn cũng là để sử dụng những yếu tố vừa kể trên. Nền kinh tế nhiều năm liền có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng trình độ phát triển mọi mặt còn rất thấp. Tình hình này trong một thời đoạn nhất định là cần thiết, song sau 22 năm mà ngày nay còn kiên trì xu thế tăng trưởng và phát triển như vậy là nguy hiểm. Đã đến lúc phải chuyển mạnh sang một phương hướng phát triển khác: Ngày càng nhiều sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn, ngày càng nhiều sản phẩm của thương hiệu Việt Nam với giá trị gia tăng ngày càng cao, nhất là ngày càng nhiều sản phẩm của trí tuệ Việt Nam.

Trên hết cả là phải sớm thoát khỏi tư duy của kẻ làm thuê, phải luôn cảnh giác với nguy cơ biến đất nước mình thành đất nước cho thuê – với nghĩa là một đất nước thiếu sự phát triển năng động tự nó từ bên trong!

Nói như thế, ông không sợ mang tiếng là xúi giục thế hệ trẻ chúng tôi vong ân bội nghĩa và làm loạn?

– Không!

Xong hoặc chưa xong, thế hệ chúng tôi đã làm công việc của mình, đã và đang trở thành quá khứ. Không có lý do gì cho phép thế hệ này tự phong cho mình là khuôn vàng thước ngọc cho thế hệ tiếp theo. Tự phong như vậy không khác gì là xây dựng con đường cho đất nước đi lên, song chính bản thân mình lại ngồi chễm trệ án ngữ trên đoạn đường thế hệ mình vừa mới xây xong.

Tự phong như thế, thì đời đời kiếp kiếp nước ta sẽ sống trung thành trong cái quán tính lịch sử của sự tụt thậu, mà đúng ra là phải khắc phục nó bằng được. Năm Mậu Ngọ (1858 – Pháp đánh Đà Nẵng và mở đầu thời kỳ thuộc địa ở nước ta!) cái quán tính lịch sử cay đắng ấy đã mở đầu một chu kỳ mới của nó mà đến hôm nay dân tộc ta vẫn chưa trả giá xong. 150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 5 cuộc chiến tranh lớn – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 30 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay vẫn là một nước nghèo.

Xin giới trẻ hãy ý thức điều này : Làm gì thì cũng phải tự giải phóng mình ra khỏi cái bóng của chúng tôi trước đã!

Xin hãy nhìn lại, cho đến đầu thế kỷ 19, Việt Nam đâu có thua kém gì Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan… Thế nhưng hôm nay?

Xin cũng đừng nói là các thế hệ Việt Nam trước Mậu Ngọ (1858) yêu nước không bằng các thế hệ Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám.

Trong mối tương quan với đương thời, các thế hệ Việt Nam trước Mậu Ngọ cũng không kém sáng suốt so với các thế hệ Việt Nam hôm nay đâu.

Cho nên, kẻ thù đích thực làm cho nước ta rơi vào tay thực dân Pháp hồi ấy là đất nước ta tụt hậu hẳn một giai đoạn phát triển so với thế giới bên ngoài. Kẻ thù tụt hậu ấy hôm nay vẫn chưa bị dân tộc ta giải giáp.

Nhận thức trách nhiệm của mình đối với đất nước trước thời đại ngày nay, không thể không nhận diện tường tận kẻ thù này.

Giới trẻ Việt Nam cần xác định cho mình vị trí nào? Trách nhiệm của giới trẻ với một đất nước ở tuổi trưởng thành là gì?

– Vị trí nào ư? Vị trí làm chủ cuộc đời mình và để từ đó có bản lĩnh làm chủ đất nước. Phải chiếm lĩnh vị trí này, chứ không phải chỉ có xác định! Điều này chẳng có gì mới, được nhắc đi nhắc lại đến mòn cả chữ. Bây giờ phải hành động.

Nền kinh tế đất nước đang ở tuổi hai mươi, nên được hiểu đó là đất nước đang tràn đầy đòi hỏi sức phát triển trong “cái áo chật”, mọi thế hệ già trẻ chúng ta hiện nay đứng trước nhiệm vụ phải mang lại cho nền kinh tế sức sống năng động, bền vững, trong cái “áo mới” . Ai phải làm nhiệm vụ của người nấy! Song cá nhân tôi gửi gắm trông mong rất nhiều vào các bạn trẻ.

Bàn về trách nhiệm của giới trẻ:

Tôi nghĩ trong tình hình “cái áo chật” như thế của đất nước, trong tình hình kinh tế đất nước khát bỏng động lực phát triển, xin cho tôi nói thẳng thắn một cách lỗ mãng: Giới trẻ nước ta cũng không nên và không được phép trẻ con quá lâu nữa – cũng có nghĩa là không được chậm lớn quá lâu!

Trẻ con quá lâu hay chậm lớn, trước hết ở chỗ khó mà nói rằng khi chúng ta bước vào tuổi 18 hay tròn 18 tuổi, dù là còn học tiếp hay bước vào đời, là chúng ta đã ý thức được đầy đủ: Từ nay ta phải tự đứng trên đôi chân của ta! Từ nay mọi việc của ta, liên quan đến đời sống của ta, do ta quyết định và tự chịu trách nhiệm!.. Từ nay ta là công dân thành niên ngang hàng với mọi công dân trong cả nước về trách nhiệm và nghĩa vụ đối với đất nước! Dù là bạn còn cha mẹ phải tiếp tục nuôi ăn học, dù là bạn còn phải sống nhờ vào nguồn trợ cấp nào đó cho việc học hành của mình… Tất cả sự phụ thuộc như thế và tương tự như thế không hề miễn giảm mảy may trách nhiệm và nghĩa vụ của bạn với tư cách là người thành niên, người lớn.

Bước vào tuổi 18, kể cả ngồi trên ghế nhà trường, tuổi trẻ chúng ta không còn được phép để cho ai muốn nhồi vào đầu mình cái gì cũng được. Chẳng có đáp án nào có sẵn các bạn phải tuân theo của sự nhồi nhét cả! Các bạn có quyền nhận hay từ chối, trên cơ sở phán định của chính mình.

Một biểu hiện nữa của bệnh “trẻ con quá lâu” hay “chậm lớn” là còn ít dám mơ ước táo bạo, trong khi đó thường hay nặng về những cái xin tạm gọi là “mơ ước tầm thường”.

Trước khi bàn sâu thêm chuyện này, hãy ngó ra bên ngoài một chút. Theo tôi Bill Gates và Barack Obama là hai ví dụ điển hình của những ước mơ táo bạo. Hai người này đã chọn được ước mơ đúng – cho chính bản thân họ và cho nước Mỹ. Họ có nghị lực, trí tuệ, cách thực hiện đúng trong môi trường tự do cho những ước mơ như thế. Và họ đã thành công cho đến giờ phút này.

Ở nước ta không hiếm sự thành công của những ước mơ táo bạo – có thể chưa được nổi bật hoặc chưa ở tầm vóc như hai ví dụ trên. Các ví dụ thành công ở nước ta có thể còn là ít hay quá ít – phần rất quan trọng là do những hạn chế của trình độ phát triển và thể chế nước ta đang có. Thế nhưng chờ đợi có được trình độ phát triển và thể chế như mong muốn rồi mới dám mơ ước thì không đáng gọi là mơ ước nữa. Và chính đây là điều đáng nói: Chẳng dám mơ ước thì chẳng bao giờ làm được gì!

Đúng, bất chấp mọi hạn chế chúng ta phải đối mặt trong cuộc sống, chúng ta ngày nay đang có một điều kiện mới mà trước đây chúng ta chưa có nhiều hoặc rất khó tiếp cận: đó là thông tin. Thông tin ngày nay đã đưa tầm mắt của chúng ra cả thế giới và đến mọi lĩnh vực của cuộc sống. Tôi ước ao tuổi trẻ chúng ta với tầm nhìn mới này sẽ chọn được ước mơ táo bạo, dám sống vì ước mơ táo bạo, ý chí lập thân, lập nghiệp bằng ước mơ táo bạo.

Vậy nói thật đơn giản: Trách nhiệm của giới trẻ với đất nước đang ở tuổi trưởng thành là các bạn phải sớm trở thành người lớn.

Chính kiến tự mình phấn đấu xác lập nên? Thế còn các chương trình, giáo án, đáp án, giáo lý… đã trở thành những phần cứng phải có được mang tới từ nhà trường? Ngộ cái chính kiến mà tuổi trẻ chúng tôi tự phấn đấu xác lập nên không giống cái chúng tôi được học thì sao?

– Nếu có sự khác nhau thì cũng nên coi đó là chuyện bình thường và tự mỗi bạn nên tiếp tục tìm ra lý lẽ giải quyết sự khác nhau này. Tôi nghĩ, ngay cả những điều tốt đẹp nhất nhà trường có thể đem lại cho bạn, bạn cũng phải tìm cách hấp thụ được thành dinh dưỡng nuôi sự hiểu biết và ý chí của bạn, biến nó thành nghị lực của riêng bạn. Không có sự hấp thụ này, việc học sẽ giống như con vẹt học nói thôi – nó có thể phát âm rất chuẩn và làu làu cả câu, cả bài.., nhưng vẫn là cái nói của một con vẹt. Tôi hình dung được tự phấn đấu xác lập nên như vậy khó và đòi hỏi nhiều trí tuệ lắm, thậm chí có khi phải trả giá nguy hiểm nữa. Song trong quá trình hấp thụ này các bạn có quyền nghi ngờ, có quyền sai, và thậm chí có quyền thất bại nữa, miễn là bạn phải tự ý thức được tất cả và tự chịu trách nhiệm tất cả, quyết tâm đi tiếp tới bằng được cái đúng.

Chỉ có như vậy, cái tốt đẹp nhà trường mang đến cho bạn mới thành là của bạn. Chỉ có như vậy, bạn mới đề kháng được mọi cái không tốt đẹp bất kỳ đến từ đâu. Vì đứng trên đời này, bạn cần như nhau cả nghị lực và sức đề kháng.

Tôi nghĩ, một con người dám nghi ngờ, dám sai, dám thất bại để tìm đường đến thành công, tôi nghĩ đấy là một con người đẹp và sớm muộn sẽ thành đạt.

Một xã hội biết tôn trọng sự nghi ngờ, tôn trọng cái dám sai, cái dám thất bại với tình thần như thế, xã hội ấy sẽ ngày càng hiếm chỗ cho những thói đểu cáng và sự hèn mạt. Xã hội ấy sẽ ngày càng hấp dẫn chúng ta và đáng sống.

Những đòi hỏi đó có quá sức với người trẻ Việt nam hiện nay?

– Tôi không thấy có sự “quá sức” như thế trong cuộc sống hàng ngày, mà chỉ thấy nhiều hơn sự lãng phí sức trẻ, lãng phí đến rơi nước mắt, xẩy ra từ hai phía: (1)Cuộc sống xã hội gây ra sự lãng phí này; và (2)tự các bạn lãng phí sức mình.

Chưa nói đến biết bao nhiêu cái bất hợp lý và yếu kém khác trong đời sống xã hội, riêng nền giáo dục còn nhiều mặt thiếu sót như chúng ta đang có là một ví dụ trực tiếp nhất, dễ thấy nhất về sự lãng phí này gây ra cho giới trẻ, sự lãng phí những thứ thể không mua được, không có cách gì lấy lại được: con người, thời gian và cơ hội.

Còn sự lãng phí tự mình – nghĩa là chính các bạn gây ra cho mình: Chắc chắn các bạn sẽ tự đánh giá được. Tôi chỉ muốn lưu ý các bạn về 2 nguyên nhân đáng sợ nhất: (1)lãng phí vì sự hiểu biết của mình còn thấp, (2)lãng phí vì mình thỏa hiệp với yếu kém của bản thân và của ngoài xã hội.

Người trẻ cần phải chuẩn bị những gì để tiếp nhận gánh vác những đòi hỏi của thời cuộc?

– Tôi không có lý thuyết nào để trả lời các bạn cả. Mỗi chúng ta dù khác nhau thế nào, đều nhận được sự nuôi dưỡng của cha mẹ, nhà trường và cuộc sống. Đó là chuẩn bị được trao tặng để chúng ta bước vào đời. Cần trân trọng và tận dụng sự chuẩn bị được trao tặng này. Song thế nào đi nữa, cũng không thể thiếu được sự chuẩn bị của chính mình – chắt lọc từ sự chuẩn bị được trao tặng, từ mơ ước, từ cả những thất bại và sự trả giá… – tất cả với ý thức ta là chủ cuộc đời ta và ý chí trở thành người chủ xứng đáng của đất nước ta.

Sống biết yêu trọng danh dự và yêu đất nước quê hương mình – nguồn lực tinh thần này sẽ thúc đẩy, sẽ hướng dẫn sự chuẩn bị của mỗi chúng ta để tiếp nhận, để gánh vác trách nhiệm của mình mà thời cuộc đòi hỏi. Thậm chí tôi còn muốn nói: Yêu như thế là kim chỉ nam luôn luôn đúng.

– Đối với cá nhân con người, theo ông ước mơ gì là cao đẹp nhất?

Câu hỏi này xưa ngàn đời, và khó ngàn đời! Câu trả lời đã có từ ngàn đời và ngàn đời nay vẫn xa vời: Tự do! Con người tự do!

Tạo hóa một tay ban cho con người bản tính tình yêu tự do, tay kia lại thiết lập ra trong cuộc sống cái gọi là “tính tất yếu”. Từ đó trong cuộc sống tự nó hình thành ra cái tự do thực sự chỉ có thể là cái đạt được trong phạm vi hiểu được – với nghĩa là làm chủ được – cái tất yếu. Vì thế, càng sống trên đời này, tôi càng thấm thía tự do chỉ có thể giành lấy, trên cơ sở làm chủ cái tất yếu; làm chủ cái tất yếu đến đâu, sẽ có được tự do đến đấy. Đừng oán trách tạo hóa keo kiệt, tôi dần dần cũng ngộ ra như thế.

Thế hệ đi trước có thể làm gì để hỗ trợ họ?

– Tôi thực lòng không thích trả lời câu hỏi này. Sao lại cứ phải nói đến hỗ trợ? Nhưng nếu vẫn phải trả lời, thì việc đáng làm nhất trong nhiều việc người lớn phải làm để hỗ trợ là đừng bao giờ nói dối thế thệ trẻ.

Liệu người trẻ đã được trao cơ hội và đặt niềm tin đủ để họ làm những gì mà ông kỳ vọng?

– Tôi nghĩ là chưa đủ. Cái tính “trưởng”, “gia trưởng”.. của người lớn cho thấy sự thiếu tin tưởng vào thế hệ trẻ. Ngoài ra còn biết bao nhiêu bệnh mãn tính khác của người lớn trong cách cư xử với thế hệ trẻ, nhất là cái bệnh coi ta là chân lý, chân lý duy nhất trên đời này. Nói gay gắt, đấy là cái tính thích thế hệ trẻ trở thành các robot do người lớn lập trình!

Bản thân các nhà lãnh đạo hiện nay đã đánh giá đúng và đủ về giới trẻ và đã tận dụng sức trẻ, huy động họ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước?

– Tôi nghĩ là chưa. Chỉ riêng một việc lãnh đạo không kiên quyết dấy lên trong toàn xã hội một cuộc đấu tranh quyết liệt với cách dậy học còn nặng về nhồi sọ, và chỉ muốn ĐTNCS Hồ Chí Minh chỉ là cánh tay của Đảng đã nói lên điều này. Tại sao thanh niên thời đại ngày nay không thể là những bộ não trẻ của Đảng? Tại sao thanh niên không thể là người tạo ra trong Đảng bầu nhiệt huyết mới, trẻ trung?

Tại sao thế hệ chúng tôi không đặt ra cho mình nhiệm vụ tạo dựng ra một môi trường thể chế ươm mầm và làm nẩy nở những Bill Gates hay Obama của Việt Nam? Thế hệ chúng tôi làm chưa xong thì thế hệ các bạn phải làm tiếp, các thế hệ sau làm tiếp nữa… Song trách nhiệm “khởi công xây dựng” sự nghiệp này thuộc về chúng tôi, chúng tôi chẳng có lý lẽ gì để trốn tránh được.

Song hình như công việc “khởi công xây dựng” như thế còn chậm chạp lắm, mặc dù công cuộc đổi mới đã được 22 năm và đã xác định được mục tiêu là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh! Đấy là điều tôi vô cùng băn khoăn.

Tôi tin: Thế hệ trẻ đứng vào vị trí của mình, đất nước sẽ sớm được ngửng mặt cùng thiên hạ.

Nhân dịp năm mới 2009, xin chúc các em một năm giầu nghị lực và niềm vui.

Xin cảm ơn ông!

Kỹ năng sử dụng điện thoại nơi công sở

Điện thoại là một trong những công cụ làm việc quan trọng không thể thiếu nơi công sở. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết sử dụng chúng đúng cách và hiệu quả.

Dưới đây là 10 điều bạn nên lưu ý khi sử dụng điện thoại:

1. Nói năng lịch sự và phát âm chuẩn

Những từ ngữ như: “Xin vui lòng“, “Cảm ơn“… không những làm cuộc nói chuyện trở nên lịch sự hơn mà còn giúp bạn dễ chiếm được thiện cảm của người bên kia đầu dây hơn.

Ngoài ra, bạn cũng cần chú ý không nói lớn hoặc quát to trong điện thoại trong mọi tình huống.

2. Giọng nói chân thành

Nếu sử dụng từ ngữ lịch sự nhưng giọng nói cáu bẳn hoặc “chanh chua”, chắc chắn bạn không thể tạo được thiện cảm với người nghe. Hãy thể hiện cho người nghe cảm thấy bạn thật sự rất quan tâm cuộc nói chuyện này và đang cố lắng nghe để hiểu vấn đề và giúp họ tìm cách giải quyết.

3. Không ra lệnh

Thay vì nói “Tôi cần nói chuyện với ông A ngay bây giờ”, bạn nên nói “Xin cho hỏi ông A hiện có ở đó không? Tôi có thể nói chuyện với ông ấy bây giờ không?”.

4. Cư xử chuyên nghiệp và khéo léo

Bạn tuyệt đối không sử dụng những từ ngữ mang nghĩa tiêu cực và có ý phán xét với người nghe. Tùy thuộc vào đối tượng gọi đến và mối quan hệ của họ với công ty, bạn cần có những cách ứng xử ngoại giao khác nhau và phù hợp.

5. Kiềm chế cảm xúc

Để tránh gặp những trường hợp khiến bạn dễ mất kiểm soát, hãy đọc một số loại sách về cách giải quyết các mâu thuẫn và phàn nàn thường gặp.

6. Luôn nhớ bạn là bộ mặt của công ty

Nên nhớ mỗi khi nhấc điện thoại lên thì bạn sẽ nói chuyện với tư cách là người đại diện công ty chứ không phải với tư cách cá nhân. Do đó hãy tập trung vào cuộc nói chuyện, lắng nghe những nhu cầu hoặc phàn nàn của người nói để họ có cảm giác được quan tâm và cảm thấy hài lòng về công ty bạn.

7. Tìm chỗ ngồi khi nói chuyện

Tìm chỗ ngồi thoải mái để đề phòng những cuộc điện thoại có thể kéo dài. Ngoài ra bạn nên chuẩn bị sẵn giấy và bút bên cạnh để có thể ghi chép lại những điều cần thiết.

8. Không nên làm việc khác khi đang nghe điện thoại

Bạn không nên làm nhiều việc cùng một lúc như vừa nghe điện thoại vừa trả lời thư điện tử. Không ai thích khi đang nói chuyện và nghe thấy tiếng gõ bàn phím ở bên kia đầu dây, họ sẽ cảm thấy họ không được coi trọng và chắc chắn sẽ không muốn tiếp tục câu chuyện nữa.

9. Ngắt lời đúng lúc

Có nhiều trường hợp khách hàng gọi điện đến và phàn nàn, kể lể liên tục mà không cho bạn một giây nào để giải thích. Khi đó hãy yêu cầu họ một cách lịch sự để họ có thể tập trung vào vấn đề cốt lõi để cả hai bên đều không mất thời gian.

10. Nói rõ ràng và ngắn gọn

Khi trả lời, giải thích về những chính sách, thủ tục của công ty cũng như khi gọi điện tới công ty khác để yêu cầu giải thích vấn đề gì, hãy nói một cách ngắn gọn và rõ ràng. Bạn nên tránh nói dài dòng dễ dẫn đến lạc đề và có thể gây hiểu lầm cho người nghe.

Làm thế nào điều khiển cuộc họp

Bước 1: Ấn định mục tiêu

Cuộc họp có mục tiêu rõ ràng mới khuyến khích người ta tham dự bởi vì họ cần phải biết nó nhắm đến vấn đề gì. Mục tiêu đó cũng sẽ giúp cuộc họp tập trung vào trọng điểm. Thông thường hội họp có một hoặc hai mục tiêu: để thông báo hoặc quyết định một vấn đề nào đó. “ Thảo luận” không phải là mục tiêu hội họp. Chẳng hạn, “Để quyết định việc định vị quảng cáo thương mại cho sê-ri 2000” là một mục tiêu thiết thực của cuộc họp. Nó xác định trọng tâm và công bố rõ ràng mục đích của cuộc họp, trong khi đó nếu mục tiêu là “Để thảo luận việc tiếp thị sê-ri 2000” lại nghe có vẻ rất mơ hồ và có thể đưa mọi người đến chỗ thảo luận một cách tản mạn thay vì phải đưa ra hành động cụ thể.

Bước 2: Tập trung nguời tham dự

Hãy lập danh sách những người tham dự buổi họp, và cân nhắc xem mỗi người có cần tham dự từ đầu tới cuối buổi họp hay không (có thể họ tham gia qua hình thức điện thoại kết nối hay chỉ cần họ ở một chủ đề nhất định). Hãy nhớ rằng, nếu bạn làm mất thời gian của nguời khác, họ sẽ không muốn dự cuộc họp lần này và cả những lần sau, nếu bạn là người chủ trì. Hãy xác định một cách dứt khoát về thời gian tiến hành cuộc họp. Bạn cần phải tôn trọng lịch làm việc của những người tham dự, và tạo sự thoải mái để họ có thể sắp xếp thời gian dự họp bằng cách nói rằng: “Vui lòng lên kế hoạch dể tham dự và xin báo cho tôi biết nếu không thể thu xếp được”. Hãy luôn phổ biến cho mọi người mục tiêu của buổi họp, thời gian bắt đầu và kết thúc, đồng thời nhấn mạnh rằng buổi họp sẽ được bắt đầu đúng giờ.

Bước 3: Lập chương trình buổi họp

Chương trình họp là một danh mục các công việc chính cần xem xét để đạt được mục tiêu của cuộc họp, là cái mà bạn sử dụng cho chính mình hoặc phân phát cho tất cả những người dự họp. Việc phân phối chương trình họp có hai mặt: điểm mạnh là nó cung cấp những nội dung để mọi người theo sát buổi họp, nhưng điểm yếu là nó có thể làm cho những người tham dự bị rối và bị lôi cuốn sang những vấn đề mà bạn chưa sẵn sàng trình bày trong buổi họp. Chẳng hạn, nếu hạng mục thứ năm của dự án là vấn đề kỹ thuật, các kỹ sư dự họp có thể muốn đi ngay vào mục đó. Nếu bạn cần giải quyết những vấn đề khác trước thì chính bạn phải bám chặt lấy chương trình đã ấn định. Nếu bạn đang điều khiển một cuộc họp về tiến độ của dự án, bạn có thể sử dụng kế hoạch thời gian thực hiện của dự án đó làm chương trình họp.

Nếu bạn quyết định phân phát chương trình họp cho mọi người tham dự, hãy bảo đảm tuyên bố mục tiêu và thời gian họp ở đầu trang. Tất cả mọi vấn đề cần phải được đánh dấu đề mục đầu dòng. Bảo đảm mọi nguời đều nhận được chương trình họp, và nên có một số bản photo dự phòng.

Bước 4: Kiểm soát cuộc họp

Khi cuộc họp bắt đầu, bạn có trách nhiệm bảo đảm nó được tiến hành trôi chảy và đi đúng trọng tâm. Sau đây là một số lời khuyên để giúp bạn làm được điều này:

  • Bắt đầu đúng giờ, dù cho có một số người đến trễ. Nếu cứ chờ cho đến khi người cuối cùng có mặt tức là bạn đã vô tình tập cho mọi người thói quen đi trễ.
  • Tóm tắt ngắn gọn mục tiêu của cuộc họp.
  • Nếu không phân phát chương trình họp thì phải đảm bảo mọi người nắm được nội dung họp để đạt được mục tiêu đã đề ra.
  • Nếu buổi họp kéo dài mà vẫn không đưa ra được quyết định nào, bạn cần phải ngăn không để mọi người tiếp tục thảo luận, có thể bằng cách nói rằng: “Do phải tuân thủ kế hoạch thời gian của dự án, chúng ta phải đưa ra quyết định”.
  • Nếu còn điều gì đó chưa đưa ra giải pháp được trong cuộc họp, phải xác định cần phải làm gì để giải quyết vấn đề đó trong tương lai và bổ sung vào kế hoạch thời gian của dự án.
  • Kiểm soát : Bạn phả tỏ ra kiên định trong trường hợp những người dự họp đi trệch khỏi vấn đề đang triển khai trong buổi họp và đề nghị sẽ thảo luận trong một cuộc họp khác.
  • Xếp lich cho cuộc họp tiếp theo vào cuối buổi họp hiện tại.
  • Nếu là người triệu tập cuộc họp, bạn còn có trách nhiệm phải lập biên bản hoặc chỉ định người lập biên bản.

Bước 5: Những công việc tiếp theo

Khi cuộc họp đã kết thúc, bạn vẫn còn phải làm một số việc khác. Hãy hệ thống và tóm tắt lại các ghi chú về diễn tiến của cuộc họp, những vấn đề đã được giải quyết, những việc cần làm đối với những vấn đề cần đi sâu phân tích thêm. Bản tóm tắt này được lập trên cơ sở các thông tin từ biên bản họp. Không nên trình bày quá dài dòng- tốt nhất là một số điểm ở các dấu đầu dòng. Hãy đảm bảo rằng phải gửi lời cám ơn những người đã tham dự cuộc họp. Chắc chắn mọi người sẽ hài lòng khi họ được đánh giá cao việc đã dành thời gian dự họp. Hãy cập nhật kế hoạch thời gian của dự án dựa vào các báo cáo tiến độ thực hiện công việc tại cuộc họp, trong đó cần đảm bảo việc ấn định thời gian cho cuộc họp tiếp theo, kèm theo những yêu cầu cấn phải đạt được.

Phổ biến kế hoạch thời gian công việc đã được cập nhật cho mọi người đã tham dự cuộc họp.

Adapted from content excerpted from the American Express® OPEN Small Business Network

Không thể đi tắt

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng một mình cảnh sát, tòa án hay nhà tù không thể duy trì được đạo lý của xã hội.

Những nghiên cứu tại Anh và Mỹ cho thấy các phương pháp làm việc thông thường của cảnh sát như điều tra, bắt giữ, khởi tố tác động rất ít đến việc giảm tỉ lệ tội phạm xã hội hoặc chỉ giảm trong ngắn hạn, mặc dù đây là cách chúng ta thường làm (chẳng hạn tháng 12 này ngành công an mở đợt cao điểm phòng chống tội phạm và đây không phải là đợt cao điểm đầu tiên). Hoạt động của công an, cảnh sát sẽ có hiệu quả hơn nếu kết hợp với các thiết chế khác như gia đình, nhà trường và cộng đồng.

Như vậy để có cách làm bền vững hơn, cần thiết phải có thêm các giải pháp can thiệp về mặt xã hội. Chẳng hạn như Hội đồng phát triển xã hội của Canada đã chứng minh qua các nghiên cứu rằng sẽ giảm được tội phạm và bạo lực trong xã hội nếu chúng ta giải quyết được những mầm mống ngay trong thời niên thiếu của con người.

Nghiên cứu của Trung tâm quốc tế ngăn ngừa tội phạm cho thấy mỗi đôla đầu tư cho trẻ em các gia đình “có nguy cơ” để chúng hưởng được nền giáo dục học đường (ít nhất là hết được bậc trung học cơ sở) thì xã hội sẽ nhận lại được 3,5-7 đôla sau này, bởi lúc đó đã có được những cá nhân hội nhập tốt hơn vào xã hội và nguồn nhân lực cũng có trình độ cao hơn, nhận thức cao hơn nên những vấn đề xã hội giảm đi đáng kể.

Giải quyết các vấn đề xã hội không thể đi tắt bằng các chiến dịch hay các đợt vận động, mà phải có những chiến lược dài hơi hơn. Càng không thể giải quyết chỉ bằng phát triển kinh tế mà còn phải phát triển về văn hóa và xã hội. Những chính sách tạo ra phân tầng xã hội (tạo ra những nhóm được ưu đãi và những nhóm bị thiệt thòi) sẽ làm xã hội phải đối mặt với các vấn đề trầm trọng hơn.

Con đường đến vô cùng

Không phải đường quốc lộ mà là đường đời, cuộc sống của chúng ta. Chính vì thế nên ai cũng muốn con đường trần gian của tranh kéo mãi đến vô cùng, càng dài càng tốt, nhưng mọi cố gắng vẫn vô vọng. Trước kia biết bao vua chúa ham hố tìm thuốc trường sinh đều thất bại, giờ đây chúng ta càng lo lắng kéo dài con đường sống ra, thậm chí phải vượt chướng ngại vật sống vì các loại bệnh tật nan y, vượt hiểm độc tràn lan nhưng khoa học vẫn chưa tìm ra thuốc chữa trị. Tóm lại chân lý hiển nhiên là con đường của ta có điểm dừng, bến đỗ, điều duy nhất cần suy nghĩ xem chúng ta đi trên con đường ấy như thế nào cho đúng đắn?

Đã có rất nhiều định nghĩa về cuộc sống, thiết nghĩ đơn giản nhất như: Chúng ta đến và chúng ta khóc – đó là cuộc sống/ Chúng ta đi và chúng ta ngáp dài – đó là cái chết! Nếu khái quát lại và phân tích cụ thể thì sống có bao nhiêu phong cách, lối sống thì chết cũng có bấy nhiêu kiểu, cách chết. Tuy nhiên, do tế nhị chẳng nên kể cách sống ra làm gì và cũng vì ý tứ chỉ nên bàn luận dăm ba câu về cách mô tả, điểm cuối cùng của con đường sống. Người ta chia ra nhiều cách gọi, lý giải, đặt tên cho cái chết mà trong đó chủ yếu lồng thêm ý chủ quan của mình vào cho văn vẻ. Ví như người tu hành nói về cái chết là: Đến cõi Niết bàn, về với Phật Tổ, đi chầu Phật, về cõi cực lạc, đầu thai kiếp khác, thoát khỏi bể khổ trần gian, siêu thoát, Người theo đạo lại coi cái chết là về với Chúa trời, lên thiên đàng gõ cửa thánh Pêro, Chúa đã từ bi dang rộng tay đón, văn hiếu lại thê lương và buồn thảm hơn với những cụm từ khuất núi, khuất bóng, đi gặp tổ tiên các cụ, quy tiên, về nơi chín suối, xuống suối vàng, vĩnh biệt ngàn thu. Đối với những cái chết bất ngờ oan ức để lại tiếc thương vì: Lá vàng còn ở trên cây, lá xanh đã rụng rơi đầy đường xuân, thường có cảm thán là ngờ đâu âm dương cách biệt đôi đường, đứt dây hồng trần, sinh tử biệt ly, nửa đường đứt gánh, nhắm mắt xuôi tay, dang dở chí lớn, chưa kịp làm tròn chữ hiếu. Còn ngôn từ xã hội của cái chết thì đa dạng và phong phú vô cùng: Hy sinh, tắt nghỉ, đi Văn Điển, Thanh Tước, chầu trời, toi mạng, đi đứt, xong phim, lên nóc tủ, thiệt mạng, yểu mệnh, gặp Diêm Vương hết đời… có thể kể triền miên không hết, nhưng vấn đề không phải ca ngợi hoặc sợ hãi cái chết, mà từ cái chết cần rút ra một điều gì đó, ví như: Cái chết bất ngờ là sự đùa cợt của số phận, cái chết vinh quang là hy sinh vì mọi người, cái chết tai tiếng là chết vì tham lam, cái chết vô nghĩa nhất là chết vì thiếu hiểu biết…. Vậy, tóm lại chết không đáng sợ/ nhưng chết thế nào cho vinh quang? Sống không cần tham lam mà sống thế nào cho xứng đáng?

Điểm cuối con đường đều giống nhau, nhưng cách đi hoàn toàn khác nhau. Có thể thấy cách sống vô cùng đa dạng phong phú, nhưng nếu phân tích triết học rất khó hiểu, đơn giản nhất cứ gọi là mục đích cuộc sống.

Người thì theo thiên hướng sống hưởng thụ tình yêu! Với phương châm sống để yêu nhau họ lãng mạn bay bổng trong các thể loại tình yêu đủ vóc dáng, lứa tuổi, hoàn cảnh để nếm mùi cuộc đời rồi lấy đó làm thành tích vẻ vang hay lập riêng cho hình bộ sưu tập ái tình. Có người sống để mải miết ăn uống vì cho rằng: Sống trên đời ăn miếng dồi chó, xuống âm phủ biết có hay không? Tận dụng, tranh thủ thưởng thức mọi đồ ăn, từ sơn hào hải vị xuống món vỉa hè, uống từ bia cỏ đến rượu ngoại, rồi lấy đó là niềm tự hào, đi đâu cũng khoe mình từng trải, sành ăn uống. Lắm người có sở thích sống để tha hồ mua sắm, may mặc, trưng diện vì cho rằng, có tiền mua tiên cũng sướng. Họ tụ tập, rủ rê nhiều bạn bè la cà tiệm này, hàng nọ, tuần siêu thị, tháng thời trang, nào quần áo giày dép nữ trang, son phấn và cả thẩm mỹ viện nữa, khiến cho cuộc sống như thế kể ra cũng bận rộn và quan trọng ra phết.

Cũng không ít người thích lang thang đây đó để thỏa mãn tính nghệ sĩ vì: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Họ hớn hở trầm trồ thăm thú du lịch khắp nơi từ trong nước ra nước ngoài, từ châu Á sang châu Âu rồi hết lời ca ngợi các nền văn minh khác, cằn nhằn phê phán nơi họ đã sinh ra và vỗ ngực tuyên bố mình có nhãn quan tầm thế giới, uyên thâm kinh nghiệm, kiến thức rộng mở, xứng đáng là một pho sách sống!

Một số người khác không đủ điều kiện để xông xênh như vậy và thậm chí khá lười biếng nên họ sống nhờ, sống gửi, sống ký sinh từ khi thôi nôi đến khi tắc tử. Với châm ngôn: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng thê, thê tử tòng tử, họ ngật ngưỡng đều đều ngày ba bữa cơm rượu, quần áo đủ tằng tằng mặc, ăn bám bố mẹ, bám váy vợ rồi vòi vĩnh tiền con để sống ung dung tự tại, bất cần thiên hạ, duy ngã độc tôn, sống vô lo như thế nên đêm nằm ngáy o o, sáng tỏ mặt còn chưa thức. Vậy mà, vẫn còn hơn khối kẻ sống thừa với triết lý thây kệ đời, mặc xác ông, họ lao vào cờ bạc, cá độ, hút xách, rượu chè, lừa đảo trộm cắp, giết người… không tệ nạn nào thoát được vòng tay những kẻ ấy, mọi người không hiểu tại sao chúng thích sống như thế còn bản thân chúng lại thích mọi người không thể hiểu mình.

Nếu đã chấp nhận cuộc đời này thì hầu hết chúng ta đều mong muốn cuộc sống bình thường: Học hành, công ăn việc làm, gia đình, cơn cái tức là mọi thứ đều vừa đủ: Sống dầu đèn/ chết kèn trống. Nhưng mục đích, cuộc sống rất phong phú, nào sống để trung quân, ái quốc (tất cả phục vụ vua, vua bảo chết thì phải chết); sống để báo hiếu cha mẹ, những người đã có công sinh thành dưỡng dục; sống để mà sống vì cũng chẳng biết mô tê gì, thôi thì người ta thế nào mình cũng sống thế, được đến đâu hay đến đó chẳng cần chức tước quan lộc gì, miễn là cuộc đời bình yên không xáo trộn mất mát đau thương gì, là hạnh phúc lắm rồi. Sống để phấn đấu để lập nghiệp, để tỏ chí lớn: Làm trai cho đáng nên trai, sang Đông về Đoài đều vùng vẫy được cả đó là cuộc sống vất vả gian khó thăng trầm có đau buồn nước mắt nhưng cũng vẻ vang hạnh phúc, những người này hiểu rõ chết là một việc mau chóng và dễ dàng, sống khó hơn nhiều, như thế họ đã tạo nên những cuộc đời vươn tới ước mơ, thỏa mãn khát vọng, tràn đầy ý nghĩa.

Triết lý tôn giáo cho rằng: Cuộc sống sau cái chết mới là cuộc sống thật. Như vậy cuộc đời thực tại của chúng ta chỉ là tạm bợ. Cần lưu ý một vấn đề thuộc thuyết tương đối, là cho dù có nghiệp luân hồi thì chắc gì kiếp sau ta đã được ở đây mà có khi lại phải đầu thai sang nước khác, thậm chí màu da khác, châu lục khác thì sao? Không có luật nhân quả nào khẳng định chúng ta vẫn ở đất Việt? Vậy cuộc sống hiện tại rõ ràng vẫn là chắc chắn độc nhất và tất nhiên có ý nghĩa nhất, một con đường không giống những con đường khác cho nên phải cố gắng đi nhanh, đi xa, đi đàng hoàng và có công tích nào đó.

Cũng xin nhắc rằng người đời chỉ đánh giá, nhận định sau khi chúng ta đi hết con đường của mình, chẳng thế mà Từ Hi thái hậu cho dựng một tấm bia trơn trên mộ, mặc hậu thế phán xét, vua Minh Mạng dựng tấm bia hình trăng khuyết để nhắn nhủ rằng cuộc đời mình cũng không hoàn toàn mỹ mãn, vua Tự Đức lại cầu kỳ chọn lọc 5000 từ phân trần khắc lên bia; còn một nhà triệu phú Mỹ lại có tấm bia vắn tắt: ông sinh ra ngày tháng năm… ông sống và chết ngày tháng năm… Như thế, sự có nghĩa và vô nghĩa của cuộc đời tùy thiên hạ bình phẩm, chỉ chép lại câu nói: Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoàn sống phí cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình (Ostrorski).

Quan niệm của S.Freud về vai trò văn hóa trong đời sống con người

Phân tích quan niệm của S.Freud về vai trò của văn hoá trong đời sống con người từ cách tiếp cận phân tâm học của ông đối với văn hoá trong bối cảnh khủng hoảng, tha hoá tinh thần của con người phương Tây hiện đại và ảnh hưởng của nó đến đời sống con người, trong bài viết này, tác giả tập trung làm rõ quan niệm của ông về tôn giáo với tư cách một bộ phận cấu thành của văn hoá trong đời sống con người, về sự xung đột giữa các chuẩn mực xã hội (đạo đức, văn hoá) và tự do cá nhân, về vai trò của cái vô thức trong cuộc sống con người, từ đó đưa ra những đánh giá khái quát về quan điểm triết học văn hoá của ông.

Văn hóa đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của xã hội và của con người, nhất là trong điều kiện văn minh hiện đại, khi nhân tố con người có văn hóa trở thành động lực và mục đích của mọi cải biến xã hội. Việc lý giải bản chất của văn hóa, vị trí của nó trong đời sống con người và xã hội đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và thực hiện. Song, chính ở đây lại luôn nảy sinh những vấn đề nan giải, trước hết là vấn đề vai trò nhân văn của văn hóa trong xã hội loài người. Để giải quyết thấu đáo vấn đề này, việc phân tích và đánh giá khách quan, từ lập trường chủ nghĩa nhân văn mác xít, quan điểm triết học văn hóa của Freud có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực. Bởi lẽ, chính Freud – nhà tâm lý học người Áo, người sáng lập bộ môn phân tích tâm lý đã đưa ra cách lý giải độc đáo về con người và văn hóa, về nền văn hóa với những lý tưởng, tiêu chuẩn và sự đòi hỏi vốn có của nó(1). Không chỉ thế, ông còn đặt ra và tiếp cận với vấn đề này trên nhiều phương diện mà hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội đang vấp phải. Thêm vào đó, việc xây dựng một nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao và những mục đích thực sự nhân văn của công cuộc hiện đại hóa đất nước luôn đòi hỏi chúng ta phải giải quyết những vấn đề có liên quan đến vai trò của văn hóa trong đời sống con người và xã hội hiện đại. Chính ở đây, trong bối cảnh tiếp biến văn hóa toàn cầu, khi chúng ta cần phải có thái độ tỉnh táo đối với việc tiếp thu những giá trị văn hóa của các dân tộc khác, thì lại vấp phải những vấn đề về văn hoá mà Freud đã đặt ra và giải quyết trên lập trường triết học phân tâm học. Do vậy, có thể nói, việc khảo cứu, tiếp thu có chọn lọc và phê phán lập trường của Freud trong lĩnh vực triết học văn hóa là cần thiết, và đây cũng chính là mục đích của bài viết này.

Như đã rõ, vào nửa sau những năm 20 của thế kỷ XX, khi cố gắng áp dụng phân tâm học vào các lĩnh vực văn hóa (nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức, v.v.), một lần nữa, Freud lại trở lại với vấn đề quan hệ giữa con người và văn hóa, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội và đề cập đến hàng loạt vấn đề lịch sử xã hội. Hai tác phẩm đặc biệt quan trọng của ông xét trên phương diện này là: Tương lai của một ảo tưởng (1927) và Bất mãn với văn hóa (1930).

Ngay trong Totemvà tabu, Freud đã coi tục thờ cúng totem, một tín ngưỡng ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người là nguồn gốc của văn hóa và tâm linh. Ra đời từ thời ấu thơ của nhân loại như vậy, nên (cũng như thời thơ ấu của một cá thể người) tục thờ cúng totem đã luôn chi phối đời sống con người nhờ những cơ chế bảo lưu và tác động của nó. Trên cơ sở này, Freud đã đưa ra quan điểm về sự thù địch của văn hóa, của các cấm đoán văn hóa với sức sống, dục vọng mang tính bản năng, bẩm sinh của con người.

Trong Totem và tabu, Freud còn sử dụng những phát hiện mới của phân tâm học để tìm hiểu cội nguồn của tôn giáo là đạo đức. Trước Freud, trong các công trình nghiên cứu về nguồn gốc của tục thờ cúng totem đã có những quan điểm của phái duy danh, xã hội học, tâm lý học và lịch sử. Song, theo ông, những quan điểm này đều không nắm được bản chất của tôn giáo. Do vậy, ông đã dựa theo lý thuyết phân tâm học và xuất phát từ dục vọng bản năng vô thức thuộc tầng sâu cơ cấu tâm lý nhân cách để tiến hành nghiên cứu và thuyết minh về đạo đức và tôn giáo. Trong Totem và tabu, Freud cho rằng, cội nguồn của tôn giáo, đạo đức xã hội và nghệ thuật đều là mặc cảm giúp. Đó là sự gặp gỡ không hẹn trước. Nghiên cứu phân tâm học cho thấy rằng, loại mặc cảm giống nhau này là cái đã tạo nên căn nguyên của chứng bệnh tâm lý.

Cũng ở đây, ông còn cho rằng, cách tiếp cận như vậy, đã giúp ông thành công trong việc xâm nhập vào bản chất của chúng. Sau đó, tư tưởng này đã được ông phát triển trong học thuyết về quan hệ giữa “nguyên tắc thỏa mãn” và “nguyên tắc thực tại”. Sau đó nữa, quan điểm về xung đột bi đát, về sự đối kháng của văn hóa với bản tính “tự nhiên” của con người đã trở thành trung tâm điểm trong tư tưởng triết học phân tâm học của Freud.

Trong tác phẩm Tương lai của một ảo tưởng, lần đầu tiên, Freud đã đưa ra định nghĩa khái niệm “văn hóa”, khi phân tích các chức năng khác nhau của nó và xem xét tôn giáo như một bộ phận cấu thành của văn hóa. Ở đây, ông đã thể hiện như một người phê phán văn hóa đối kháng, áp đặt, đặc biệt là văn hóa phương Tây đương thời, khi vạch rõ tính chất tha hóa, phản nhân văn của nó. Tương tự như các học giả khác lý luận về “khủng hoảng văn hóa”, ông chỉ ra hàng loạt xu hướng tiêu cực trong tiến trình phát triển của văn minh, văn hóa và sự phương hại của chúng đối với con người. Phương diện phê phán văn hóa trong học thuyết Freud được đặt lên hàng đầu ở giai đoạn này.

Freud hiểu thuật ngữ “văn hóa loài người” là tất cả những gì phân biệt cuộc sống con người với cuộc sống động vật. Một mặt, văn hóa “bao gồm mọi tri thức và kỹ năng mà con người có được, cho phép họ làm chủ các lực lượng tự nhiên và nhận được của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu con người; mặt khác, nó bao gồm tất cả những quy định cần thiết để điều chỉnh quan hệ giữa người với người, đặc biệt là để phân chia những của cải vật chất có được(2). Theo ông, cái có ý nghĩa quyết định đối với việc đánh giá văn hóa loài người là “sự kiện xã hội học” – cái cho thấy khát vọng bản năng mang tính phá huỷ, chống xã hội, chống văn hóa của con người và khiến họ trở nên xung đột không dung hòa được với những đòi hỏi của văn hóa. Bởi lẽ, “văn hóa là cái được gán ghép cho đa số đang phản kháng lại một thiểu số biết cách chiếm hữu cho mình những phương tiện cưỡng chế và cai trị”(3). Với quan niệm này, Freud hướng vào việc khảo cứu các nhân tố tâm lý trong sự áp đặt văn hóa và những cấm đoán có thể có của “cái Siêu Tôi”. Từ những nghiên cứu này, ông cho rằng, sự áp đặt văn hóa là một phương tiện tâm lý để con người bảo vệ tránh khỏi những dục vọng và bản năng xung đột bẩm sinh. Rằng, các biểu tượng tôn giáo xuất hiện do sự bất lực của con người trước các lực lượng nô dịch của tự nhiên và của xã hội cũng là một phương tiện tâm lý.

Các biểu tượng tôn giáo này, theo Freud, là sự phóng chiếu ra thế giới bên ngoài những dục vọng không được đáp ứng và các lực lượng tâm lý vô thức của con người. Vai trò của các biểu tượng này được thể hiện ở chỗ, nó là dung hòa con người với số phận nghiệt ngã của họ, là sự đền bù cho những đau khổ và mất mát do văn hóa đem lại cho con người trên con đường kiếm tìm hạnh phúc của họ.

Từ sự phân tích trên, Freud đi đến kết luận rằng, sự tồn tại của xã hội được xây dựng dựa trên sự thừa nhận của mọi người đối với tội lỗi chung; tôn giáo được sinh ra từ cảm giác tội lỗi và tâm lý hối hận về tội lỗi; còn đạo đức ra đời một phần, do nhu cầu xã hội, phần khác, do cảm giác tội lỗi làm nảy sinh tâm lý chuộc tội.

Vậy, bản chất tôn giáo là gì? Freud cho tằng, tôn giáo là một biểu hiện điển hình của “ma men tinh thần”. Sở dĩ con người cần đến chất “ma men” này, bởi họ sống trong thế giới tự nhiên, gia đình, xã hội và quan hệ giữa họ với nhau; những sức ép ấy làm cho gánh nặng cuộc sống của họ càng nặng, thì họ càng cần đến sự giải tỏa của loại “ma men về tinh thần” này. Theo Freud, xã hội càng hiện đại càng có nhiều người sùng bái tôn giáo, và đó là điều không thể chấp nhận được. Với tư cách một nhà phân tâm học, Freud thấy mình có trách nhiệm phải vạch trần nguồn gốc, bản chất giả tạo của tôn giáo và làm cho mọi người nhận rõ tôn giáo chẳng qua chỉ là công cụ để bộ phận người này mê hoặc bộ phận người khác mà thôi. Coi các biểu tượng tôn giáo như một cái có giá trị nhất trong số tất cả những gì văn hóa có thể đem lại cho con người, trong nhiều tác phẩm của mình, Freud đã nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa và tôn giáo(4). Theo ông, tôn giáo thể hiện là một trong các phương thức tồn tại của văn hóa và đúng hơn, là của văn hóa mang tính chất “loạn thần kinh chức năng” ; nó thể hiện ra là một ảo tưởng không giống sự thật nhưng lại rất gần gũi với “tư tưởng vô lý trong tâm thần”. Giá trị của tôn giáo được ông đánh đồng với tác đụng của thuốc mê, với khả năng “ru ngủ” con người ngay từ thời thơ ấu.

Điều đó cho thấy, quan điểm của Freud về tôn giáo là mâu thuẫn và không nhất quán. Một mặt, ông quy các biểu tượng tôn giáo về lĩnh vực bệnh hoạn, xem chúng như bệnh “loạn thần kinh chức năng’”, bệnh tâm thần; mặt khác, ông lại nhấn mạnh giá trị văn hóa của chúng. Không chỉ thế, Freud còn lấy một thành tố khác của văn hóa là khoa học để đối lập với tôn giáo như một ảo tưởng không thể chứng minh được, giống như những tạo phẩm tinh thần của các bộ lạc man rợ. Giữa tri thức khoa học và niềm tin tôn giáo, theo ông, luôn có sự xung đột không thể khắc phục được, tác động của tôn giáo đến con người ngày càng giảm và không thể luận chứng được cả bằng các sự kiện lẫn bằng những luận cứ của lý tính, và nguyên nhân của tình trạng đó là “sự kiện toàn tinh thần khoa học ở các tầng lớp tinh hoa của xã hội loài người”(5). Với quan niệm này, khi Freud cho rằng, tôn giáo là cái cần phải loại bỏ, vì nó luôn thể hiện ra là địch thủ trực tiếp của khoa học, là nơi hội tụ những ảo tưởng, những sai lầm phi lý gây chứng “rối loạn thần kinh chức năng”.

Song, việc Freud phê phán tôn giáo từ lập trường của khoa học và của lý tính lại trực tiếp mâu thuẫn với hệ chuẩn phản khoa học, phản duy lý trong học thuyết phân tâm học của ông. Trong thế giới quan của Freud giai đoạn cuối đời luôn có hai xu hướng đối lập nhau: xu hướng duy khoa học, duy lý xuất phát từ niềm tin tưởng của nhà khoa học tự nhiên vào sức mạnh của lý tính, của khoa học và xu hướng thần thoại, phản khoa học, duy tâm – phi duy lý.

Trong tác phẩm Bất mãn với văn hóa, Freud đã phát triển phương diện đạo đức trong các quan điểm văn hóa học của mình. Sau khi đặt ra vấn đề về mục đích sống và lẽ sống, ông khẳng định mục đích chủ yếu của cuộc sống con người là khát vọng hạnh phúc. Và khi Freud xuất phát từ tư tưởng của chủ nghĩa hoan lạc coi sự hoan lạc như cái thiện tối cao và là tiêu chí về lối ứng xử của con người, ông đã quy quan niệm về hạnh phúc về sự vắng mặt của nỗi đau, của sự bất mãn và về sự trải nghiệm những cảm giác hoan lạc mạnh mẽ. Với quan niệm này, hạnh phúc, mục đích sống của con người đã được ông coi là “nguyên tắc hoan lạc” của chủ nghĩa hoan lạc. Mặc dù nguyên tắc này, theo Freud, luôn giữ vị trí hàng đầu trong cuộc sống con người, song việc thực hiện nó, ngay từ đầu, đã đặt con người vào quan hệ thù địch với thế giới bên ngoài, với xã hội và với văn hóa. Với tư cách khát vọng hoan lạc, theo Freud, hạnh phúc về thực chất là một hiện tượng ngẫu nhiên, không thể kéo dài, vì nó bao giờ cũng đối đầu với “nguyên tắc thực tại” – cái chỉ đem lại cho con người nỗi bất hạnh và sự đau khổ. “Đau khổ, – Freud viết, – đe dọa chúng ta từ ba phía: thân xác chúng ta, – cái rất dễ bị suy yếu và phân huỷ mà những nỗi đau và sự sợ hãi không thể ngăn chặn được; thế giới bên ngoài có thể thức tỉnh trong chúng ta các lực lượng hùng mạnh và không thể nắm bắt được, cuối cùng, quan hệ của chúng ta với tha nhân”(6). Do con người luôn cố gắng né tránh nỗi bất hạnh và sự đau khổ, nên họ thường tạo ra những ảo tưởng để ngăn chặn chúng và cho phép chúng tác động trực tiếp đến thân xác mình. Song, điều đó là chưa đủ. Cấu tạo phức tạp của trạng thái tâm lý con người, theo Freud, bắt buộc con người phải sử dụng hàng loạt phương thức tác động khác, như thủ tiêu các dục vọng sinh lý bẩm sinh, làm cho chúng thăng hoa, sáng tạo nghệ thuật và khoa học. Với quan niệm này, ông coi lối sống ẩn dật như một phương thức để loại bỏ các đau khổ thế tục, không tưởng và viễn tưởng, như dự định nhằm tạo ra một thế giới tưởng tượng, có thể thủ tiêu được những cái không thể chịu đựng được trong thế giới hiện thực. Song, tất cả những phương thức này, theo ông, đều không thể giúp con người tránh khỏi sự đau khổ và do vậy, khi sử dụng chúng, con người không đạt được gì, hiện thực vẫn cứ là cái không thể chịu đựng nổi đối với họ; cũng do vậy, con người đã trở thành kẻ mắc bệnh “rối loạn thần kinh” chức năng khi cố gắng cải biến thế giới.

Tôn giáo, theo Freud, là một phương thức không có hiệu quả để bảo vệ con người tránh khỏi đau khổ, là “sự điên rồ đại chúng” của nhân loại, là cái không chỉ dẫn con người đến hạnh phúc hư ảo, mà còn làm mất đi những giá trị của cuộc sống hiện thực khi đề cao những giá trị siêu nhiên, không hiện thực và do vậy, khiến con người “chỉ còn biết phục tùng một cách vô điều kiện như sự an ủi cuối cùng, như cội nguồn của sự hoan lạc trong đau khổ của mình”(7).

Với quan niệm này, ông đã đi đến kết luận rằng, không một phương thức nào mà con người tạo ra để né tránh đau khổ lại có đủ độ tin cậy. Do vậy, hạnh phúc là lý tưởng không thể trở thành hiện thực; nó chỉ là “nguyên tắc thỏa mãn” mà con người thường xuyên hướng đến nhưng không bao giờ đạt tới được. Điều duy nhất còn lại dành cho con người trong bối cảnh này là “phân bổ lại” và “điều chỉnh” năng lượng tình dục.

Khi xem xét vấn đề tâm lý – đạo đức của hạnh phúc, hoan lạc và đau khổ từ lập trường phân tâm học, Freud cho rằng, “văn hóa là cái phải hứng chịu phần lớn tội lỗi về những bất hạnh của chúng ta. Chúng ta sẽ hạnh phúc hơn nhiều, nếu khước từ văn hóa và phục hồi những điều kiện sinh hoạt nguyên thuỷ. . . Dẫu chúng ta có hiểu như thế nào về văn hóa, thì hiển nhiên tất cả những gì mà chúng ta thường cố gắng sử dụng để tự vệ, để chống lại những khổ đau đang đe dọa chúng ta đều thuộc về nền văn hóa này”(8).

Nối tiếp Schopenhauer, Freud đã vạch ra những dấu hiệu khủng hoảng của văn hóa phương Tây đương thời, của các thể chế, các giá trị đạo đức mà có sự tác động của chúng, con người đã trở thành những bệnh nhân mắc “bệnh tâm thàn phân liệt”. Theo ông, loài người đã đạt tới sự tiến bộ chưa từng thấy trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và áp dụng kỹ thuật, đạt tới sự thống trị giới tự nhiên, song, tất cả những điều đó không làm cho họ trở nên hạnh phúc hơn.

Học thuyết của Freud về “tội lỗi” của văn hóa, về sự đau khổ của con người trong nền văn hóa ấy và về sự khủng hoảng của văn hóa, đã trở thành một chủ đề ưa thích của nhiều nhà tư tưởng hiện đại. Tư tưởng trung tâm của Marcuse, Reicher, v.v. đều bắt nguồn chính từ học thuyết phân tâm học của Freud về sự thù địch của văn hóa đối với con người, về tính chất áp đặt của nó đối với bản tính người.

Song, Freud không chỉ dừng lại ở việc vạch rõ tính chất thù địch, phản nhân văn của văn hóa, ông còn nghiên cứu những ảnh hưởng tích cực của văn hóa và vai trò của nó trong đời sống của con người. Freud cho rằng, mục đích của sự phát triển con người là hoàn thiện lý tưởng, kiến thức (gồm lý trí, chân lý, logos), đề cao tình người, giảm thiểu khổ đau, nâng cao sự tự chủ và trách nhiệm, bởi chính chúng đã tạo nên cốt lõi đạo đức của mọi tôn giáo lớn mà văn minh phương Đông và phương Tây đều dựa vào đó. Những giáo lý của Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, những nhà tiên tri và Jesus tuy có một số sự khác biệt, nhưng về cơ bản, đều giúp con người hướng thiện. Thứ tôn giáo mà Freud chống là thứ tôn giáo đã bị lạm dụng, nhân danh đạo đức để ngăn cản việc thực hiện mục đích đạo đức toàn vẹn của tôn giáo.

Theo Freud, văn hóa nào cũng có những thành tựu và những hình thức hoạt động làm lợi cho con người, thúc đẩy việc khai khẩn đất đai và bảo vệ con người khỏi các lực lượng tự phát của tự nhiên. Với quan điểm này, Freud không hề phủ định tiến bộ lịch sử – văn hóa của loài người và những thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, sản xuất vật chất và tinh thần. Khi coi quan hệ xã hội giữa người với người cũng là một hiện tượng văn hóa, Freud còn cho rằng, văn hóa bao gồm cả các quan điểm triết học, tôn giáo, các lý tưởng của con người, quan niệm về sự hoàn thiện có thể có của mỗi cá nhân, của dân tộc và của cả loài người. Do vậy, theo ông, việc hợp nhất con người thành các nhóm, các cộng đồng xã hội cũng như việc thay thế quyền lực của một người riêng biệt bằng quyền lực của tập thể là một bước tiến lớn trên con đường sáng tạo văn hóa của nhân loại. Thực chất của bước tiến này là ở chỗ, các thành viên trong cộng đồng có khả năng hạn chế dục vọng của mình, tạo ra các chuẩn mực pháp lý, những nguyên tắc đạo đức chung. Đến lượt mình, các chuẩn mực và những nguyên tắc này lại đặt ra các yêu cầu mới cho sự phát triển của văn hóa. Nhu cầu mới này luôn trong trạng thái xung đột với tự do cá nhân. Do vậy, phát triển văn hóa là để hạn chế tự do cá nhân và đó là điều bắt buộc đối với mọi người.

Ghi nhận sự xung đột vĩnh hằng, không thể dung hòa được giữa tự do cá nhân và những mong muốn, khát vọng của họ với những đòi hỏi của văn hóa, Freud đã ngoại suy những đặc điểm tâm lý của con người riêng biệt vào lĩnh vực quan hệ xã hội và phát triển văn hóa. Và khi dịch chuyển những đặc điểm tâm lý này vào lĩnh vực giao tiếp giữa người với người, ông đã xác lập sự tương đồng giữa tiến trình văn hóa và phát triển libido (tính dục) của một con người riêng biệt. Từ đó, ông coi sự thăng hoa của những dục vọng phát sinh và những bản năng con người là đặc trưng nổi bật trong sự phát triển văn hóa nhân loại. Ở đây cần phải nhận thấy rằng, khái niệm “thăng hoa” đóng một vai trò rất quan trọng trong tư tưởng văn hóa học của Freud. Bởi vì, theo Freud, khi bị đẩy xuống lĩnh vực vô thức, bản năng sinh học lại được biểu hiện dưới dạng “thăng hoa” ở trong mọi lĩnh vực hoạt động văn hóa, từ chính trị cho đến khoa học, nghệ thuật, văn học. “Thăng hoa” có cơ sở nền tảng là sự chối bỏ dục vọng, từ bỏ lối sống khắc kỷ (chuyển năng lượng tình dục cho mục đích văn hóa), và do vậy, nó đem lại cho các lĩnh thức tối cao của hoạt động tâm lý khoa học, nghệ thuật, tư tưởng) một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa của con người. Cách đặt vấn đề như vậy đã cho phép Freud đưa ra một định hướng văn hóa nhất định cho dục vọng bẩm sinh – tình yêu và sự hiếu chiến (Eros và Tanatos).

Trong các tác phẩm cuối đời, Freud đã đưa ra một tư tưởng cho rằng, thiên hướng hiếu chiến và tàn ác là một trong những trở ngại trên con đường phát triển văn hóa của loài người. Quan niệm về tính hiếu chiến bẩm sinh này còn được ông sử dụng để giải thích tính tất yếu của việc tiến hành chiến tranh, di dân, xâm lược, v.v. . Và khi đánh đồng bản năng hiếu chiến và tàn ác của cá nhân con người với tính hiếu chiến xã hội, cố gắng coi chúng như một đặc tính bẩm sinh của bản tính người, Freud đã cố gắng minh biện cho chiến tranh. Trong bức thư ngỏ gửi cho A.Einstein “Chiến tranh cần phải làm gì?” (1932), ông đã cố gắng chứng minh tính tất yếu lịch sử của chiến tranh và khẳng định giá trị văn hóa của nó, khi cho rằng chiến tranh làm bộc lộ bản năng hiếu chiến và qua đó, có khả năng bảo tồn các cơ sở sinh học của văn hóa, cứu thoát con người khỏi sự tự huỷ diệt về mặt thể xác. Chiến tranh, theo ông, chỉ đơn giản là “một sự việc tự nhiên, nó có cơ sở sinh học tương ứng, và do vậy, chắc đã gì có thể né tránh được nó trên thực tế (9). Hàng loạt nhà tư tưởng phương Tây coi luận điểm này của Freud về tính hiếu chiến, tính tất yếu của chiến tranh là sự bộc lộ của khát vọng sinh học mang tính chất phá huỷ, là yếu tố cấu thành quan điểm văn hóa xã hội của ông (10).

Xem xét chiến tranh như một hiện tượng tự nhiên và như một thử nghiệm để bảo vệ các dân tộc khỏi sự tự huỷ diệt, Freud đã ủng hộ quan điểm phản nhân văn về tính tất yếu của việc triển khai và tiến hành chiến tranh trong lịch sử. Quan điểm này hoàn toàn đối lập với quan niệm duy vật lịch sử về bản chất của chiến tranh như một phương tiện để giải quyết những mâu thuẫn kinh tế và chính trị – xã hội. Xem xét tính hiếu chiến, tàn ác, bạo lực như những biểu hiện của bản năng vô thức trong bản tính con người, Freud chỉ quan tâm đến việc làm cho bản năng ấy “thăng hoa”, cải biến và phong tỏa chúng, đem lại cho chúng những hình thức có thể chấp nhận được và ít nguy hiểm nhất. Xuất phát từ đó, trong Bất mãn với văn hóa, Freud đã đưa ra luận điểm về cuộc đấu tranh không chấm dứt trong xã hội giữa bản năng sống với bản năng phá huỷ, hiếu chiến, (giữa Eros và Tanatos), cuộc đấu tranh dường như cấu thành nội dung cơ bản cho mọi hình thức tồn tại của sinh vật và của văn hóa loài người.

Theo ông, lĩnh vực văn hóa loài người chỉ thể hiện ra như diễn đàn đấu tranh đặc biệt giữa các bản năng thù địch với nhau. Rằng, “cuộc đấu tranh này cấu thành nội dung cơ bản của sự sống nói chung, và do vậy, phát triển văn hóa có thể được gọi một cách đơn giản là cuộc đấu tranh vì sự tồn tại của loài người” (11).

Vào cuối những năm 20 – đầu những năm 30 của thế kỷ XX, phân tâm học ở phương Tây đã trở thành “triết học cuộc sống”, “triết học văn hóa”, đạo đức học và thẩm mỹ học. Khi đó, Freud đặc biệt coi trọng việc phân tích cảm giác tội lỗi như một hiện tượng tâm lý – đạo đức. Theo ông, khi phong tỏa và vô hiệu hóa những dục vọng hiếu chiến nguy hiểm, văn hóa cũng đồng thời để cho “cái Siêu Tôi” giám sát chúng, bởi những dục vọng này không thể bị loại ra khỏi cuộc sống con người. Coi trạng thái xung đột căng thẳng này giữa “cái Tôi” và “cái Siêu Tôi”, giữa thái độ hiếu chiến và việc chế áp nó là trạng thái tội lỗi, Freud cho rằng, “Do văn hóa luôn phải phục tùng năng lượng tình dục nội tại với tư cách cái ra lệnh cố kết mọi người thành một đám đông thống nhất, nên nó chỉ có thể đạt tới mục đích đó thông qua cảm giác tội lỗi Nếu văn hóa là tiến trình phát triển tất yếu từ gia đình đến loài người, thì với tư cách hệ quả của xung đột bẩm sinh giữa tính hai mặt, giữa tình yêu và dục vọng chết, nó luôn gắn liền với sự gia tăng cảm giác tội lỗi và rất có thể đạt tới trạng thái căng thẳng tới mức không thể chịu đựng được đối với mỗi người riêng biệt” (12).

Xem xét cảm giác tội lỗi như một nội dung cơ bản, như một vấn đề quan trọng vào bậc nhất của văn hóa, Freud đã cố gắng chứng minh rằng, do có sự gia tăng tội lỗi trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nên tiến bộ văn hóa luôn đi liền với việc hạn chế “nguyên tắc thỏa mãn” và do vậy, đã làm phương hại đến hạnh phúc con người. Cảm giác tội lỗi càng tăng lên, thì con người càng cảm nhận thấy ít hạnh phúc hơn. Với quan niệm này, ông đã nói về tiến trình phát triển tiếp theo của văn hóa. Theo ông, trong tương lai, số phận của loài người sẽ phụ thuộc vào việc “sự phát triển của văn hóa có khả năng hay không có khả năng loại bỏ dục vọng hiếu chiến và tự phá hủy bẩm sinh của con người. . . Đã đến lúc chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến phương diện này, bởi hiện nay, con người đã thống trị các lực lượng tự nhiên nhiều tới mức họ có thể dễ dàng huỷ diệt lẫn nhau đến người cuối cùng. Khi dựa vào tự nhiên, con người cần phải hiểu điều này để từ đó suy nghĩ và quan tâm nhiều hơn đến nỗi bất hạnh và tâm trạng bất an hiện nay của mình, đồng thời cũng phải luôn hy vọng rằng, lực lượng tự nhiên khác – Eros – sẽ nỗ lực để tự bảo vệ mình trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù cũng bất tử như vậy. Nhưng liệu ai đó có thể tiên đoán được kết cục của cuộc đấu tranh này và chiến thắng sẽ thuộc về bên nào?” (13). Chúng ta dễ dàng nhận thấy sắc thái bi quan, lo âu trong những câu nói đó của Freud.

Những sự kiện gắn liền với việc phổ biến và sự gia tăng chủ nghĩa phát xít đã để lại dấu ấn sâu đậm ở thế giới quan của Freud ở giai đoạn hậu kỳ. Vào năm 939, bọn quốc xã đã xung công tài sản, nhà xuất bản và thư viện của ông, thiêu huỷ sách của ông, bắt và giam ông trong trại tập trung, bốn chị gái của ông cũng bị sát hại. Các nhà hoạt động khoa học và văn hóa, cũng như công luận đều lên tiếng đòi phải giải phóng cho ông.

Bị chấn động bởi việc bọn quốc xã phá huỷ nhiều giá trị văn hóa, vào những năm cuối đời Freud đã ngày càng nhấn mạnh tính chất bi đát, không lối thoát của tồn tại người trong thế giới đương thời với ông, và vạch rõ sự khủng hoảng của văn hóa, đưa ra sự cảnh báo về khả năng diệt vong có thể có của nền văn minh nhân loại. Từ đó, ông đặt vấn đề: Lẽ nào lại phải coi nhiều nền văn hóa hay các thời đại văn hóa và cả loài người là những “bệnh nhân tâm thần” do sự hiện diện của xu hướng hiếu chiến, phá huỷ trong xã hội? Và khi cố gắng chuyển dịch tư tưởng phân tâm học vào lĩnh vực ý thức xã hội, văn hóa loài người, ông cho rằng “các cấu trúc tâm thần cá nhân” là miền sâu của ý thức xã hội; cái “Siêu Tôi” là thành tố xã hội đặc biệt của văn hóa, cái sản sinh ra những lý tưởng xác định, đề ra những yêu cầu không phải cho con người riêng biệt, mà cho các nhóm người. ở đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự tương phản sâu sắc giữa C.Mác và Freud trong quan niệm về bản chất con người và văn hóa.

Trong các tác phẩm đề cập đến những vấn đề văn hóa, Freud đã cố gắng tìm hiểu xã hội đương thời, xem xét các hiện tượng tiêu cực của nó (bạo lực, tàn ác, chiến tranh, đàn áp) từ trạng thái tâm lý của người mắc bệnh tâm thần. Theo ông, mỗi con người riêng biệt cũng như toàn thể xã hội đều phải trải qua giai đoạn “loạn thần kinh chức năng” trong sự phát triển của mình; do vậy, nếu loại bỏ gia đình – tế bào cơ bản của văn hóa, thì khó có thể tìm thấy con đường phát triển tiếp theo của văn hóa. Với cách tiếp cận này, ông còn cho rằng, bản năng hiếu chiến của con người luôn thể hiện với tư cách một nhân tố sinh học không thể loại bỏ được của văn hóa trên bất kỳ thang bậc phát triển lịch sử nào của nó (14).

Như vậy, có thể nói, trong phân tâm học của mình, Freud đã đặt ra nhiều vấn đề cấp bách về vai trò của văn hóa trong đời sống con người, khi phân tích hàng loạt yếu tố đóng vai trò chi phối nếp sống của những cá nhân con người, tức hệ giá trị tinh thần của xã hội được phóng chiếu vào cuộc sống cá nhân thông qua lăng kính của nhiều loại nhân tố (sinh học, chính trị, xã hội, v.v.). Xét về phương diện này, phân tâm học của Freud là một hệ thống phức tạp, đa diện và đầy mâu thuẫn. Do vậy, chúng ta không nên đánh đồng nó với thế giới quan tự nhiên chủ nghĩa và thế giới quan triết học của ông. Bản thân Freud cũng luôn bày tỏ thái độ tiêu cực đối với mọi quan điểm triết học. Ông thường khẳng định học thuyết của mình không phải là khoa học triết học, mà là khoa học cụ thể, dựa trên những sự kiện và quan sát thực tế của y học lâm sàng, của tâm thàn học, dân tộc học, sử học, v.v.. Mặc dù vậy, dẫu đã có cố gắng khắc phục, song các quan điểm xã hội và văn hóa học của ông vẫn là một thứ siêu hình học trừu tượng, tư biện. Quan niệm của ông về vai trò quyết định của bản năng và dục vọng vô thức, về cuộc đấu tranh giữa Eros và Tanatos đã làm cho các luận điểm lý luận của ông trở nên gần gũi với chủ nghĩa phi duy lý triết học. Từ thế giới quan khoa học tự nhiên đến chủ nghĩa phi duy lý và “triết học cuộc sống” đã được sinh học hóa, từ tâm lý học cá nhân mang sắc thái sinh học hóa đến quan điểm lịch sử – xã hội về nguồn gốc, chức năng và số phận của văn hóa, về tính chất khủng hoảng của nó – đó là cách tiếp cận mà Freud đã sử dụng khi nghiên cứu văn hóa. Chính tính đa sắc thái này đã cho phép chúng ta nhận thấy cả yếu tố tích cực lẫn yếu tố tiêu cực trong cách tiếp cận của ông với một hiện tượng cũng đa sắc thái như văn hóa trong đời sống con người.


(l) Xem : Triết học phương Tây hiện đại. Từ điển (Viện Triết học). Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 996, tr. 403 – 406.
(2) S.Freud. Tuyển tập, t.1 Mátxcơva, 989 (tiếng Nga).
(3) S.Freud. Sđd., tr.109
(4) S.Freud. Sđd., tr.202.
(5) Xem: S.Freud. Sđd., tr.218.
(6) Xem: S.Freud. Sđd., tr.268.
(7) Xem: S.Freud. Sđd., tr.276.
(8) Xem: S.Freud. Sđd., tr.277.
(9)Thư từ của S.Freuđ. Mátxcơva, 1999, tr.145 (tiếngNga).
(10) Xem: C.Thompson. Phân tâm học: Tiến hóa và vấn đề. Mátxcơva, 982, tr.401 – 141 (tiếng Nga).
(11) Xem: S.Freud. Tuyển tập tr. Mátxcơva, 1989, tr.309 (tiếng Nga).
(12) Xem: S. Freud. Sdd. tr 39.
(13) Xem: S. Freud. Sdd. 330 – 331
(14) Xem: S.Freud. Sdd. tr.319

Buổi sáng thật thà

Thời gian trả về cho ông một buổi sáng lạ thường. Ông ra đường với cái quần jeans bạc phếch hao hao màu tóc đã nhiều muối rắc. Cái áo pull màu xanh dương, cũng bạc vai rồi. Lững thững ghé một cái quán cà phê nhỏ ở góc đường, ông nghe tiếng thì thào, “trời ơi, bữa nay coi ổng lạ quá…”. Ông cười thầm.

Vài người kéo ghế mời ông. Họ ái ngại, bỗng dưng ông ít nói, chỉ đủng đỉnh cười, lâu lâu cũng ừ hử góp vui vào vài câu chuyện vặt. Giọng cũng không còn là cái giọng hùng hồn, rắn rỏi, dứt khoát nữa. Họ nghĩ ông buồn, bởi cú sốc về hưu không dễ để vượt qua.

Con gái cũng nghĩ vậy, nó nói chắc phải mua cho ba trái mít chín, dụ mấy con ruồi vô nhà để ba… đập qua ngày. Có người, về hưu là một cuộc giải thoát, nghỉ ngơi, nhưng cũng có người cảm giác nó như cái chết. Đã hết. Đã tận. Đã chìm. Bị quên lãng, kể từ đây.

Bạn bè ông nhiều người từng trải qua cái chết đó. Sớm nay, khi ông thò chân khỏi giường, ông dặn mình, đừng có làm trò cười như người bạn, đã nghỉ dứt rồi mà quên, vẫn cứ ăn mặc thẳng thớm, trịnh trọng chạy tới cơ quan, ngồi đúng cái chỗ mà giờ đã dành cho người khác. Hay đừng có như thằng bạn kia, suốt ngày kêu đám con lại để cằn nhằn, lườm nguýt, cái oai phong của thời làm sếp, bạn bứng luôn đem về nhà. Ông đứng trước tủ áo, tình cờ gặp bộ đồ của con trai, dường như đã lâu nó không mặc tới. Ông thử, thấy vừa vặn, lạ lẫm, hơi thích.
Giống như người diễn viên đóng vai hiệp sĩ trong bộ phim truyền hình nhiều tập lê thê. Khán giả chán quá không coi; đạo diễn chán quá không làm nữa, cho thằng hiệp sĩ chết để… hết. Người diễn viên trở lại là mình, không còn múa may đánh đấm. Sáng nay không có họp, không có ai gõ cửa phòng vào trình ký, không có mấy nhân viên luống cuống chạy quanh. Sáng nay chỉ có cà phê vỉa hè, một chỗ nhiều lá rụng.

Sáng này ông lại nhìn thấy lá, sau bao nhiêu năm hờ hững. Như đã từng gấp gáp lướt qua những buổi sáng trong đời để chạy tới một hội nghị, một cuộc họp. Cuối tuần, quảy vợt chơi vài ván tennis với đồng sự, sau đó cũng ăn nhẹ, cũng cà phê, cũng nói chuyện phiếm… Nhưng những ban mai đó không giống lúc này, lúc trút bỏ, lúc trống không, lúc ông không còn ở địa vị A để nói về câu chuyện B, C.

Giờ ngồi quanh ông là những người nửa lạ nửa quen, không đủ gần mà cũng không quá xa lạ, để dè chừng. Và người đã kéo ghế mời ông ngồi cùng đã bao nhiêu năm gặp thoáng trên đường, có gật đầu cười, có nhớ thằng đó là bạn thời trung học, rồi lại lướt qua nhau. Một mối quan hệ hờ hững. Người bận rộn với vòng tròn công chức của mình, người thì dè dặt bởi vị trí thường xuất hiện trên truyền hình tỉnh của bạn.

Một cuộc ngồi với nhau như vầy, chưa đủ làm nên thân tình. Nhưng cái cảm giác rõ ràng là ông đang nhận lại những thứ đã từng quên, nối lại cái cuộc sống đã bị đứt đoạn mấy mươi năm trước, khi chưa bước chân vào quan trường. Từ buổi sáng thật thà nào xa xôi lắm, ông đi một vòng tròn thăm thẳm, giờ ông trở lại. Giờ thì ông chỉ còn một, người bất nhẫn trước con đường quê lầy lội, trước những ngôi nhà rách, đã buột miệng kêu trời, phải làm gì chớ để dân sống khổ vầy sao được.

Có một ông khác, người – trước – đám – đông, nói những câu quen thuộc, “Còn vài nguyên nhân khách quan… Nhìn chung nhà nước đã quan tâm sâu sắc… Bà con phải phát huy tinh thần tự lực tự cường… Tình hình kinh phí có hạn, cùng nhau chia sẻ khó khăn…” – người đó đã đi.

Chính xác thì sáng nay, không có ai khác trong ông. Trên đường về nhà, khi đi ngang cơ quan cũ, ông nhận ra mình đã để người đó ở lại bên kia tường rào cao, cùng với những buổi sáng lao xao giấy tờ, lao xao hội họp, lao xao đưa đón…

Ông tự dặn mình đừng nghĩ ngợi, những buổi sáng hôm qua không gặp lại được nữa rồi. Nhưng ông vẫn nhớ, dường như có thêm nỗi nhớ này, ông hoàn toàn thật thà trọn buổi sáng nay.

Thôi, về nhà tỉa mấy cái cây.

Giáo dục?

Trên đời này nhiều chuyện cứ tưởng bình thường nhưng hễ động đến hơi bị ngỡ ngàng, ví như câu hỏi ngón tay nào dài nhất có khi phải nghĩ một lúc hoặc một năm có mấy tháng 31 ngày lại phải ngẫm chán mới nói được.

Chuyện dạy và học cũng là một vấn đề xã hội, tất nhiên, đến tuổi cắp sách đến trường, học non-stop cho hết phổ thông thi vào đại học, nếu suôn sẻ sẽ học tiếp mấy năm nữa và ra trường đi làm, còn đã làm rồi muốn học lại có kiểu học từ xa, chuyên tu, tại chức… Nếu hỏi thử xem bạn đã học bao nhiêu năm rồi, chưa chắc đã có câu trả lời chính xác ngay, nhưng mỗi người bình thường sẽ được giáo dục hoặc ràng buộc với giáo dục từ 12 -18 năm ròng rã. Hiểu nôm na, giáo dục là một hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Như vậy, giáo dục sẽ bao gồm cả người dạy và người học trong quá trình bồi dưỡng tiếp thu tri thức, đạo đức dưỡng dục tinh thần, trí tuệ.

Từ xưa đến nay, giáo dục bao giờ cũng được coi trọng trong tất cả mọi thể chế xã hội và là điều kiện tiên quyết nếu xã hội ấy muốn thịnh vượng, phát triển. Sách Lễ Ký viết: Ngọc không giũa không thành đồ, người không học không thành đạo. Kinh Lễ viết: Dựng nước, giữ dân lấy học làm đầu; Quản Tử nói: Kế hoạch một năm không gì bằng trồng lúa, kế hoạch 10 năm không gì bằng trồng cây, kế hoạch trọn đời không gì bằng trồng người. Tùy theo hoàn cảnh lịch sử, điều kiện phát triển thực lực của mình mà quốc gia nào cũng xây đựng cho mình một chiến lược giáo dục gốc rễ và lâu dài, thậm thí còn giữ riêng một vài bí kíp phát triển giáo dục độc chiêu, không phổ biến rộng rãi, khiến cho nhiều nước khác phải sang tận nơi nghiên cứu học hỏi, đó là các trường hợp của Anh, Mỹ, Pháp, Australia, Singapore và giờ đây thêm cả Nhật, Trung Quốc…

Nước ta, một tháng sau ngày độc lập, tháng 10-1945, theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục đã ra tuyên bố nêu rõ mục đích cao cả, phương pháp của nền giáo dục mới là: Tôn trọng nhân phẩm rèn luyện ý chí, phát triển tài năng của mọi người để phụng sự đoàn thể và góp phần vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại. Phương pháp của nền giáo dục mới là xóa bỏ lối học nhồi sọ, hình thức, chú trọng phần thực học, phần học về chuyên môn nghề nghiệp chiếm một vị trí quan trọng, hết sức đề cao tinh thần khoa học nhằm giúp học sinh có lối nhận thức khoa học, phát triển óc phê bình, óc phân tích và “tổng hợp”, tinh thần sáng tạo và óc thực tế. Từ đó trải qua rất nhiều những biến động lịch sử thăng trầm của đất nước, nền giáo dục của ta thực hiện nhiều chương trình cải cách lớn nhằm thay đổi nội dung, mức độ nặng nề của sách học, nhiều tài liệu tham khảo hơn, thay đổi trình tự phát âm, cắt xén nét chữ viết, đưa toán học cao cấp vào tiểu học, để học sinh lớp 5 bàn về giới tính, rồi giá cả đi học đang leo thang… nhưng với mọi giải pháp ấy, thành tích giáo dục của ta vẫn xoay tròn rồi dừng ở mức đáng lo ngại và vẫn liên tục cải cách?!

Hãy khoan bàn về sai sót của chương trình và phương pháp giáo dục, ta thử tìm hiểu về người dạy và người học, hai đối tượng chủ yếu của giáo . Người dạy học (giáo viên) vốn đã vất vả và khổ cực rồi, nhưng nổi trội nhất vẫn là việc bán cháo phổi không đủ tiền nuôi phổi. Trước kia, giáo viên bỏ dạy học hoặc vừa dạy vừa làm thêm nghề bán nước trà, đạp xích lô bởi lương thấp. Bây giờ, giáo viên chuyển nghề, bỏ dạy vì lương không đủ sống nhưng tập trung chủ yếu ở lứa mầm non, mẫu giáo vì những giáo viên từ tiểu học trở lên còn có thể kèm thêm, kiếm của ngoài liên hoàn để cải thiện thu nhập. Vấn đề lương cơ bản thấp, phụ cấp tắc bụp của nhà giáo vốn đã kéo dài từ lâu, chưa có cách nào khắc phục được, trừ một số kinh doanh tri thức hoặc dạy theo xu hướng thị trường vụ lợi, còn đa số giáo viên vẫn vật lộn với cuộc sống, mà đoản thực sao vực nổi đạo? Vì thế nên dù có yêu nghề đến mấy, những tác động của cơm áo gạo tiền vẫn ít nhiều khiến cho lửa nhiệt tình của các thầy cô giảm đi đành chấp nhận nếu theo nghề phải bóp bụng lụy nghề. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến cho bài giảng trên lớp chưa sáng tạo, ít thực tế cuộc sống, dựa vào giáo án mẫu khô khan và hướng cho học sinh trả lời máy móc theo nội dung sắp đặt trước.

Người học (học sinh) đều muốn đến lớp để học hành có thầy có bạn nhưng hoàn cảnh sống gieo neo khiến cho nhiều học sinh muốn đến trường mà không có đủ điều kiện, còn ngược lại nhiều em thừa điều kiện lại không muốn đến trường. Thật lạ lùng khi thấy những học sinh nghèo vượt khó lại học giỏi, ham học và phấn đấu vượt qua muôn vàn gian khổ để dùi mài kinh sử, vươn tới chân trời ước mơ bình dị thiết thực: Xóa đói giảm nghèo. Trong khi những học sinh ở nhà cao cửa rộng, xe ga đi học, dùng điện thoại di động, quần áo moden, nhuộm tóc, sơn móng tay, nhưng lười và ngại học, cốt chỉ đến trường học hộ cha mẹ rồi đòi hỏi vật chất, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ sống gấp chứ chưa bao giờ nghĩ rằng đang bước đến giai đoạn cuối của căn bệnh ghét chữ – hỏng người, mất đi tương lai của bản thân mình, gia đình và đất nước.

Từ đó, có thể khái quát lại rằng, một bộ phận người dạy và người học đang bị phân tâm và giảm nhiệt huyết, phần vì sức ép về mức sống, bệnh thành tích, sính bằng cấp, trọng chỉ tiêu và rối về phương pháp, phần vì hoặc không gánh nổi chương trình thí nghiệm kéo dài, gây tâm lý nặng nề hoặc chịu ảnh hưởng đa diện của xu thế chuộng vật chất và tài chính từ thị trường thực dụng.

Tính đến hết năm ngoái, đội ngũ giáo viên trong cả nước từ mầm non đến đại học là hơn một triệu thầy cô trong đó có gần 6.000 tiến sĩ và gấp ba số đó là thạc sĩ và theo kế hoạch đến năm 2010 sẽ nâng cấp trình độ tất cả giáo viên đại học từ tiến sĩ trở lên! Trong khi ấy, có đến hơn 1.000 bài thi vào một trường đại học đạt điểm 0 và thậm chí 655 bài thi vào Trường đại học Sư phạm Hà Nội (tức là trường đào tạo giáo viên để dạy học) cũng đạt điểm 0. Như vậy, đủ thấy những chỉ số học hàm, học vị không nói lên điều gì logíc để giúp cho một nền giáo dục có chất lượng thỏa đáng, như mong đợi, mà chính những kết quả học và thi mới khẳng định phương pháp giáo dục có hiệu quả hay không? Người ta sẽ băn khoăn hỏi rằng: Có cần thiết nâng cấp khối lượng kiến thức để cao hơn thế giới không? Sao chương trình giáo dục, sách giáo khoa thay đổi như thay áo vậy sách mới đè sách cũ, vừa tốn kém, vừa vẫn phải in bổ sung đính chính? Cách giảng dy theo bài mẫu, chấm điểm theo khuôn đáp án học thuộc lòng như sáo, trả lời như vẹt “liệu” có phát huy được tính sáng tạo và thực tiễn của học sinh không? Và không những học sinh, phụ huynh, và kể cả giáo viên đang thấp thỏm lo kiểu thi hai trong một, ba trong một và một thay cho tất cả sẽ thế nào? Sự khập khiễng giữa tỷ lệ 30% trường học còn chưa có nhà vệ sinh, có học sinh thiếu tiền bị cả lớp biểu quyết phải nghỉ học và một số trường hiện đại hóa đến mức hàng ngày thông báo tình hình học tập của học sinh vào máy di động của phụ huynh, con em các gia đình khá giả đua nhau vào học trường Tây, lấy bằng ngoại đâu phải là biểu hiện về môi trường, chất lượng và phương pháp giáo dục tiên tiến?

Hamlet của Shakespeare chỉ lăn tăn mỗi một điều tồn tại hay không tồn tại, còn chúng ta bây giờ trăn trở đau đầu hơn vì lời cổ nhân nói rằng: Làm thầy lang nhầm thì giết chết một người; làm thầy địa lý nhầm giết chết một dòng họ; làm giáo dục nhầm thì giết chết một thế hệ, làm văn hóa nhầm giết chết cả một thời đại. Bởi vậy, câu hỏi cần phải hỏa tốc trả lời là: Liệu các nhà giáo dục học có gì nhầm lẫn hay không?

Nguyễn Tư Giản: Bui một tấm lòng trung với nước

Nhân dân Thủ đô mừng vui tự hào đón thêm một tên phố mới, phố – Nguyễn Tư Giản, tôn vinh một tri thức lớn thế kỷ XIX ở nước ta, một danh nhân văn hóa đất Thăng Long.

Nguyễn Tư Giản (1823 – 1890) vốn tên là Nguyễn Văn Phú, quê làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Du Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng nhiều đời, Nguyễn Tư Giản thi đỗ Hoàng giáp (tiến sỹ) khoa Giáp Thìn nằm Triệu Trị thứ tư (1844), năm ông mới 21 tuổi.

Đem tài năng ra giúp nước từ khi còn rất trẻ, Nguyễn Tư Giản từng trải qua những chức vụ trọng yếu suốt gần 40 năm, phục vụ 7 đời vua triều Nguyễn. Thoạt đầu, ông được bổ chức Quang Lộc tự khanh, đến năm 1857, với bản “Phương lược trị thủy Nhị hà” gồm 9 điều ông được vua Tự Đức đánh giá cao bổ chức Hiệp lý Đê chính sự vụ. Tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp cho chiến hạm đánh chiếm vùng biển Đà Nẵng, Sơn Trà, đưa quân vào Sài Gòn. Đến mùa hè 1859, quân Pháp chuẩn bị chiếm Kinh thành Huế khiến vua Tự Đức và triều thần hết sức lo lắng. Có hai luồng ý kiến: Một phái chủ trương thế thủ, nghị hòa để thủ, chống giữ lâu dài, một phái chủ trương quyết đánh không nghị hòa với Pháp. Tháng 7 năm 1859, Nguyễn Tư Giản từ Bắc dâng vua Tự Đức bản “Mật sớ” “ Thiết tha không hòa với Tây Dương…” với lời văn khúc triết, cương trực, một lòng vì nước, vì dân. Vua đưa tờ sớ hỏi ý Viện cơ mật, phái nghị hòa cực lực phản đối cho là Nguyễn Tư Giản xúc phạm ý tốt của họ. Tuy nhiên, vua Tự Đức vẫn công nhận ý kiến của Nguyễn Tư Giản là “chân thành, thẳng thắn, xuất phát từ lòng yêu nước”.

Thời gian giữ chức “Chuyên biện quân nhu” lo việc phục dịch chiến sự dẹp giặc ở vùng biển Quảng Yên, ông vẫn kiêm nhiệm việc đê điều: Năm 1866, Nguyễn Tư Giản được vua điều về kinh tiếp tục công việc tu soạn ở Viện Hàn Lâm, được vua khen, thăng một lần hai bậc từ tùng lục phẩm lên chính ngũ phẩm, thưởng hàm Hàn Lâm viện thị độc. Hai năm sau, Nguyễn Tư Giản được thăng Hồng Lô tự thiếu khanh làm Biện lý bộ Hộ.

Tháng 6-1868 (Mậu Thìn), ông được vua chọn đi sứ nước Thanh. Sứ đoàn do Lê Tuấn làm chánh sứ, ông và Hoàng Tịnh làm phó sứ. Mọi biểu sớ, giấy tờ quan hệ đều do ông thảo.
Sau 2 năm đi sứ về, Nguyễn Tư Giản được trao ghế Thượng thư bộ Lại của cụ Nguyễn Tri Phương và vào tháng giêng năm Tự Đức thứ 27 (1874) vua chuẩn cho Nguyễn Tư Giản thăng Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện, kiêm lãnh việc trông coi Quốc Tử Giám, kiêm coi luôn bộ Lễ thay Lê Bá Thận.

Đến tháng 10, Nguyễn Tư Giản được cử kiêm sung Nha Thương bạc để lo việc tiếp xúc với các đại diện Pháp. Có thể vì thấy phải giữ quá nhiều chức và công việc ngoại giao với Pháp lúc đó rất lắt léo, ông dâng sớ từ chối nhiệm vụ ở Nha Thương bạc, nhưng vua Tự Đức hết sức tin cẩn Nguyễn Tư Giản nên vẫn giữ ý kiến, chỉ cho ông “được trả Viện Cơ mật đại thần”…

Những năm cuối đời vua Tự Đức, Nguyễn Tư Giản tiếp tục làm việc ở Viện Hàn Lâm. Sau biến cố thất thủ kinh đô (7-1885), Nguyễn Tư Giản qua giữ chức thị lang bộ Hộ. Có lẽ, lúc đó Nguyễn Tư Giản không chịu nổi việc vua Đồng Khánh đưa nhiều việt gian vào triều nên ông giả ốm xin về nghỉ. Để lấy lòng nhân sĩ Bắc Hà, tháng 8 năm Đồng Khánh thứ nhất (1886), ông vua tay sai thực dân Pháp này chuẩn cho Nguyễn Tư Giản “Thăng thụ tổng đốc Bắc Ninh – Thái Nguyên”, cái chức đặc ân trong xứ thuộc địa Bắc Kỳ rất to nhưng không mua chuộc được Nguyễn Tư Giản. Vì thế chỉ một năm sau (1887) Nguyễn Tư Giản “có việc bị can, phải triệt về nha kinh lược xét”. Sử không cho biết rõ ông bị can vì tội gì, nhưng qua những quan chức bị can khác dưới triều Đồng Khánh chỉ có một tội phải triệt là tội tiếp tay cho các phong trào chống Pháp và chống triều đình tay sai Pháp Đồng Khánh mà thôi.

Là một người học rộng, tài cao, một đại thần nòng cốt của triều Nguyễn, khi chế độ quân chủ Việt Nam sang đời Thiệu Trị bắt đầu suy thoái, ông luôn trăn trở trước những vấn đề trọng đại của đất nước đặt ra cho thế hệ mình. Ông đã cùng một số đình thần xin vua Tự Đức mở những buổi thuyết giảng gọi là “kinh diên”, tức chiếu giảng riêng dành cho nhà vua trên danh nghĩa, bởi theo ông: “… việc đặt ra chiếu giảng ý nghĩa thật không nhỏ… bồi dưỡng đức độ cho nhà vua, hiểu được nỗi sâu kín trong lòng dân, cứu xét những đắc thất trong việc trị nước…”. Qua thảo luận mà thấy chỗ dị đồng, từ hỏi han mà nắm được điều cốt yếu…”

Là một trí thức lớn, ông không khuôn suy nghĩ của mình vào những chuyện thường tình, mà dành tâm trí cho những vấn đề quốc kế dân sinh. Trong bài ứng chế viết cho Tự Đức năm 1853, ông nêu lên 6 cái tệ lớn của quan lại đương chức, mà nhức nhối hơn cả là nạn tham nhũng và hiện tượng quan viên ngồi chơi: “Nay, trong thì các nha thuộc sáu bộ, ngoài thì tỉnh, phủ, châu, huyện, cho đến dinh, vệ, bảo, suất, số viên chức lên tới hàng vạn, bệ hạ có chắc họ đều trong sạch cả không? Lương cấp cho họ liệu có đủ để trên thì phụng dưỡng cha mẹ, dưới thì nuôi nấng vợ con không?… Với cảnh lương bổng ít ỏi như hiện nay mà ngày nào cũng yêu cầu quan lại phải thanh liêm, thì khác nào ngựa nuôi trong chuồng, rơm cỏ không cho ăn đủ mà đòi trở thành thiên lý mã… Trong khi đói rét bức bách, triều đình đãi ngộ nhân tài một cách vô liêm sỉ như vậy thì quan lại làm sao không tham nhũng, dân chúng làm sao không khốn khổ? Đất chỉ vừa một huyện thì bày ra thành một tỉnh, đất chỉ vừa một tổng thì bày ra thành một phủ.. . số quan lại văn, võ trong và ngoài triều đình ăn lương Nhà nước do vậy trở nên quá đông. Quan nhiều thì công việc không thể không rối rắm, mà công việc đã rối rắm thì dân không thể không oán trách. Ấy là cái nạn “nhũng viên”, tức là kẻ nhàn tản quá nhiều trong cơ quan Nhà nước.”

Trải qua hơn 40 năm làm quan trong triều, những điều ông nghĩ, những việc ông làm xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân nhất mực, giữ tấm lòng trung trinh trong sáng cho đến khi dưỡng già không một tấc đất, một ngôi nhà ngay ở quê hương mình. Ghi nhận công đức của ông, thủ đô Hà Nội đã quyết định lấy tên ông đặt cho một đường phố.

Nịnh

Cô con gái cưng Êlêônôra của Mác hỏi cha: “Ba ơi, thói xấu đáng ghét nhất của con người là gì?” Mác trả lời ngay không một chút do dự: “Thói nịnh hót”.

Không riêng gì Mác, mọi người chân chính từ xưa tới nay đều có ý kiến tương tự như vậy. Vua Pie đệ nhất của Nga thường nói: “Thà tôi có một kẻ thù trắng trợn còn hơn có một nịnh thần bịp bợm”. Nhà dân chủ Ôgút Bêben thì gọi những kẻ nịnh là “bọn chỉ quen vẫy đuôi mừng trước chủ”…

Biểu hiện của thói nịnh hót rất phong phú. Loại nịnh phổ biến nhất, thường gặp nhất là dùng lời nói để tâng bốc người khác một cách quá đáng, có khi hèn hạ nhằm mục đích cầu lợi. Đối tượng để kẻ nịnh tâng bốc chủ yếu là người có chức, có quyền. Anh là thủ trưởng của kẻ nịnh ư? Thế thì anh lập tức trở thành con người “toàn thiện, toàn mỹ”. Mọi lời nói, cử chỉ, hành động của anh đều trở thành mẫu mực. Nếu anh nói dài, lượng thông tin trong bài nói của anh quá nghèo nàn thì kẻ nịnh sẽ bảo rằng anh phát biểu sâu sắc, phong phú; rằng những ý kiến anh nêu ra mang tính khoa học và có giá trị chỉ đạo, làm cho mọi người “sáng ra”. Nếu anh nói cụt lủn, ấp a ấp úng, chẳng ai hiểu anh muốn nói gì, thì kẻ nịnh sẽ bảo rằng anh phát biểu ngắn gọn, súc tích và dễ tiếp thu. Nếu anh thô bạo, kẻ nịnh sẽ nói rằng anh có thái độ nghiêm khắc cần thiết của người lãnh đạo; anh mềm yếu rụt rè, kẻ nịnh sẽ bảo anh tế nhị, độ lượng. Nếu anh ăn mặc cầu kỳ, xa hoa, kẻ nịnh sẽ bảo rằng anh lịch sự; anh ăn mặc cẩu thả, lôi thôi lếch thếch, kẻ nịnh sẽ bảo rằng anh giản dị, tiết kiệm… Thôi thì đủ thứ. Những ưu điểm, sở trường của anh, kẻ nịnh sẽ “bốc” lên theo cấp số nhân, những khuyết điểm, nhược điểm của anh, kẻ nịnh sẽ “hoá phép” biến tất cả thành những điều hay, lẽ phải.

Một loại nịnh khác là, cùng với việc dùng lời nói, kẻ nịnh hót còn có những cử chỉ và hành động thích hợp. Thông thường thì những kẻ nịnh hay khúm núm, xun xoe trước đối tượng mà hắn thấy cần thiết phải nịnh. Anh là thủ trưởng của hắn? Thế thì khi gặp hắn, anh chỉ việc hững hờ chìa bàn tay trái của mình ra, kẻ nịnh sẽ dùng cả hai tay của hắn ôm chặt lấy bàn tay anh, mắt hắn long lanh sung sướng, đầu hắn hơi cúi xuống, lưng hắn hơi khom lại, hai gối hơi chùng với tư thế nửa đứng nửa quỳ và kèm theo là lời chào hỏi, tâng bốc ngọt ngào. Những cử chỉ và hành động của kẻ nịnh thường khá lộ liễu, nhưng đôi khi lại dược biểu lộ một cách kín đáo, tinh vi; phải chú ý quan sát, phân tích mới thấy hết được ý nghĩa của những cử chỉ và hành động đó.

Những kẻ nịnh thường đồng thời cũng là những kẻ hay xúc xiểm và hay nói xấu người khác. Bởi thế ngôn ngữ dân gian mới có từ “kẻ xiểm nịnh”. Họ đã nịnh anh thì trước mặt anh thế nào họ cũng tìm được những đối tượng mà anh không ưa thích để nói xấu. Họ khen anh thông minh, lịch sự, độ lượng. . . thì thế nào họ cũng chê người mà anh không thích là ngu đần, thiếu văn hoá và hẹp hòi, v.v. .

Nếu cho rằng những kẻ nịnh chỉ nịnh cấp trên thôi thì chưa đủ. Nhiều khi họ nịnh cả đồng cấp và cấp dưới. Sắp đến kỳ xét lương, sắp bầu cấp uỷ mới, cơ quan sắp lấy ý kiến của quần chúng về việc đề bạt cán bộ… toàn những việc hệ trọng cả, những kẻ nịnh đánh hơi các khoản ấy tinh lắm. Họ thừa hiểu rằng muốn vào được cấp uỷ phải có sự tín nhiệm của đa số đảng viên, muốn được đề bạt, muốn được nâng lương sớm thì cũng phải có sự ủng hộ của quần chúng. Chỉ được lòng cấp trên thôi thì chưa đủ. Thế là họ “mở chiến dịch” lấy lòng tất cả mọi người, tìm mọi cách tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng.

Cần phân biệt nịnh với quý mến và kính trọng. Chúng ta không phủ nhận sự quý mến và kính trọng thật sự thường thấy trong quan hệ giao tiếp, ứng xử giữa người và người. Không phải cứ khen nhau, tôn trọng nhau, tặng nhau, giúp nhau thứ này, thứ khác đều là những hiện tượng xu nịnh cả. Chúng ta không “vơ đũa cả nắm”, không hồ đồ và thiển cận như vậy. Trong cuộc sống, sự quý mến và tôn trọng nhau một cách chân thành, sự thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, tặng nhau, giúp nhau khi cái này, khi cái khác là những chuyện thường tình, là những điều cần thiết. Đó là biểu hiện của sự quý mến và kính trọng thật sự, là những nét rất đẹp trong truyền thống đạo đức của dân tộc ta. Chúng ta chỉ phê phán thói nịnh hót được nấp dưới chiêu bài quý mến, kính trọng. Bởi vì đó là sự giả dối. Trong thực tế, những kẻ nịnh thường nấp dưới chiêu bài quý mến và kính trọng khi nịnh người khác, cho nên dễ làm cho nhiều người ngộ nhận. Không phải họ nịnh anh tức là họ quý mến hay kính trọng anh đâu. Khi nào anh hết vai trò quan trọng đối với họ, hoặc anh “thất thế” thì họ sẽ hững hờ, lạnh nhạt với anh ngay, thậm chí họ có thể quay ngoắt 180 độ đối với anh.

Thói nịnh hót gây ra tác hại không nhỏ, thậm chí nó dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, nó làm cho chính kẻ nịnh mất hết bản lĩnh, mất hết nhân cách, trở thành thoái hoá, biến chất, bị mọi người khinh bỉ. Nó làm cho người được nịnh không đánh giá được đúng mình, sinh ra chủ quan, tự mãn, dễ mắc khuyết điểm, sai lầm. Nó ươn lệch nhận thức của người được nịnh. Nếu người được nịnh đó là những cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý thì có thể sẽ làm tổn hại đến công việc chung như: đánh giá sai lệch đội ngũ cán bộ dưới quyền mình dẫn tới tình trạng người tốt không được trọng dụng, kẻ xấu lộng hành, chính sách cán bộ không được bảo đảm… Thói nịnh hót còn là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ, tạo ra sự chia rẽ, bè phái, làm suy yếu tổ chức.

Nịnh và ưa nịnh là hai mặt của một vấn đề. Kẻ nịnh hót và kẻ ưa nịnh hót là tiền đề tồn tại của nhau. Có kẻ nịnh bởi vì có người ưa nịnh. Có người ưa nịnh bởi có kẻ, “nịnh thần”. Sự tồn tại của hai hiện tượng nịnh và ưa nịnh chứng tỏ một điều là do chúng ta tu dưỡng kém, do việc tự phê bình và phê bình không được đẩy mạnh trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và trong các tổ chức quần chúng khác. Thường có tình trạng là, mọi người có thể tự nhận mình có khuyết điểm này, khuyết điểm khác, nhưng ít ai dám dũng cảm nhận mình có thói quen nịnh hót hoặc ưa nịnh. Khi phê bình người khác cũng vậy, dường như chúng ta đều cảm thấy có gì khó nói khi phê bình đồng chí mình, bạn mình là có thói nịnh hót hoặc thích được ninh hót. Muốn hạn chế thói nịnh hót, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa việc đấu tranh tự phê bình và phê bình; phải tạo nên dư luận xã hội rộng rãi lên án thói nịnh hót và thói ưa nịnh. Các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế cũng như các tổ chức quần chúng khác phải có những hình thức kỷ luật thích đáng đối với những kẻ nịnh hót và ưa nịnh.