Ngoại tình từ “chat”

Có một hiện tượng phổ biến gần đây là trong một số gia đình trẻ, buổi tối vợ chồng ít nói chuyện với nhau mà say mê trò chuyện với máy vi tính. Điều này rất mới mẻ, mà cách đây độ chục năm không hề có. Những e-mail gửi đi, gửi lại tới tấp. Ngồi “chát” với nhau hàng tiếng đồng hồ. Người ta có thể mạnh dạn nói với nhau những lời mà nếu trực diện, chưa chắc có thể nói ra:

Với sự tăng trưởng rất nhanh của công nghệ thông tin, internet đi vào cuộc sống của hàng chục triệu người. Ngoại tình trên mạng đang có điều kiện phát triển hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, nhiều người không coi đó là ngoại tình vì theo quan niệm truyền thống, người ta chỉ coi là không chung thủy khi có quan hệ thân xác ngoài hôn nhân.

Có người còn dùng webcam để nhìn thấy nhau, hoặc thiết lập website riêng, blog cá nhân chia sẻ tâm sự với nhiều người, trao đổi cả sách báo, phim ảnh khiêu dâm. Từ những chuyện linh tinh về âm nhạc, thể thao rồi dần dần đến đời sống riêng tư, dẫn đến cảm thấy tâm hồn đồng điệu, có nhiều quan điểm, cá tính, sở thích giống nhau sinh ra nhớ nhung, ngưỡng mộ. Lúc đầu còn giữ ý, chỉ nói chuyện chung chung, sau đi dần đến bộc lộ những điều thầm kín chưa từng chia sẻ với ai ở ngoài đời.

Lan Anh là viên chức ngành thư viện, của một trường đại học tại Hà Nội. Ở tuổi 33, cô có một gia đình êm ấm với người chồng ít nói, hiền lành và hai đứa con ngoan ngoãn, khỏe mạnh. Nhưng người đàn bà ấy hình như không thỏa mãn với hạnh phúc của mình, buổi tối cô thường lên mạng xem các loại tin tức, rồi sau đó tìm người để trò chuyện. Lúc đầu hai bên làm quen nhau qua những câu chào hỏi xã giao, sau cứ thân mật dần thành lệ, tối nào không nói chuyện được một lúc cảm thấy như thiếu cái gì trong đời sống tình cảm của mình.

Người bạn thường xuyên “chát” với cô là một người đàn ông không còn trẻ nữa, nhưng chẳng hiểu sao không lấy vợ, nên buổi tối anh ta cũng lấy việc trò chuyện trên internet làm vui. Điều khiến Lan Anh thích “chát” với con người không biết mặt này là ở chỗ, cả hai cùng có những cách nhìn rất giống nhau về các giá trị tinh thần.

Càng nói chuyện càng thấy tâm đầu ý hợp, nó trở thành một nhu cầu không thể thiếu mà chồng cô không đáp ứng được bao giờ. Anh ta chỉ thích ngồi trước màn hình ti-vi xem thời sự hoặc bóng đá, nhưng lĩnh vực ấy cô lại không quan tâm. Thế là vô tình người bạn kia đã trở thành một phần cuộc sống của cô, bù lấp chỗ thiếu hụt của hôn nhân mà càng ngày càng không thể thiếu được. Cho đến một hôm, họ hò hẹn gặp nhau ở một quán giải khát và từ đó, cô đã đi vào con đường ngoại tình, không chỉ tình cảm mà cả thể xác.

Đặc biệt trong giới trí thức trẻ, nhiều nhà có hai máy vi tính và có nhiều phòng riêng, nên vợ chồng khó kiểm soát được những mối quan hệ tình cảm ngoài luồng này. Nó như trò chơi giao lưu tiện lợi và rẻ tiền. Theo điều tra với 1.000 phụ nữ được thực hiện bởi website WomanSavers.com ở Mỹ, 63% thừa nhận rằng nếu cứ thường xuyên lên mạng trò chuyện, tán tỉnh với người xa lạ sẽ dẫn tới ngoại tình. Chỉ khác nhau ở chỗ một đằng là quan hệ tình cảm, một đằng là quan hệ thể xác nhưng bản chất của nó là ngoại tình.

Nếu ngoại tình thể xác là từ chỗ hẹn hò gặp nhau trực tiếp đi đến quyến rũ nhau lên giường, thì ngoại tình tình cảm là sự gắn bó tình cảm với nhau, không có tiếp xúc thể xác. Đó là sự khác nhau căn bản giữa hai dạng ngoại tình này. Nhiều người không nghĩ, sự gắn bó tình cảm với ai đó là ngoại tình vì không có quan hệ thể xác. Nhưng các nhà tâm lý cho rằng, quan hệ tình cảm hay thể xác đều là ngoại tình và đều có tác hại với hạnh phúc gia đình.

Không ít trường hợp mới đầu chỉ trò chuyện hàng ngày, dần dần sinh nghiện lúc nào không biết. Thế là càng nói chuyện càng thân thiết, tâm trí lúc nào cũng nghĩ đến chỉ mong sao có ngày gặp mặt. Và nếu cả hai người không ở cách nhau quá xa, có thể gặp nhau ngoài đời thực thì thế nào cũng đi đến hò hẹn và từ quan hệ tình cảm đi đến quan hệ thể xác là con đường mòn xưa nay.

Một quan hệ tình cảm có thể lúc đầu chẳng có gì sai trái, khi họ chỉ trao đổi với nhau những thông tin thường nên có vẻ chẳng có tội lỗi gì, vì đó chỉ là quan hệ tình bạn. Nó bổ sung kiến thức cho nhau và những mối quan hệ đó chỉ làm chúng ta hiểu nhiều biết rộng, trí tuệ, tâm hồn trở nên phong phú, còn hơn mất thì giờ nói chuyện với những người nhạt toét mà ta phải tiếp xúc hàng ngày. Nhưng điều tai hại là từ chỗ tin cậy, hiểu biết, cảm mến rất có thể dẫn đến gặp nhau về thể xác.

Khi một người không được đáp ứng đầy đủ nhu cầu tình cảm trong hôn nhân, thì họ sẽ đi tìm kiếm nó ngoài hôn nhân. Con người có nhiều khao khát, khi những nhu cầu đó không được đáp ứng bởi vợ hay chồng họ, thì họ lên mạng tìm người nào đáp ứng. Họ đâu ngờ đã đặt những bước đầu tiên vào con đường ngoại tình.

Trong số hàng triệu người lên mạng mỗi ngày rất nhiều người có tâm hồn, cá tính hợp nhau và điều gì sẽ xảy ra khi họ gặp nhau? Đó là chưa kể những người sẵn sàng đưa những thông tin sai lạc về bản thân mình, để gây thiện cảm và được quan tâm hơn. Họ tha hồ thêu dệt hình ảnh họ phù hợp với mong muốn của người kia. Người có vợ, có chồng bảo là chưa có. Người đang sống êm ấm trong hôn nhân bảo là bất hạnh hay ly thân chỉ chờ ly hôn để đối tượng hy vọng và từ đó dễ xiêu lòng.

Vì thế, cần phải xác định khi một người đã có vợ, có chồng còn đi quyến rũ một người khác trên mạng là ngoại tình, bất kể họ đã tiếp xúc thể xác hay chưa. Nói khác đi, khi một người đã có vợ có chồng còn đánh cắp tình cảm đem đi dâng tặng cho người khác, đó chính là ngoại tình. Hơn 70% phụ nữ được hỏi cho rằng, ngoại tình tình cảm chỉ là bước đệm dẫn đến ngoại tình thể xác.

Dĩ nhiên, những hành vi này thường làm tổn thương tình cảm người bạn đời của họ. Cho nên nếu bạn bị rơi vào trường hợp đó, nên có sự trao đổi cởi mở với nhau chứ không nên ấm ức trong lòng. Nếu chẳng hạn chồng bạn cho rằng, làm như thế chẳng ảnh hưởng gì cả, vì ai cũng cần có bạn bè để trao đổi thông tin, thì bạn có thể hỏi, nếu em cũng làm như thế, anh có chấp nhận không? Nếu không, thì đừng gây cho người khác cái mà mình không muốn họ gây ra cho mình.

Ngoại tình tình cảm qua mạng thường có những biểu hiện sau: Sử dụng quá nhiều thời gian với máy vi tính một cách không bình thường. Khi bất ngờ có ai đến gần tỏ vẻ khó chịu. Có thái độ lẩn tránh hoặc phòng thủ khi hỏi đang “chát” với ai?

Những người này thường xao lãng quan tâm đến gia đình. Hay cãi nhau vặt. Luôn đặt mật khẩu để bảo mật máy tính hoặc luôn xóa hết email trước khi ngủ.

Nếu bạn nhận thấy chồng hay vợ có những biểu hiện trên đây, cần phải sớm cảnh giác. Có thể chính bạn đã không quan tâm đầy đủ đến người bạn đời, nên họ phải tìm người khác để trò chuyện. Vì vậy, bạn phải dành thời gian cho quan hệ vợ chồng nhiều hơn.

Có thể nói, sự hờ hững giữa vợ chồng là căn bệnh phổ biến của hôn nhân hiện đại. Nhiều người quá mải mê công việc đi gần như suốt ngày. Có những đôi vợ chồng trẻ đi làm liên miên, cả ngày chỉ gặp nhau một bữa cơm tối vào lúc 21 giờ. Họ cho rằng sau khi đã kết hôn là công việc chinh phục đã hoàn tất, việc gì còn phải chinh phục cái mà mình đã chinh phục. Thậm chí đến trò chuyện với nhau cũng không có thì giờ.

Ngày trước, người ta cam chịu cuộc hôn nhân tẻ nhạt như thế, nhưng ngày nay người ta không chấp nhận. Và nếu chưa có cơ hội kết bạn ở ngoài đời thì tìm người trên mạng để “chát” với nhau là điều quá đơn giản, trong tầm tay họ. Cho nên thời đại thông tin kỹ thuật số cũng là điều kiện để những kẻ ngoại tình liên lạc với nhau thuận tiện hơn và đó chính là một trong những nguy cơ của gia đình hiện đại. Nhưng nếu chúng ta cảnh giác, thì hoàn toàn có thể ngăn chặn được trước khi trở thành quá muộn.

Ghi chép Mỹ học

I. Mỹ học là gì? Mỹ học là một môn học nghiên cứu sự sáng tạo và cảm thụ theo “quy luật cái đẹp ( Kunzitxưn). “Quy luật cái đẹp” làm một khái niệm của Mác.

“Đúng là động vật cũng sản sinh. Nó xây dựng cho nó tổ hoặc hang ổ giống như ong, kiến, hải ly và v. v . . . làm tổ, làm hang ổ. Nhưng động vật chỉ sản sinh cái mà bản thân nó hoặc đàn con của nó trực tiếp cần đến; nó sản sinh một cách hạn chế (phiến diện) còn con người sản sinh một cách phổ quát… Động vật chỉ sản sinh ra bản thân nó. Còn con người tái sản sinh toàn bộ tự nhiên… Động vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu của loài của nó còn con người có năng lực sản sinh theo kích thước của bất cứ loài nào và khắp mọi nơi nó có năng lực ứng dụng kích thước vốn có của đối tượng, do đó con người cũng xây dựng theo quy luật của cái đẹp” (K.Mác, Bản thảo kinh tế – triết học, 1844. Tác phẩm (tiếng Nga), t.42, tr.94. Chuyển dẫn từ Mác và Ăng-ghen Bàn về nghệ thuật, T.I. Ixkuxtvo, Moskva, 1 983 , tr. 1 86).

Mác so sánh con người và động vật qua đó hiểu bản chất con người. Hai đặc điểm rút ra từ sự so sánh: 1 – Loài vật sản sinh một cách hạn chế, loài người sản sinh một cách phổ quát. Con người ngày càng có nhiều năng lực phổ quát. Năng lực thông cảm phổ quát với mọi loại người, thậm chí với những loài khác (Tolxtoi tả ngựa giỏi đến mức có cảm tưởng kiếp trước ông ta là ngựa). Năng lực nghệ thuật phổ quát thì nghe dân ca một dân tộc hoàn toàn xa lạ với mình cũng thưởng thức được. Tính phổ quát là thước đo trình độ văn minh, văn hoá của con người.

2- Sáng tạo theo “quy luật của cái đẹp” có nghĩa là: Nắm được kích thước của đối tượng. Giống như may quần áo, phải đo kích thước (hiểu theo nghĩa đen), đối với nhân vật kích thước hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: lứa tuổi, nghề nghiệp, tính cách, . . . Một kích thước hết sức cốt yếu của con người là: tiết tấu của nó, tức là thần thái, tính khí, nói như Mác, cái điệu múa “ruột nhất” của nó, qua đó bản chất con người phơi bày ra đầy đủ nhất. Không cứ gì một người, một gia đình, một làng, một xã hội . . . có tiết tấu riêng. Cảm giác được tiết tấu của sự sống hết sức quan trọng với người làm thơ. Maiacôpxki đến New York, đi miên man để nắm bắt nhịp sống của thành phố: “. . . Tôi đã nắm bắt được nhịp sống của New York, một cái nhịp lụi tắt, nghẹn ngào, . . . “

Đọc bài thơ Đêm ngàn của Văn Cao, Thụy Kha cảm nhận có “một ám ảnh dịu mờ” ẩn trong câu “cái gì cũng thấy chơ vơi”‘. Câu này, theo Thụy Kha là “câu Văn Cao tóm được tinh thần sống của mình, của cả dân tộc trước cách mạng”1. Ám ảnh “dịu mờ”, “chơi vơi” là tiết tấu của bài Đêm ngàn cũng như của nhiều giai điệu thơ và nhạc của Văn Cao trước Cách mạng. Cái “chơi vơi” ở Văn Cao khiến ta liên tưởng đến cái “thì thầm” ở Thuỷ Êa Sôla: “Trong mỗi người Việt đều có một chút gì đó thì thầm. Thì thầm cái gì đó. Tôi không hiểu rõ từng người. Tôi vẫn lắng nghe. Hình như tôi vẫn nghe được nó. Vì chính nó đã vực tôi lên”2. Phải chăng cái “thì thầm” là một tiết tấu của cuộc sống Việt Nam?. . .

Trong sáng tác nghệ thuật, “ứng dụng những kích thước vốn có” của đối tượng” có nghĩa là tìm được những kích thước nghệ thuật tương ứng, đó là: thể loại, bố cục, bút pháp, thể thơ, thi liệu . . . , một kích thước nghệ thuật hết sức quan trọng là giọng kể.

II. Mỹ học là “cảm giác học”.

Mãi đến thế kỷ XVIII, nhà triết học Đức Baumgarten mới xác lập Esthetique (ta dịch là Mỹ học) như là một bộ môn nghệ thuật. Theo nghĩa từ nguyên của từ này, esthetique là cảm giác học. Baumgarten phân biệt logic học (là môn học nghiên cứu nhận thức bằng lý trí, nhận thức cấp cao) với esthetique (là môn học nghiên cứu nhận thức bằng cảm giác, nhận thức cấp thấp). Với cách đặt tên là “cảm giác học” , B. lưu ý chúng ta đến một điều hết sức quan trọng: điểm xuất phát của những hiện tượng mỹ học là cảm giác, cho nên nói đến cái đẹp, đến nghệ thuật trước hết phải nói đến hình thức tác động tới cảm giác, tất nhiên là không dừng lại ở đây, nhưng nhất thiết phải bắt đầu từ đây.

III. “Cảm giác mỹ học nảy sinh từ sự cảm giác sự hoàn thiện” (Kant). Tư tưởng mỹ học này của Kant đặt yêu cầu sự hoàn thiện của hình thức trong nghệ thuật. Đối tượng của sự tái hiện có thể không hoàn thiện, nhưng bản thân sự tái hiện phải hoàn thiện. Sự hoàn thiện của hình thức như là chỉnh thể đòi hỏi cảm giác mức độ.Năng lực thưởng thức (gout) chính là cảm giác mức độ.

Kant còn nói đến tính chất “vô tư”, tính chất “tự do” của cảm giác mỹ học. “Vô tư” với ý nghĩa là không lệ thuộc vào sự thoả mãn những nhu cầu xác thịt, “tự do” với ý nghĩa là không lệ thuộc vào sinh kế. Mác cho rằng Milton là một nghệ sĩ chân chính vì ông đã viết bản trường ca Thiên đường mất đi để bán với giá năm đồng bảng Anh.

IV. Cảm giác mỹ học là cảm giác tinh thần (hoặc tâm linh).

Mác gọi thị giác, thính giác là những “giác quan tinh thần”, (khứu giác, vị giác, xúc giác là những giác quan “trần tục”). Một đặc điểm của hai giác quan tinh thần là tách khỏi thực tại mà vẫn quan hệ với thực tại, chẳng hạn, mắt cách xa một ngôi sao hàng chục năm ánh sáng nhưng vẫn nhìn thấy nó (phải chăng đặc điểm chung của “tinh thần” là bứt ra khỏi thực tế mà vẫn liên hệ với thực tế, bứt càng xa bao nhiêu thì càng “tinh thần” bấy nhiêu). Chỉ thị giác, thính giác mới sản sinh ra những ngành nghệ thuật tương ứng (nghệ thuật tạo hình, âm nhạc). Từ đây có thể rút ra một đặc trưng quan trọng của nghệ thuật là: tách khỏi thực tại mà vẫn quan hệ với thực tại

V. Cảm giác học hay mỹ học.

Dịch là mỹ học thì môn học bị hiểu một cách phiến diện: ngoài phạm trù “đẹp, (mỹ) mỹ học còn nghiên cứu những phạm trù mỹ học khác: “bi”, “hài”, “cao cả”.

A. Về cái “bi”: tư tưởng lạc quan là đặc trưng thể loại bản chất nhất của bi kịch. Toàn bộ suy sụp nhưng con người nâng lên, bị thất bại về mọi mặt nhưng thắng được bản thân mình, chết đi để sống lại . . . Đó là ý nghĩa lạc quan sâu sắc của kết thúc bi thảm vở bi kịch Vua Ơdíp. (Xem bài Về một đặc trưng thể loại của bi kịch của Hoàng Ngọc Hiến, tạp chí Văn học, số 1, 1988).

B. Về cái “hài”: để hiểu đặc trưng của cái hài cần phân biệt trào phúng đả kích và trào phúng hài hước. Tiếng cười hài hước chế diễu những thói xấu đáng khinh ghét đồng thời làm dịu đi những tình cảm khinh ghét.

C. Về cái “cao cả ” (sublime): cần phân biệt “cao cả tự nhiên” và “cao cả mỹ học”. Cái vô hạn, cái vĩ đại chỉ tạo ra cái cao cả tự nhiên. Cái cao cả mỹ học được tạo ra bằng sự tương phản với cái hữu hạn, cái nhỏ bé. Trong câu thơ của Tố Hữu về Bác: “Mong manh áo vải hồn muôn trượng” bản thân hình ảnh “hồn muôn trượng” chưa đủ để tạo ra sự cao cả “mỹ học”, phải có sự tương phản với “mong manh áo vải” thì hình ảnh của Bác mới cao cả. Để tạo ra hình ảnh cao cả cầu Brooklin, Maiacốpxki viết:

Như gã nghệ sĩ quèn mê tranh thánh mẫu
Vào viện bảo tàng mắt sắc mải miết nhìn
Tôi đứng đây dưới trời sao lấm tấm
Nhìn New York qua cầu Brooklin

Trong đoạn thơ này hiệu quả mỹ học không phải ở chỗ cầu Brooklin được đối chiếu với tranh thánh mẫu, sự cao cả mỹ học được tạo ra bởi sự tương phản giữa “nghệ sĩ quèn” và “tranh thánh mẫu”

Để tạo ra hình ảnh cao cả của người yêu, Pastemak viết:

Ngày ấy cặp kè không rời em nửa bước
Anh thuộc lòng em cả bàn chân mái tóc
Như kép hát quê thất thểu phố huyện buồn
Ôm vở Sêchpia nhẩm đọc cố thuộc lòng.

Trong đoạn thơ thiên tài này, vấn đề không phải là ở chỗ người yêu được so sánh với Sêchxpiạ, ở đây sự cao cả được tạo ra bởi sự tương phản giữa Sêchxpia và “kép hát quê thất thểu phố huyện buồn”.

VI. Một định nghĩa khác về mỹ học. Mỹ học là sự chủ động của người nghệ sĩ trong sự tính toán gây hiệu quả của tác phẩm nghệ thuật tới sự cảm nhận của công chúng.

Bộc lộ trực tiếp cảm xúc tự nhiên là “tự nhiên nhi nhiên”.

Irony (lối nói mỉa mai) là thủ pháp phổ biến nhất gây hiệu quả: chê để khen, ghét để yêu, giận để thương… Người bình thường ghét thì chửi. Người nghệ sĩ ghét, biết ghìm lại tình cảm này để nói lời mát mẻ. Năng lực biết ghìm lại…, đó là sự chủ động, là bản lĩnh, là tư cách tạo hoá.

Trong hiệu quả mỹ học phải tính đến cảm xúc đối nghịch.

L.S.Vygotski xác định mâu thuẫn của tác phẩm ở cấp độ mỹ học. Trong tác phẩm “Tâm lý học nghệ thuật” của ông, mâu thuẫn này được diễn đạt bằng khái niệm “cảm xúc đối nghịch”. “Cảm xúc đối nghịch” trước hết là một phạm trù tâm lý học cảm thụ nghệ thuật. Đó là phản ứng mỹ học diễn ra ở người cảm thụ tác phẩm nghệ thuật “. . . từ ngụ ngôn đến bi kịch, Vygotski viết, – quy luật phản ứng mỹ học là một, phản ứng đó diễn ra như sau: cảm xúc phát triển theo hai chiều hướng đối nghịch được tiêu huỷ ở điểm kết thúc như là trong một sự chập mạch ngắn . . . “3

Khái niệm “cảm xúc đối nghịch” còn là một phạm trù bản thể luận tác phẩm. Bởi vì bản thân tác phẩm phải được kết cấu như thế nào thì đó thì mới gây được hiệu quả mỹ học như vậy. Có nhiều kết cấu trong tác phẩm gây được hiệu quả “cảm xúc đối nghịch”. Công việc nghiên cứu thi pháp đương chờ đợi những công trình khảo sát và phân loại các kiểu kết cấu nói trên.

Khái niệm “cảm xúc đối nghịch” còn là một phạm trù mỹ học. Nó có liên hệ mật thiết với “catarsis”, một khái niệm hết sức quan trọng của mỹ học cổ điển, “. Mọi tác phẩm nghệ thuật… Vygotski viết, – nhất thiết chứa đựng mâu thuẫn cảm xúc, gây ra những dãy tình cảm đối lập với nhau và đưa chúng tới sự chập mạch ngắn và sự tiêu huỷ. Đấy mới có thể gọi là hiệu quả đích thực của tác phẩm nghệ thuật và ở đây chúng ta đương tiếp cận sát nút khái niệm catarsis…”4

Như vậy, khái niệm “cảm xúc đối nghịch” có một nội dung hết sức phong phú. Tuy nhiên, dù là được xem xét như một phạm trù tâm lý học nghệ thuật, hay mỹ học, hay bản thể luận tác phẩm, khái niệm này trước hết là một phạm trù của phép biện chứng nghệ thuật. Nó đưa người nghiên cứu vào trong lòng của mâu thuẫn và sự vận động mâu thuẫn trong tác phẩm nghệ thuật. Nó chỉ ra mâu thuẫn trong nội dung cảm xúc và kết cấu của tác phẩm, trong “ấn tượng mỹ học” mà tác phẩm gây ra ở người cảm thụ, đặc biệt là trong mối tương quan giữa nội dung và hình thức của tác phẩm. “… Toàn bộ mỹ học truyền thống, – Vygotski viết, – đã chuẩn bị cho chúng ta hiểu nghệ thuật ngược hẳn lại: hình thức minh hoạ, bổ sung, hoà hợp với nội dung và bỗng dưng chúng ta thấy rằng hiểu như vậy là nhầm to, thực ra hình thức vật lộn với nội dung, đấu tranh với nó, khắc phục nó và ý nghĩa tâm lý đích thực của phản ứng mỹ học của chúng ta có khi lại ở mâu thuẫn biện chứng này giữa nội dung và hình thức”5 .Ở ta những giáo trình mỹ học, lí luận văn học ngày càng hoàn thiện, chững chạc hơn, đầy đủ hơn. Duy có tinh thần biện chứng vẫn là thiếu. May chăng khái niệm “cảm xúc đối nghịch” sẽ thổi ít nhiều linh hồn biện chứng vào những giáo trình này.

VII. Nghệ thuật là gì? Khoa học nhận thức sự vật bằng khái niệm. Những khái niệm khoa học phản ánh bản chất của sự vật. Nghệ thuật nhận thức sự vật bằng những hình tượng cụ thể – cảm giác, chúng không có nhiệm vụ phản ánh bản chất của sự vật, chúng tiếp cận tính cách của sự vật. Nghệ thuật tạo ra những hình tượng cốt để minh hoạ những khái niệm (chính trị, triết học, khoa học, . . . ) sẽ tạo ra những hình tượng chính luận.

Có những ngành nghệ thuật phản ánh thực tế như văn học, sân khấu, điện ảnh, hội họa và âm nhạc “chương trình”.

Có những ngành nghệ thuật có tính chất lý tưởng (không làm nhiệm vụ phản ánh thực tế): kiến trúc, mỹ nghệ, hội hoạ và âm nhạc “phi chương trình”.

Thảo luận vấn đề chức năng phản ánh thực tế của văn học nghệ thuật phải tính đến sự phân loại nói trên.

VIII. Một chức năng của nghệ thuật (có thể gọi là chức năng hiện sinh [existentielle]?)

Đó là chức năng thể hiện và thoả mãn những “nhớ tiếc” và “ước mơ” (có khi cũng chỉ là nhớ tiếc) vĩnh cửu của con người.

Ở cõi tục mơ [hay là nhớ?] cõi tiên.

Ở cõi tiên nhớ cõi tục.

Cõi tục là quá trình trưởng thành, va vấp, vật lộn với cuộc đời hiện thực (đời đã làm cho mình nên nông nỗi nào, tự mình đã làm cuộc đời mình ra sao), cũng là quá trình bị tước đoạt, bị ức chế (do đó cảm thấy hẫng hụt, sinh thất vọng)

Mơ ước cõi tiên là một lối thoát, cũng có thể là sự nhớ tiếc cõi tiên.

Nếu cõi tiên là thiên đường thời thơ ấu (có nên kể đến thiên đường khi còn là bào thai nằm trong bầu). Thiên đường với ý nghĩ được chiều chuộng vô tư (không gì vô tư bằng tình cảm của người mẹ đối với con), được sống, hoạt động một cách vô tư, mọi hoạt động mang tính chất vô tư.

Nhớ cõi tiên là nhớ sự vô tư.

Thiên đường bị mất đi có nghĩa là sự vô tư bị mất đi.

Cõi tiên còn là sự lạ hoá để nhìn ra những giá trị, ý nghĩa lớn lao của cõi tục.

Trong tiếng Việt, ý niệm “thơ” được đưa vào “tuổi ngây thơ”, “tuổi ấu thơ”, nhấn mạnh sự gần gũi, sự thân thuộc giữa bản chất của thi ca (nghệ thuật) và bản chất của tuổi ngây thơ bao giờ cũng có tính chất vô tư, có cách nhìn tinh khôi, luôn luôn mới mẻ (chưa bị mòn, bị gò vào khuôn sáo).

Những ngọn roi quất của cõi tục chạm vào những vết thương của thời cõi tiên còn lại trong vô thức và không bao giờ lành. Lên cõi tiên không phải là thoát tục, đó là nhớ lại thời thơ ấu.

Thiên thai của Văn Cao là tác phẩm (duy nhất trong văn nghệ thế giới?) thể hiện đầy đủ và sâu sắc sự đi về của nỗi nhớ vĩnh cửu của con người, ở cõi tiên nhớ cõi tục, ở cõi tục nhớ cõi tiên.

Văn học tôn giáo của châu âu chỉ nói được một chiều: ở cõi tục nhớ cõi tiên.

Tương ứng với sự lấp lánh cõi tục, cõi tiên là sự lấp lánh nghĩa đen, nghĩa bóng.

Trên đường

Tên sách: Trên đường
Tên tác giả: Jack Kerouac
Dịch giả: Cao Nhị
NXB Văn hóa Sài Gòn
Bản quyền: Công ty Cổ phần Văn hóa và truyền thông Nhã Nam
Năm xuất bản: Tháng 9/2008
Số trang: 467
Khổ sách: 14×20,5cm

Lời giới thiệu

Jack Kerouac sinh năm 1922, là con út trong một gia đình người Mỹ gốc Pháp ở Lowell, bang Massachusetts. Thời phổ thông, ông từng học tại các trường công lập và Công giáo, sau đó giành được học bổng của Đại học Columbia thành phố New York. Tại đây ông gặp gỡ Allen Ginsberg và William S. Burroughs. Đến năm thứ hai, ông bỏ học sau một mâu thuẫn với huấn luyện viên đội bóng bầu dục rồi gia nhập hải quân Mỹ, bắt đầu những chuyến ngao du không ngưng nghỉ chiếm hầu hết thời gian đời mình. Tiểu thuyết đầu tiên của ông, The Town and the City, ra mắt từ năm 1950, nhưng phải đến năm 1957 khi Trên đường được xuất bản, người ta mới biết đến ông như một phần của “thế hệ Beat”. Cuốn sách ghi lại những kỷ niệm chu du khắp nơi của ông cùng Neal Cassady này đã đưa tên tuổi Jack Kerouac vào hàng ngũ những nhà văn vĩ đại nhất đương thời. Sau đó, Kerouac xuất bản nhiều cuốn sách khác, trong đó có The Dharma Bums, The SubterraneansBig Sur. Ông coi tác phẩm của mình chỉ là các phần của The Duluoz Legend. “Tất cả các tác phẩm của tôi,” ông nói, “sẽ cấu thành một cuốn sách đồ sộ nhưĐi tìm thời gian đã mất của Proust (…)Trong những năm cuối đời tôi dự định sẽ tập hợp mọi tác phẩm của mình lại, đặt cho kho báu ấy một cái tên đồng nhất, rồi để lại đó cái giá dài đầy sách và thanh thản nhắm mắt.” Năm 1969, Jack Kerouac qua đời ở Florida. Khi ấy ông mới bốn mươi bảy tuổi.

Hiếm có quyển sách nào có được ảnh hưởng sâu sắc đến thế đối với nền văn hóa Mỹ như Trên đường của Jack Kerouac. Hòa theo nhịp đập ngầm trong lòng nước Mỹ thập niên 1940,1950, những nhịp đập của nhạc jazz, sex, ma túy, sự bí ẩn và những hứa hẹn của con đường rộng mở, cuốn tiểu thuyết kinh điển về tự do và khát vọng này đã định nghĩa “Thế hệ Beat”, đồng thời gợi cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhà thơ và những ai vẫn tìm kiếm sự tự do và khát vọng ấy.

Cuộc phiêu lưu xuyên Mỹ của Sal Paradise và Dean Moriarty trong chuyện dựa trên chuyến đi có thật của Jack Kerouac và Neal Cassady. Về thực chất đó chính là hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và sự trải nghiệm đích thực. Được viết bằng sự pha trộn giữa cái nhìn buồn bã ngây thơ với sự phóng túng cuồng nhiệt, giữa tình yêu sâu sắc của Kerouac với nước Mỹ, lòng trắc ẩn của ông với con người và cảm thức về ngôn ngữ, coi nó như nhạc jazz, Trên đường là một điển hình cho cách nhìn Mỹ về tự do và hy vọng, đặc biệt trong bối cảnh “giấc mơ Mỹ” bắt đầu tan vỡ. Với Trên đường, Jack Kerouac bắt đầu phát triển một cách viết mà ông gọi là “Văn xuôi bột phát” ( Spontaneuos prose) với đặc điểm gồm rất nhiều các câu dài, kết cấu hình thức phóng khoáng, được viết ra ngay khi ý tưởng ập đến trong đầu, mang tính cá nhân rất cao. Ngay khi ra đời, cuốn sách đã gây không ít tranh cãi, nhưng bất chấp những tranh cãi đó, Trên đường vẫn được đa số công nhận là một trong những tiểu thuyết vĩ đại nhất thế kỷ hai mươi của nền văn học Mỹ nói riêng và thế giới nói chung.


Nếu như Mặt trời vẫn mọc của Hemingway ở thế kỷ hai mươi được coi như cuốn Kinh Thánh của Thế hệ bỏ đi thì Trên đường của Jack Kerouac cũng đóng vai trò như vậy với Thế hệ Beat. (…) Họ coi những nguy cơ xảy ra chiến tranh, sự trì trệ của hệ thống chính trị, thái độ thù địch cộng đồng là hiển nhiên. Sự giàu có không làm họ ấn tượng. Họ không biết mình đang tìm kiếm nơi nào để nương tựa, nhưng họ vẫn không ngừng tìm kiếm.

Gilbert Millstein, New York Times Book Review

(…) Văn phong xuất sắc (…) Phong cách độc đáo, mãnh liệt mà giản đơn, sắc sảo dến dị thường.

The Atlantic Monthly

Nếu Dean Moriarty và Sal Paradise chưa quá gây ấn tượng trong lần đầu xuất hiện, bạn đừng vội lướt qua cuốn sách từng lọt vào danh sách best-seller của The New York Times, từng được các ngôi sao điện ảnh và ca nhạc bầu chọn trong số các tác phẩm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thế giới.

Xuất hiện với vẻ ngoài xộc xệch và bất cần đời, Dean và Sal giống như những kẻ vô gia cư sống ngoài vòng pháp luật. Tiền nong lúc rủng rỉnh, khi rỗng túi chẳng bao giờ khiến họ ưu tư, thậm chí cả trong cơn bĩ cực phải thó trộm bánh mì hay ngửa tay xin ít xu lẻ để mua vé xe buýt. Họ ngủ ở bất cứ nơi nào trên đường, ở một thảm cỏ ngoài trạm xăng, trên đường, trên nóc xe với xác của cả đám côn trùng máu me be bét. Họ lái xe như những hung thần xa lộ với “kỷ lục” đi 1.180 dặm trong 17 tiếng đồng hồ – chỉ một tay lái là Dean. Họ có chung những ước muốn: được đi ngang dọc nước Mỹ, được quậy thâu đêm tại một quán rượu, được cởi trần truồng ngồi trên xe cứ thế rú ga tăng tốc, được tán tỉnh những cô nàng ngon lành. Họ có cách xử sự ngớ ngẩn, kẻ suốt đời đi đập phá – theo con mắt từ bên ngoài nhìn vào.

Khi cuốn theo hành trình của hai gã cao bồi này, độc giả sẽ mau chóng bị “lây” hơi thở dồn nén có phần kích động của họ. Cuộc đời hiện ra trước mắt giống như một con đường. Những gì sau lưng, đơn giản là một khoảng tính bằng dặm và độ dốc. Họ là những người đang tiến gần với tự do, và họ hạnh phúc khi đắm chìm trong dòng chảy của vận tốc, của những địa danh, của biết bao trải nghiệm lần lượt được mở ra khám phá.

Với 3 phần và các chương sách có độ ngắn, dài tùy thuộc vào nơi họ dừng chân hoặc một người nào đó họ bắt gặp, từng có ý kiến cho rằng Trên đường được viết bằng tốc độ gõ máy tính của Jack Kerouac. Tuy nhiên, đó chính là màu sắc riêng trong phong cách văn chương của nhà văn Mỹ này. Cuốn sách có cấu trúc lỏng lẻo, mang tính tự thuật khi phản ánh một cuộc đời phiêu bạt của những người trẻ tuổi như Sal, Dean, Marylou, Slim… Chính thứ văn xuôi phóng khoáng và bất tuân quy ước này đã phả một bầu nhựa sống dào dạt trong suốt mấy trăm trang sách, trải dài với những khúc khuỷu, gồ ghề của một cuộc hành trình đầy lý thú.

Phải có một lý do nào đó khiến Trên đường và tên tuổi của Jack Kerouac trở nên nổi tiếng? Phía sau những chuyến đi dường như không ngưng nghỉ, phía sau những trò quậy phá, hút ma túy, tìm đến nhà thổ giải khuây, phía sau những cuộc tình ào ạt, phía sau cái vẻ hồn nhiên, vô tư lự của Dean, của Sal – là một sự vỡ mộng sâu xa đối với xã hội, mà họ chỉ có thể xoa dịu nhờ sự dịch chuyển này.

Dean vốn là con trai của một trong những gã lang thang say xỉn nhất ở phố Larimer, từng phải ngửa tay ăn xin để cho bố uống rượu. Sal, một người da trắng vỡ mộng đang chán chường sau những thất vọng cả trong hôn nhân và trong sự nghiệp văn chương, anh đã nói với bạn: “Tôi nắm mọi thứ trong tay như nắm cục cứt, không biết đặt nó xuống đâu”. Với những chuyến đi lang thang khắp nước Mỹ, họ đã gạt bỏ những gì là đơn điệu tẻ ngắt, để cảm nhận về cuộc đời sâu xa hơn trong những gì đang tồn tại, và cho dù không biết mình đang tìm kiếm nơi nào để nương tựa, họ vẫn không ngừng tìm kiếm…

Cuộc phiêu lưu xuyên Mỹ của Sal và Dean trong truyện được dựa trên câu chuyện có thật của Jack Kerouac và Neal Cassady. Về thực chất, đó chính là hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và sự trải nghiệm đích thực. Nhiều chi tiết trong tiểu thuyết này là có thật, chẳng hạn việc hai nhân vật chính bị cảnh sát dừng xe, sau đó tống giam, do họ không có tiền và trông giống tội phạm; bản thân Jack Kerouac thực hiện những chuyến ngao du chiếm hầu hết thời gian đời mình. Với tác phẩm Trên đường này, Kerouac được coi là thủ lĩnh của nhóm nghệ sĩ “thế hệ Beat”, thuật ngữ do chính ông đặt ra để gọi một phong trào xã hội và văn chương Mỹ trong thập niên 1950.

Cho dù gây ra không ít tranh cãi về cuốn tiểu thuyết, nhưng Jack Kerouac đã tìm thấy vị trí của mình ở Trên đường (1957) – một cuốn sách về cách sống cuộc đời này.

Phúc Yên

Tự nhiên như người Hà Nội

Chẳng rõ có phải vì mang thân là thủ đô tập quyền về đủ mọi mặt từ xưa đến nay (những đứt quãng không nhiều so với toàn cục) mà Hà Nội mặc nhiên được coi như là khuôn vàng thước ngọc cho các giá trị, nhất là văn hoá của đất nước. Cô gái đẹp thì ai cũng đồng ý là đẹp, nhưng được bầu làm hoa hậu thì khốn khổ, sẽ có ngay ý kiến bình luận liệu cô ấy có xứng đáng chưa, hoa hậu thì phải trả lời ứng xử tốt nữa…

Anh (chị) có yêu Hà Nội không? Anh chị quê không phải là Hà Nội? Anh chị có muốn làm người thành phố, hộ khẩu chính thức Thủ đô? Bấy nhiêu câu hỏi đó dễ có câu trả lời đồng ý nhất. Còn gì hay bằng một “chiều thu Hồ Tây, mặt nước vàng lay”, tự hào là dân Hà Nội chính cống, hộ khẩu thường trú tại phường X, quận Hoàn Kiếm hay Ba Đình (tức là những quận nội thành có những khu dân cư chính cống từ thời Pháp)… dạo bước thong dong và lơ đãng nhìn đám người còn lại chắc chắn sẽ có kẻ “nhà quê” hơn mình.

Nhưng hỏi tiếp: Anh chị “Hà Nội cỡ nào”? Nhưng Hà Nội nghĩa là sao, là “thanh lịch”. Cắt nghĩa đi… Bây giờ ngồi nói chuyện “thanh lịch”, người già lại chép miệng “Ở Hà Nội ngày xưa, người ta đàn bà ra đường bao giờ cũng mặc áo dài hoặc áo cánh nghiêm chỉnh, các ông toàn đóng bộ hoặc sơ-vin… “. Các cụ nói cứ như chuyện trên Sao Hoả. Hà Nội là đây chứ đâu, mà đã hoá ra một thế giới khác, đầy ô trọc và phản phúc? Với tất cả, Hà Nội nghĩa là: đối lập với nhà quê, là trật tự, là ngăn nắp, là tinh tế, là lịch sự, là những gì tốt đẹp…

Người Hà Nội đi đến đâu cũng thành ra “đại sứ văn hoá” và những bà con ngoại tỉnh chân đất mắt toét trông vào đó mà bảo “Hà Nội là thế đấy”. Nhưng cũng như hoa hậu, cũng có lúc bị “thủng phông văn hoá” hay “ứng xử hụt hơi”, thì trước trường hợp kết quả xấu, người ta phản ứng theo các cách:

– Người Hà Nội họ sống khó khăn lắm (nghĩa là không phải sống khổ sở mà kiểu khó chơi), mình “kính nhi viễn chi” thôi.
– Hoặc: Người Hà Nội bây giờ cư xử cho ra sao, không như ngày xưa. Nhưng “ngày xưa” nào: thời bao cấp tem phiếu đi vắng nhờ hàng xóm giữ chìa khoá nhà hộ? Thời “tiền chiến” lãng mạn tóc thề thả gió lê thê? Hay thời toàn quốc kháng chiến “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”?
– Lãng mạn vẫn còn thì tự nhủ: “Chắc họ không phải người Hà Nội gốc, người Hà Nội thì khác”…

Được đề cao như thế, thu hút tinh hoa bốn phương về, nết ăn nết ở hun đúc và qua cọ xát hình thành nên tâm tính lối sống của riêng đất này; người ta sẽ hỏi: Người Hà Nội có những “đức tính” gì và nếu có nhiều thì đức tính nào là nổi trội nhất, là tiêu biểu cho một giá trị đạo đức tinh thần bất biến qua suốt chiều dài lịch sử cho dù tang thương dâu bể?

Địa chí xưa của các cụ nói về các vùng đất khá nhiều, có cả những lời bình luận về con người địa phương ấy, nhưng trong thời thịnh trị của phong kiến Đại Việt, phong cách sống của kinh kỳ hình như mờ nhạt so với các vùng Kinh Bắc hay châu Hoan, châu Ái chẳng hạn. Nhưng khi nền kinh tế công thương nghiệp tự do manh nha cùng những biến động của các triều đại sau khi triều Lê sơ suy thoái, Thăng Long được mô tả như là một mảnh đất lắm dị nhân, hào kiệt đổ về, hôm nay ông võ sĩ Mạc Đăng Dung đã trở thành vua, một ông chúa Chổm quỵt tiền hàng phố thoắt thành vua Lê, ngày mai lại có bà chúa Chè khuynh đảo cả đời sống kinh kỳ dù chỉ ở quanh quẩn trong phủ Chúa… Hay những mưu chước lường gạt thị thành kiểu mua voi giấy của Trạng Quỳnh (chuyện cười dân gian: Trạng Quỳnh chọc phá dân hàng Mã, đặt làm đàn voi giấy to bằng voi thật, gặp phải ngày mưa đi tong cả chì lẫn chài), bà “quận chúa” dỏm cho người hầu mua vàng phố hàng Bạc qua tuỳ bút của Phạm Đình Hổ (một đám người hầu khiêng cái kiệu che kín rất đẹp, vào hàng hỏi mua vàng bạc, bảo bà quận sẽ ngồi trong kiệu chờ để hầu mang đồ về hỏi nhà có ưng sẽ quay lại trả tiền, một lúc lâu thì tất cả đám hầu khiêng kiệu biến mất, nhà hàng ra lật rèm kiệu thì chỉ thấy một bà lào ăn mày mù) . Hải Thượng Lãn Ông ra kinh đô chữa bệnh cho ấu chúa hôm trước hôm sau đó có ùn ùn tao nhân mặc khách đến xin hoạ thơ và nhờ xem thơ kết hợp khám bệnh.

Dễ thấy là khi lấy Thăng Long làm trung tâm chính trị để thiết triều định đô, các triều đại luôn làm đúng bài bản để thu phục nhân tâm, nhưng vẫn thiết lập hành cung hay phiên bản kinh đô tại quê quán để làm “đất căn bản” và lỡ có biến thì “tính kế lâu dài cho con cháu: hương Cổ Pháp, phủ Trường Yên, Lam Kinh…

Thậm chí có lúc kinh đô không còn là duy nhất Thăng Long nữa: Hồ Quý Ly bỏ Đông Đô về An Tôn (Thanh Hoá) quê hương để có thành Tây Đô; khi bị nhà Mạc đuổi khỏi Thăng Long, nhà Lê chấp nhận thiết triều quanh quẩn đất Thanh Hoá “quê choa”: Vạn Lại, Yên Trường, Biện Thượng; nhà Mạc có lúc đã định lập Dương Kinh ở đất Cổ Trai (Hải Dương) cũng là xuất xứ của mình. Khi Quang Trung lên ngôi hoàng đế, triều Tây Sơn đóng đô ở Phú Xuân, khi ông mất vẫn dặn tướng tâm phúc Trần Quang Diệu phò ấu vương Quang Toản dời đô về Phượng Hoàng Trung Đô, tức thành Vinh, Nghệ An chứ không chọn Thăng Long. Sau đó triều Nguyễn chọn Huế làm kinh đô như ta đã biết. Thăng Long rồng bay thành Thăng Long thịnh vượng (theo giải thích của sách vở thì “Long” khi này chỉ còn là “thịnh” chứ không còn là “rồng” để chỉ đế vương) rồi chỉ còn là Bắc Thành Hà Nội. Thăng Long không phải là “phi chiến địa” và cũng không bền vững cho mọi triều đại phong kiến.

Có vẻ như hun đúc nên đặc trưng tinh thần của Thăng Long không phải và cũng không thể là công lao của riêng một triều đại nào, họ tranh hùng xưng bá vào để lại rất nhiều dang dở vua sau hạ vua trước, phá sạch những Cửu Trùng Đài, vua trả thù chúa đốt trụi phủ đệ, “chính thống” đập bỏ những gì của “ngụy triều” để lại… Nhưng những ngóc ngách tâm tưởng đời sống đô thị âm ỉ trong những hội văn thân, những hội nghĩa thục, mà ta gọi là học phong sĩ khí, có một ảnh hưởng đến lối sống người Hà Nội. Có thể cái tâm thế “sĩ phu Bắc Hà” sinh ra từ bất mãn hay “nỗi niềm kim cổ nghĩ mà đau” (Bà Huyện Thanh Quan) khi mất đi vai trò quyền lực, vai trò ảnh hưởng như trước khi được “gần trung ương”… nay chỉ còn là đô thị cấp tỉnh thành, tiếng nói thì xa, lại bị triều vua mới giữ thái độ dè chừng. Một ông Phạm đình Hổ dù ăn lộc nhà Nguyễn nhưng vẫn cứ mỗi chốc viết lách lại nhắc chuyện ngày xưa “trước khi vạc đổi”, một ông Nguyễn Du cảm thương cho một thân phận kỹ nữ già đàn hát thời vang bóng Trung hưng, một bà huyện Thanh Quan hễ có thơ là có hoài cổ “tạo hoá gây chi cuộc hí trường”, một ông Cao Bá Quát còn tham gia khởi nghĩa chống lại cả triều đình để rồi rơi đầu… Một không khí bất hợp tác cũng như tư tưởng phép vua thua lệ làng, truyền từ các ông nghè, cụ cử… đến đám dân chúng bình dân. Liên hệ thì có vẻ khập khiễng nhưng khi được thì có những phản ứng được ghi chép lại sau những “tháng tám có chiếu vua ra” thì ta thấy nay cũng có phần lời ong tiếng ve mỗi khi rậm rịch có một nghị quyết được “đưa vào cuộc sống”…

Có thể không ngã ngũ, nhưng có lẽ phần nào một vài nét đặc trưng tính cách Hà Nội sinh ra từ những biến động thời cuộc. Những nhân vật từ các nơi về đây và cách họ ứng xử với những dâu bể đã tạo nên đặc trưng lâu dài cho người Hà Nội. Có điều, khi Hà Nội trở thành một ao làng, khép kín và quẩn quanh thì những tinh hoa hồi nào, nhũng cá tính lề thói lại có vẻ như trì hãm và lạc hậu. Quán nước vỉa hè không còn nhiều nhưng mỗi người lại tiếp tục cầm trong tay ấm trà bước vào hành lang “lốp-bi”. Chủ trương được nghiên cứu và đưa xuống “cơ sở”, người thừa hành có lẽ cũng phải lo đối phó cho triển khai thuận lợi, qua được báo chí và các cơ quan ngôn luận lắm điều, lại phải chiều được cả nam phụ lão ấu, dân chủ tuyệt vời.
Hà Nội đồng thời có hai khuôn mặt văn phòng máy lạnh vi tính và mặt phố vỉa hè. Ở bầu thì tròn, sống 40 giờ một tuần máy lạnh thì rất lịch sự như Tây, nhưng 128 giờ ở nhà, ngoài đường và ôi chơi thì “chan hoà” với cộng đồng… Không ít người coi tiện nghi phòng ốc là boong-ke để bỏ lại sau lưng những ồn ã bụi bặm, họ xả rác tự nhiên và đi lại loạn xạ ở ngoài đường nhưng họ nhất tề khép nép vệ sinh trong những block công nghiệp.

Hà Nội tiên tiến văn minh hay Hà Nội “nông dân” và thô lậu? Và cũng không hiểu sao người ta, vốn 10 người thì 9 xuất thân từ cây lúa đi lên, lại quay ra khinh bỏ gốc gác, những gì chậm tiến và kém cỏi đều đổ lỗi cho chuyện “nước ta là một nước nông nghiệp và có 85% dân số ở nông thôn”… đem cái từ chỉ thành phần nghề nghiệp ra để định nghĩa cho cái hạn chế: “Sao mày nông dân quá?” Nông dân ta chẳng lẽ lại tệ hại đến thế khi đóng góp cho quỹ dự trữ quốc gia đều đều và xuất khẩu gạo “ngang tầm nhất nhì thế giới”, ông nông dân Việt Nam không lẽ lại không ra gì so với tay chăn bò miền Tây Hoa Kỳ?

Gần chùa gọi bụt bằng anh, bây giờ nếu bảo thanh lịch văn minh phải được “phổ cập” thì chắc mọi người sẽ sợ là mình sống quen với cái quá độ, cái lâm thời lâu quá, lúc nào cũng để dành đến ngày mai sẽ “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, bây giờ ra cái điều “thanh lịch” có giống như một thứ trưởng giả rởm đời, gảy gót và “cắn cái giá đỗ làm đôi”? Làm sao như bà Vân Đài những năm 50-60 còn viết được sách dạy thế nào là thanh lịch? Với người già, họ quan tâm đến phép tắc kỷ cương và cũng cho là thanh lịch cũng nằm trong đó. Với cánh trẻ, tiêu chuẩn “sành điệu” nghe có lý và hợp thời hơn cái thanh lịch không đo đếm được. Tuân thủ kỷ cương, hiếu học, tôn sư trọng đạo… đâu phải là ở Hà Nội mới có, dân Nghệ-Tĩnh hay các tỉnh có “nòi thư hương” khác còn ghê răng hơn nhiều. Sành điệu, biết ăn chơi cho ra dáng, Sài Gòn bằng mấy Hà Nội, gần đây, Hải Phòng, Quảng Ninh càng khét lẹt… Trong cơ quan, có một người Hà Nội chẳng hạn, nói năng lễ phép, thưa gửi chào hỏi đầy đủ, đi lại đúng quy định, sống nhẹ nhàng, ăn mặc đâu ra đấy, tóm lại là hết chỗ phê bình, thì những người còn lại thấy sao mà mệt, mình đang thoải mái quen, đang sống bỗ bã một chút, cho phép mình luộm thuộm tí ti tự nhiên ở đâu ra cái người kia cứ làm ta phải động lòng và làm cái mầm xấu hổ trong bụng nảy lên nhoi nhói! Thì cái người “kiểu mẫu” kia không ai dám chơi thân, không có người hưởng ứng, sớm muộn cũng bị stress hay là thấy mình như đánh cối xay gió. Người Hà Nội trong môi trường của mình, phải thực tế và sòng phẳng, có khi đến riết róng nghiệt ngã, khinh người khác đến độ người ta phải sợ “người Hà Nội cứ ang ác thế nào”…

Ở đâu ra câu “Tự nhiên như người Hà Nội” vậy? Nghĩa A: về nhà quê ăn cỗ, các cụ cứ khách khí giữ kẽ, thì người nhà nhắc khéo “Cháu mời các cụ xơi, ta cứ tự nhiên như người Hà Nội ấy ạ”. Nghĩa B: Tự nhiên như ruồi.

Hà Nội trong mắt ai, Hà Nội ngày xưa đẹp, Hà Nội có những cô gái áo tân thời xinh xinh, Hà Nội thành phố thuộc địa hợp gu hội hoạ ấn tượng Đông Dương và tân nhạc. Hà Nội thời đạn bom đầy hào hùng, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh mùa đông năm 1946, hay Hà Nội ngẩng cao đầu đòi “Nixon trả nợ máu” tháng chạp 1972. Hà Nội ngày nay có còn đẹp không, hình như ai có quan tâm đến cũng đặt một câu hỏi như thế. Nghĩa là chúng ta chưa bằng lòng với thực tế đang diễn ra. Níu kéo về một cảnh tượng tất cả phụ nữ ra đường mặc áo dài, đàn ông mặc âu phục cà vạt, chỉnh tề như hình dung sót lại về thời trước là không tưởng, mà cũng không thể sống kiểu “ở Thủ đô mà dạ để mười phương”, tình yêu của người đang sống với Hà Nội mai một, công thức và lơ lửng như vài câu hát trong đêm nhạc về Hà Nội. Có khách đến nhà, sung sướng nhất là đãi khách món ngon mình có và được nghe lời khen về căn nhà đẹp, chủ nhân lịch sự… thì cũng vậy, chúng ta cho khách phương xa thấy vẻ đẹp của thành phố và nhất là niềm tự hào của chính mình về nơi này, ở đây cụ thể là Hà Nội. Những cố gắng định lượng định tính vẻ đẹp lối sống cho quần chúng của các nhà chức trách càng có vẻ trở nên xa hơn khỏi tầm tay, khi môi trường sống không chứng minh được ưu thế của “thanh lịch” hay “văn minh”. Tuy thế, chúng ta lại càng day dứt và hoài cổ về những đặc trưng đã trở nên quý hiếm và mơ hồ ấy. Dù sao đi nữa, đó dường như vẫn là cái neo để mỗi chúng ta bám lấy cũng như hy vọng khi nghĩ về Hà Nội.

Tư duy kinh nghiệm và vai trò của nó trong hoạt động thực tiễn

Bài viết góp phần làm rõ thêm tư duy kinh nghiệm và vai trò của nó trong hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan của con người. Theo tác giả, tư duy kinh nghiệm có những giá trị, ưu thế nhất định, song cũng có những hạn chế mà tự nó không thể vượt qua. Do đó, để phát huy vai trò của tư duy kinh nghiệm, cần phải đặt nó trong một liên hệ thống nhất với tư duy lý luận, bởi chỉ có tư duy lý luận mới khắc phục được tính chất phiến diện, hạn hẹp của tư duy kinh nghiệm.

Tư duy kinh nghiệm là một giai đoạn tất yếu của nhận thức lý tính, nó có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Ở nước ta, khi nói đến tư duy kinh nghiệm, không ít người thường chỉ đề cập đến những hạn chế, mà không thấy được những ưu điểm của nó. Vì vậy, việc đánh giá đúng vai trò, vị trí của tư duy kinh nghiệm để có thể phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của nó là việc làm cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu cố gắng làm rõ vai trò của tư duy kinh nghiệm đối với hoạt động thực tiễn trong thời kỳ đổi mới và hội nhập của nước ta hiện nay.

Tư duy kinh nghiệm là một giai đoạn của nhận thức lý tính, mà trong đó người ta rút ra những tri thức về sự vật, hiện tượng khách quan, chủ yếu, thông qua con đường khái quát, quy nạp những tài liệu kinh nghiệm. Tư duy kinh nghiệm được hình thành một cách trực tiếp trong quá trình hoạt động thực tiễn của chủ thể nhằm mục đích cải biến khách thể. Nó thường phản ánh những thuộc tính, tính chất của các đối tượng có tác động trực tiếp tới chủ thể. Đối tượng phản ánh của nó là những thuộc tính, tính chất của khách thể hiện thực; ngược lại, đối tượng của tư duy lý luận là những khách thể trừu tượng. Sự khác nhau về mặt đối tượng được xem là dấu hiệu căn bản để phân biệt hai giai đoạn kinh nghiệm và lý luận trong nhận thức.

Là những cấp độ khác nhau của cùng một quá trình nhận thức lý tính, nhưng tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận không đối lập, tách rời nhau mà thống nhất với nhau qua hoạt động thực tiễn V.I Lênin đã từng khẳng định: “Muốn hiểu biết thì phải bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu từ kinh nghiệm, từ kinh nghiệm mà đi đến cái chung”(1).

Ở nước ta, một số công trình nghiên cứu đã đồng nhất tư duy kinh nghiệm với nhận thức cảm tính; hoặc chỉ coi “tư duy kinh nghiệm là thứ tư duy tiền khoa học“(2). Quan niệm đó đã dẫn đến việc tuyệt đối hóa vai trò của tư duy lý luận; coi thường tư duy kinh nghiệm. Thực chất, tư duy kinh nghiệm là giai đoạn tất yếu của nhận thức lý tính. Do vậy, nó cũng có khả năng phát hiện các quy luật và định hướng hoạt động thực tiễn của con người, chứ không chỉ tư duy lý luận mới có thể làm được việc này. Vai trò của tư duy kinh nghiệm đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn kém hơn tư duy lý luận, nhưng không vì thế mà chúng ta có thể tuyệt đối hóa vai trò của tư duy lý luận, hoặc xem nhẹ vai trò của tư duy kinh nghiệm.

Tư duy kinh nghiệm hướng tới giải quyết những nhiệm vụ trước mắt, cụ thể đang đặt ra; phát hiện và giải quyết vấn đề một cách trực tiếp. Nhờ đặc tính trực tiếp phản ánh hiện thực khách quan, nên tư duy kinh nghiệm rất mềm dẻo, linh hoạt, năng động và nhạy cảm trước thực tiễn, dễ thích nghi với những thay đổi của thực tiễn. Hơn nữa, tư duy kinh nghiệm ẩn chứa khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách nhạy bén. Chúng ta có thể thấy rất rõ vai trò của tư duy kinh nghiệm trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Ngày nay, dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn chỉ đạo sản xuất, các cán bộ ở cơ sở đã phát hiện ra những điểm bất hợp lý trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp, từ đó họ đã thực hiện “khoán chui”. Nhờ những phát hiện đó mà Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời bổ sung và điều chỉnh chính sách: xây dựng và thực hiện chính sách “khoán 100”, “khoán 10″… Kết quả là từ một nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã tự đảm bảo an ninh lương thực và hơn thế, trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Theo đó, có thể nói, ở một mức độ nào đó, tư duy kinh nghiệm cũng cung cấp tiền đề lý luận – thực tiễn đầu tiên cho việc hoạch định chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng ta.

Hoạt động lao động sản xuất và quản lý xã hội của con người là một thực tiễn vô cùng sinh động và đa dạng. Các hoạt động đó luôn đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ, tình huống cần phải giải quyết. Tư duy kinh nghiệm giúp con người vận dụng những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong quá trình nhận thức trước đó để giải quyết một cách khá hiệu quả nhiều vấn đề mới phát sinh, nhiều nhiệm vụ trước mắt, cụ thể do thực tiễn đặt ra. Thực tế cho thấy, những người thợ có nhiều kinh nghiệm có khả năng phán đoán tình huống nhanh chóng, chính xác và đưa ra giải pháp rất hiệu quả trong lĩnh vực làm việc của họ. Nhờ bám sát thực tiễn, nên những giải pháp mà tư duy kinh nghiệm đưa ra dễ phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Những tri thức kinh nghiệm có thể được cảm nhận, thấu hiểu thông qua khả năng quan sát kiểm tra trực tiếp nên dễ dàng áp dụng vào thực tiễn. Về điểm này, C.Mác cũng đã thừa nhận rằng, kinh tế chính trị thông thường tiện lợi hơn nhiều trong giao dịch hàng hóa thường ngày, điều đó có nghĩa là tư duy kinh nghiệm có vai trò quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người. Cũng chính nhờ bám sát thực tiễn, tư duy kinh nghiệm đã đưa ra được nhiều giải pháp tối ưu cho việc phát triển sản xuất. Ở nước ta, nhiều nông dân ra nghiên cứu và sáng chế ra các máy nông cụ rất hiệu quả, như máy gặt đập liên hợp, máy gieo hạt, máy bóc ngô, máy thái hành, máy đào ao… dựa trên những kinh nghiệm của họ trong thực tiễn sản xuất. Có thể nói, tư duy kinh nghiệm có một vai trò rất lớn trong hoạt động thực tiễn của con người.

Tính trực tiếp của tư duy kinh nghiệm cũng góp phần loại bỏ những giải pháp không phù hợp mà tư duy lý luận đưa ra. Bởi vì, giữa lý luận và thực tiễn vẫn còn là một khoảng cách, tư duy kinh nghiệm là nhịp cầu nối quan trọng giữa tư duy lý luận và thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn. Tư duy lý luận có khoảng cách rất xa thực tiễn nên nhiều khi các phương án giải quyết vấn đề của tư duy lý luận thiếu tính đặc thù, nghĩa là thiếu sự phù hợp giữa khách thể trừu tượng, chung với khách thể hiện thực cụ thể. Do vậy, tư duy lý luận có thể dẫn đến những giải pháp không phù hợp để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Việc trong một thời gian dài, chúng ta quan niệm cần phải phát triển quan hệ sản xuất trước một bước nhằm tạo điều kiện, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến kết quả ngược lại, là một ví dụ. V.I.Lênin đã từng cho rằng, mọi sự trừu tượng (đúng đắn, nghiêm túc, không tùy tiện) phản ánh giới tự nhiên chính xác hơn, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Vậy nếu nó sai? Chắc chắn nó sẽ không đưa ra được những giải pháp phù hợp với thực tiễn và khi đó, tư duy kinh nghiệm sẽ đóng vai trò phát hiện ra những sai sót đó.

Hiện nay, do tư duy lý luận ở nước ta còn nhiều yếu tố giáo điều, tư biện, nên chưa đưa ra được giải pháp phù hợp trong việc giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra một cách hiệu quả. Ví dụ, việc quy hoạch mạng lưới giao thông ở các thành phố lớn, các chiến lược giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, một số chương trình phát triển kinh tế… Về vấn đề này, tác giả Ngô Đình Xây đã viết: “Kiểu tư duy lý luận một cực là sách vở giáo điều và cực kia là thực tiễn vụn vặt là nét nổi bật thứ ba trong tư duy lý luận và cũng là của tư duy lý luận ở nước ta hiện nay. Khi lý tưởng hóa đi đến tuyệt đối hóa chức năng trừu tượng, tuyệt đối hóa khía cạnh lý thuyết thuần tuý tư duy lý luận đã bỏ rơi nguyên tắc: sức mạnh có thể có ở lý luận là ở chỗ nó gắn liền với thực tiễn và khi tư duy lý luận đã quên mất nguyên tắc đó, nó chỉ có thể tạo dựng những lý thuyết trừu tượng cách biệt quá lớn với thực tiễn, và như vậy nó giúp ích được gì cho thực tiễn?”(3). Chính vì vậy nếu kết hợp tư duy lý luận và tư duy kinh nghiệm một cách hợp lý thì chắc chắn chúng ta sẽ đưa ra được những giải pháp phù hợp hơn với thực tiễn.

Tư duy kinh nghiệm còn đóng vai trò kết nối giữa lý luận và thực tiễn, thu hẹp khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn. Trong mối quan hệ với tư duy lý luận, tư duy kinh nghiệm không những là cơ sở, tiền đề cho tư duy lý luận, mà còn đóng vai trò trung gian để lý luận thực hiện có hiệu quả vai trò định hướng và chỉ đạo thực tiễn. Lý luận không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng. Những tri thức khoa học có mức độ trừu tượng hóa và khái quát hóa rất cao, nhưng trong thực tiễn hầu như hoàn toàn không có những khách thể trừu tượng như vậy. Do vậy, giữa lý luận và thực tiễn vẫn còn là một khoảng cách, khoảng cách này có thể được lấp đầy nhờ tư duy kinh nghiệm. Mặt khác, do tính chất trừu tượng chung của những khách thể của tư duy lý luận, những khái quát về mặt lý luận là những nguyên lý chung chưa chú ý tới tính đặc thù; cho nên, để tri thức lý luận chung đó phù hợp với thực tiễn sống động, cụ thể, nghĩa là việc áp dụng những tri thức khoa học vào thực tiễn cần phải có sự tham gia của kinh nghiệm, tư duy kinh nghiệm. Để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra một cách có hiệu quả đòi hỏi không những phải có tri thức khoa học, phương pháp, mà còn phải có sự nhạy cảm nghề nghiệp, đó là sự mẫn cảm được tạo nên qua trải nghiệm thực tiễn. Ở đây, tư duy kinh nghiệm giữ vai trò cầu nối giữa lý luận và thực tiễn.

Ngoài chức năng tiếp nhận, cung cấp những dữ liệu của đối tượng nhận thức làm tiền đề cho tư duy lý luận khái quát hóa và hệ thống hóa, tư duy kinh nghiệm còn tham gia vào quá trình hiện thực hóa các kết quả nhận thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực của con người.

Lý luận, các chủ trương, chính sách không ra đời một cách trực tiếp mà là kết quả của những sự trừu tượng khoa học dựa trên cơ sở thực tiễn. Vì vậy, việc tổng kết thực tiễn nhằm bổ sung cho lý luận là hết sức cần thiết. Nó giúp người ta tránh khỏi sa vào giáo điều, duy ý chí. Tổng kết thực tiễn góp phần rất lớn vào việc thu hẹp khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn, tránh được tính chất giáo điều của lý luận trong chỉ đạo thực tiễn, lý luận suông hoặc lạc hậu so với thực tiễn. Tư duy kinh nghiệm cũng góp phần loại bỏ những điểm chưa phù hợp giữa lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, nếu chỉ chú ý đến thực tiễn mà xa rời lý luận sẽ dễ rơi vào tình trạng mò mẫm, rập khuôn, kinh nghiệm chủ nghĩa. “Tổng kết thực tiễn là phương pháp căn bản trong hoạt động lý luận, là một phương pháp căn bản để khắc phục chủ nghĩa giáo điều và cả chủ nghĩa kinh nghiệm, để thực hiện sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên. Không có thực tiễn và kinh nghiệm thực tiễn thì không có lý luận”(4).

Trong quá trình đổi mới hiện nay, việc triển khai những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống có vai trò rất quan trọng của tư duy kinh nghiệm. Để những chủ trương ấy thực sự thấm nhuần và mang hơi thở của cuộc sống thì đối với mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi công việc, mỗi con người cụ thể cần có sự vận dụng một cách hết sức sáng tạo linh hoạt. Chính thực tiễn phong phú và sinh động ấy sẽ kiểm chứng và trở thành thước đo giá trị của mỗi chính sách của Đảng, chỉ ra những bất cập, những tình huống mà lý luận chưa bao quát hết. Điều đó đòi hỏi những lý luận, những chủ trương, chính sách của Đảng phải luôn đổi mới, bổ sung và điều chỉnh để có thể định hướng cho hoạt động thực tiễn theo những quy luật phát triển khách quan của nó. Trải qua hơn hai mươi năm tiến hành đổi mới, sự phát triển, bổ sung lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng qua các kỳ đại hội đã khẳng định rằng, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn là nhiệm vụ hết sức quan trọng, là cơ sở khoa học để đẩy mạnh đổi mới tư duy lý luận của Đảng.

Trong việc đưa lý luận vào thực tiễn và tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, tư duy kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng. Một mặt, tư duy kinh nghiệm tham gia cụ thể hóa lý luận để nó thực hiện vai trò chỉ đạo thực tiễn. Sự cụ thể hóa lý luận cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở các địa phương là một công việc có ý nghĩa vô cùng cần thiết đối với việc phát triển kinh tế – xã hội ở những địa phương đó. Có thể nói, ở đây tư duy kinh nghiệm đóng vai trò là nhịp cầu nối quan trọng để các chính sách, đường lối, chủ trương đi vào thực tiễn một cách hiệu quả. Cùng một chính sách như nhau, nhưng địa phương nào biết vận dụng những chủ trương, chính sách một cách phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương mình thì thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư kinh tế – xã hội phát triển.

Mặt khác, khoa học hiện đại, kinh tế học đã chỉ ra rằng, “đặc điểm của nền kinh tế trong thời đại ngày nay là những hệ thống cực kỳ phức tạp, bao gồm một số rất lớn thành phần vận động không theo các quy luật tuyến tính, và tương tác với nhau trong một toàn thể khó có thể nhận thức qua con đường phân tích”(5). Các yếu tố trong nền kinh tế hiện đại vận động hết sức phức tạp nên dù ở trình độ tư duy lý luận cũng khó có khả năng dự đoán chính xác được tương lai của chúng. Chính vì vậy, việc phát huy tính trực tiếp và sáng tạo của tư duy kinh nghiệm nhằm phát hiện kịp thời và giải quyết các vấn đề mới phát sinh sẽ góp phần mang lại những hiệu quả thiết thực trong hoạt động thực tiễn. Qua quá trình phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, tư duy kinh nghiệm là nấc thang tất yếu và không thể thiếu của tư duy trong quá trình nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn cải biến thế giới khách quan của con người.

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, bên cạnh những ưu điểm, tư duy kinh nghiệm cũng còn có những mặt hạn chế nhất định. Trong quá trình phát triển và hội nhập hiện nay, nếu chúng ta không khắc phục một cách kịp thời những tác động tiêu cực đó, thì chúng sẽ gây ra nhiều hậu quả hết sức tai hại.

Do được hình thành trực tiếp trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới khách quan, nên tư duy kinh nghiệm vẫn mang tính tự phát trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn đặt ra. Tính tự phát làm cho tư duy kinh nghiệm không có tầm chiến lược, không tiếp cận được vấn đề ở tầm nguyên lý, nên thường dẫn đến cách nghĩ, cách làm thiển cận hoặc mò mẫm, kém hiệu quả. Vì vậy, khi đi vào thực tiễn, tư duy kinh nghiệm có thể nhanh nhạy giải quyết được những tình huống mới phát sinh; nhưng ít có khả năng đưa ra các quyết sách lâu dài mang tầm chiến lược. Việc các làng nghề ở nước ta hiện nay không thể phát triển lên sản xuất lớn là một minh chứng rõ ràng.

Một hạn chế khác của tư duy kinh nghiệm là tính duy lý yếu. Tư duy kinh nghiệm thường rút ra những tri thức kinh nghiệm thông qua con đường quy nạp những trải nghiệm, ít đi sâu phân tích, mổ xẻ để nhận thức vấn đề ở tầm nguyên lý, quy luật. Mức độ trừu tượng hóa và khái quát hóa của tư duy kinh nghiệm chưa cao, nên phạm vi tác động của nó còn hạn hẹp. Hơn nữa, sự thiếu hụt về phương pháp tư duy lôgíc cùng với tính chất tự phát làm cho tư duy kinh nghiệm ít có tính duy lý, thiếu chặt chẽ, thiếu khả năng phân tích, phản biện đối với tri thức mới. Vì vậy, tư duy kinh nghiệm thường có độ chính xác không cao, ít có khả năng định hướng, chỉ đạo hoạt động thực tiễn ở tầm chiến lược một cách hiệu quả.

Do yếu về tính duy lý, tư duy kinh nghiệm thường mang tính định tính nhiều hơn định lượng, thiếu chính xác hơn tư duy lý luận. Đồng thời, do ít có khả năng phân tích, phê phán và tự phê phán, người tư duy kinh nghiệm thường suy nghĩ đơn giản, máy móc, thụ động, ít sáng tạo. Chính điều này đã dẫn đến việc áp dụng một cách máy móc kinh nghiệm của người khác, địa phương khác mà không tính đến những yếu tố đặc thù của địa phương mình. Thực tế cho thấy, các phong trào phát triển sản xuất mía đường, xi măng lò đứng… ở nước ta thời gian qua đã gây ra những hậu quả kinh tế nghiêm trọng.

Dự báo là một yêu cầu mang tính đặc trưng đối với tư duy con người trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Do những nhược điểm trên mà tư duy kinh nghiệm yếu về khả năng dự báo. Bởi mức độ chính xác của việc dự báo phụ thuộc rất nhiều vào tính chân lý, tính quy luật, độ sâu sắc của những tri thức mà người ta sử dụng làm cơ sở cho việc dự báo, cũng như quan hệ lôgíc của các tri thức trong quá trình dự báo. Thế giới ngày nay đang diễn ra sự phát triển nhanh chóng nhờ những thành tựu của khoa học hiện đại. Điều đó đòi hỏi phải đổi mới và nâng cao không ngừng trình độ và năng lực nhận thức để có thể dự báo chính xác tương lai. Đồng thời, dự báo khoa học ngày càng trở thành một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công ở mọi lĩnh vực và đó là nhiệm vụ rất quan trọng của khoa học hiện đại. Dự báo khoa học ngày càng đóng vai trò không thể thiếu trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả của tư duy lý luận nói riêng và quá trình nhận thức của con người nói chung. Điều đó đặt ra vấn đề cần phải khắc phục những hạn chế của tư duy kinh nghiệm cũng như phát triển và nâng cao năng lực tư duy lý luận của con người.

Trong hoạt động thực tiễn, nếu người ta chỉ dừng lại ở trình độ tư duy kinh nghiệm sẽ không có khả năng nhận thức được bản chất của các sự vật và hiện tượng, do đó sẽ không nắm được những biến đổi phong phú, đa dạng của hiện thực để cải biến nó phục vụ lợi ích của con người. Do đó, muốn cải biến hiện thực theo nghĩa sáng tạo ra hiện thực mới, con người phải nhận thức, khám phá được bản chất, quy luật vận động khách quan của nó bằng tính chặt chẽ, chính xác và sáng tạo của tư duy lý luận. Hơn nữa, người ta cần phải kết hợp nhuần nhuyễn tư duy lý luận với tư duy kinh nghiệm để phát huy những mặt mạnh, cũng như khắc phục những mặt hạn chế của mỗi loại hình tư duy. Đó là cách để phát huy vai trò định hướng và chỉ đạo của lý luận đối với hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo hiện thực khách quan một cách có hiệu quả.

Tư duy kinh nghiệm có vai trò rất quan trọng trong quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn của con người, song về bản chất, những tri thức kinh nghiệm vẫn mang tính chất hạn hẹp. Vì vậy, để phát huy được vai trò của tư duy kinh nghiệm, nhất thiết phải đặt nó trong mối liên hệ thống nhất với tư duy lý luận, bởi chỉ có tư duy lý luận với bản chất sáng tạo và sự sâu sắc trong sự phản ánh hiện thực khách quan mới có thể khắc phục được tính chất hạn hẹp, phiến diện của tư duy kinh nghiệm.


(l) V.I. Lênin. Toàn tập, tr.29. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.220.
(2) Hoàng Chí Bảo. Từ tư duy kinh nghiệm đến tư duy lý luận. Tạp chí Thông tin lý luận, số 6, 1988, tr.55.
(3) Ngô Đình Xây. Vài nét về thực trạng tư duy lý luận ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 4, 1990, tr.34.
(4) Nguyễn Đức Bình. Báo Nhân dân ngày 5-6-1992.
(5) Phan Đình Diệu. Góp vài suy nghĩ để tư duy tiếp tục về đổi mới, http://www.chungta.com/.

Thư tình của lập trình viên

Gửi em yêu,

Anh nhận ra em khi đang lướt trên sân ga và thấy rằng em là site duy nhất để anh truy cập. Em biết không, từ lâu lắm rồi anh rất cô đơn và đang phân tích, test kỹ lại lỗi lầm của chính mình. Có thể em sẽ là người gỡ lỗi và kiểm thử thực sự cho anh.

Không có em, đời anh như một phần mềm dang dở, không tạo được mã thực thi, không có người sử dụng đích thực và trở nên vô dụng, chỉ tốn tài nguyên mà thôi.

Em không chỉ có giao diện đẹp, tiện dụng mà còn có cả tư thế phòng vệ ActiveX thật là dễ thương trước bọn người dùng con trai lố nhố. Nụ cười tươi sáng, tông màu giao diện áo quần em thật nhẹ nhàng càng làm anh thấy mình nên thay đổi có gam màu mạnh mẽ, một sức mạnh mới tương đương với hàng ngàn con vi xử lý Dual Core hiện nay gộp lại.

Anh viết thư này bằng mã Unicode tiếng Việt chỉ là thổ lộ một điều rằng chúng ta 2 chip Nam, chip Nữ hãy nên liên kết lại với nhau. Anh sẽ mang lại cho em trong thời đại truyền thông tích hợp này mọi thứ, mọi thông tin và năng lực xử lý cần thiết để hai ta cùng sống một cuộc đời không có lỗi hay trục trặc gì hết. Em cũng đừng quá lo về firewall mà bố mẹ em hay cộng đồng dựng lên vì anh crack và hack rất giỏi. Anh sẽ cày đêm và phá bằng được password hay những cản trở truy cập của họ để họ chấp nhận đám cưới của chúng ta như một entry miễn phí của cộng đồng. Và anh sẽ cùng em tự do như bao blog nóng hổi của bầu trời ảo lung linh mỗi ngày và rồi page views của mình sẽ cực cao.

Anh mong rằng chưa có ai lọt vào cơ sở dữ liệu của em để đoạn mã của anh có thể liên kết được duy nhất với chip của em. Nếu không, anh sẽ tự phá hủy hệ thống của chính mình đến mức không khôi phục được (dù đã có bản backup) thì thôi.

Xin em hãy hiểu cho lòng anh và cho email này một flag đỏ rực, dành cho lá thư này một vị trí ưu ái trong Inbox. Anh chờ chip em xử lý và repl. nhanh nhất có thể mail này, nhé em.

>>Xem thêm: Thư tình của dân IT

Tiêu chuẩn đánh giá sự vật, hiện tượng

Giới thiệu sách “Mạn đàm nhân sinh” với huyền thoại Panasonic

Bất kể điều gì cũng có nhiều cách nhìn nhận, suy nghĩ về chúng khác nhau. Tôi nghĩ, tùy vào việc đạt quy chuẩn cho cách nhìn nhận, đánh giá đó vào đâu mà sẽ làm thay đổi hành động cũng như thành quả thu được của mình sau đó.

Radio có thật là thứ dễ hỏng không?

Chuyện xảy ra cách đây 60 năm, tức là khi công ty tôi mới bắt đầu sản xuất và bán radio. Nói như vậy, nhưng thực tế lúc đó chỗ tôi vẫn chưa có kỹ thuật sản xuất radio, phải nhờ một hãng tin cậy giúp về kỹ thuật. Thực ra, loại radio đó rất hay hỏng hóc, bị khách hàng trả lại liên tục. Tôi vô cùng ngạc nhiên và lập tức điều tra nguyên nhân, thì phát hiện ra một điều hoàn toàn nằm ngoài tưởng tượng của mình. Nguyên nhân lại là ở khâu bán hàng. Cho đến khi ấy, radio thường được bán ở các cửa hàng chuyên môn và các kỹ sư lường trước vấn đề là radio sẽ hỏng hóc đâu đó, nên khi bán ra họ thử rất cẩn thận. Cách làm của họ là: Nếu có chỗ hỏng sẽ sửa ngay tại cửa hàng, sau đó mới trao cho khách.

Thế nhưng, mạng lưới bán hàng của chúng tôi phần nhiều là những cửa hàng điện dân dụng bình thường, ít người biết kỹ thuật chuyên môn về radio. Bởi vậy, khách hàng mua về và bỏ ra khỏi hộp mà không thấy kêu, hay ngay cả chuyện nhỏ như ống chân không hơi rung là họ cũng coi đó như hàng lỗi và đem trả lại. Kết cục, việc bán radio ở các cửa hàng điện dân dụng bình thường là rất khó. Bởi vậy tôi mới bảo: “Chúng ta cần phải thay đổi thiết kế cơ bản để không bao giờ xảy ra sự cố hỏng hóc nữa!”. Nhưng người có trách nhiệm của hãng cung cấp kỹ thuật trả lời rằng: “Radio thời đại này không thể nói tuyệt đối không hỏng được. Ông nên đem bán cho các cửa hàng chuyên về radio thì hơn!” Thấy vậy tôi mới bảo: “Nếu cứ bị ràng buộc bởi quan niệm radio là thứ dễ hỏng thì không bao giờ có thể sản xuất ra chiếc radio tốt được! Ngay cả chiếc máy phức tạp và nhỏ như đồng hồ mà vẫn chạy chính xác đến như vậy. Nếu cứ cho rằng radio là thứ không thể hỏng và dụng công làm thế nào đề tạo ra được chiếc radio như vậy thì nhất định sẽ thành công!”. Và tôi đã ra lệnh cho bộ phận nghiên cứu của tôi sáng chế ra loại radio lý tưởng, độc đáo của riêng công ty sau chuyện kể trên một thời gian.

Hẹp hay rộng?

Người ta thường hay cho rằng, vào thời kỳ đảo lộn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản của chúng ta không được trời phú cho những điều kiện phát triển kinh tế. Lãnh thổ đất nước thì chật hẹp, người lại đông, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm v.v…Tuy nhiên, có một chuyện tôi được nghe từ thời đó, mà ấn tượng đến mức vẫn còn nhớ mãi đến bây giờ.
Có một chính trị gia đi du lịch bằng tàu hỏa cùng người bạn ngoại quốc. Họ vừa ngắm phong cảnh ngoài cửa số vừa nói chuyện phiếm thì câu chuyện chuyển sang vấn đề lãnh thổ. Ông chính khách bảo: Nhật Bản chật hẹp, nên khó mà tự lập được. Nghe thấy vậy người nước ngoài liền kéo chiếc khăn tay từ trong túi ra, túm phần chính giữa giơ lên và lại đặt lên đùi, bảo:

Lãnh thổ của Nhật Bản nói cho dễ hiểu là thế đấy! Nếu chỉ nhìn vào phần góc sẽ nói là chật hẹp. Nhưng nếu trải thẳng cả chiếc khăn ấy ra sẽ thấy rộng hơn gấp ba, bốn lần. Chẳng phải là không hề hẹp chút nào hay sao? Ông thử nghĩ một cách lập thể về sự vật, hiện tượng xem sao? Bảo rằng không thể tự lập được vì trên một lãnh thổ hẹp mà có những tám mươi, chín mươi triệu người, nhưng nếu thay đổi suy nghĩ, cách nhìn thì cùng một lãnh thổ ấy nhưng sẽ thấy rộng hơn, mà môi trường hoạt động cũng sẽ lớn hơn.

Nghe xong, ông chính trị gia đó gật đầu tán thưởng: “Thật là chí lý! Nghĩ như thế được đấy!”. Một mặt thì ông tỏ ra thán phục, nhưng đồng thời chắc là rất xấu hổ.

Bởi vậy, dù thế nào cũng không nên chỉ đứng trên nhìn nhận mà vội bi quan. Khi bi quan, đầu óc người ta sẽ trở nên bí bách, không thể sản sinh ra những ý tưởng hay. Bởi vậy, cách nhìn nhận của người nước ngoài kia là rất cần thiết. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ở một mức độ nhất định người Nhật đã đứng trên cách nhìn nhận này mà có được sự phát triển như ngày hôm nay.

Người có thể trở nên hạnh phúc

Tôi bắt đầu mở cơ sở nghiên cứu PHP cũng là vào thời kỳ đảo lộn sau Chiến tranh thế giới thứ hai này. Nguyên vật liệu nghèo nàn, nhân tâm rã rời, trật tự xã hội đảo lộn. Nói chung xã hội ở vào tình trạng vô cùng hỗn loạn. Từ những quan sát thế sự và trăn trở vì mình cũng ở vào tình trạng đó, tôi băn khoăn không hiểu bản tính con người có phải thực là như vậy không.

Và thế là tôi suy nghĩ mông lung, tự tra vấn mình. Cuối cùng đã đi đến kết luận rằng, trong con người vốn có một tính cách vĩ đại là có thể sinh ra hạnh phúc, hòa bình và sự phồn vinh. Mặc dù vậy, con người vẫn đấu tranh, làm tổn thương nhau, hoặc trăn trở với nghèo nàn, đau khổ. Nguyên nhân chẳng phải là do người ta nhìn nhận và suy nghĩ sai về nhau đó sao? Bởi vậy, tôi rất muốn đi tìm cách lý giải về sự vật, hiện tượng để có thể làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn.

Có thể sẽ xảy ra tranh cãi giữa hai cách nghĩ xem con người có được ban cho hạnh phúc, hòa bình và phồn vinh hay không. Nhưng khi phải cân nhắc xem đứng ở lập trường nào sẽ mang lại được hạnh phúc cho nhân loại, thì tôi nghĩ câu trả lời đã quá rõ ràng.

Khủng hoảng kinh tế thế giới và những nhiệm vụ của năm 2009

Hỏi:Phân tích về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng cuộc khủng hoảng này vẫn chưa chạm đáy. Cả World Bank lẫn ADB đều dự đoán phải đến quý IV năm 2009, may ra tình hình kinh tế mới sáng sủa hơn. Ông nhận định thế nào về vấn đề này? Theo ông, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam đã chạm đáy chưa và ông dự báo thế nào về năm 2009?

Trả lời: Trong thời đại đã toàn cầu hoá ngày nay, không quốc gia nào có quyền nói về những hiện tượng phát triển của mình mà không quan tâm, không phân tích hiện tượng tương đương của thế giới. Phải nói rằng, cho đến phút này, giới học giả và chính phủ trên thế giới chưa hình dung được đầy đủ cơ cấu của hiện tượng khủng hoảng kinh tế. Chính phủ quan trọng nhất trên thế giới này là chính phủ Mỹ cũng chưa có một văn bản nào, chưa có một chương trình nào mô tả đầy đủ hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay.

Cho nên, nói rằng nó đã đến đáy hay chưa đến đáy đều không thoả đáng, vì chưa ai chỉ ra được một cách khoa học bản chất của hiện tượng này. Mỗi người nói một tiếng nói, mỗi người tiếp cận một góc độ và góp thêm tư liệu để có thể giải thích về cấu trúc của hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, nhưng cũng chưa có ai tóm lược, tổng hợp, phân tích đầy đủ về hiện tượng này với tư cách một nhà khoa học hoặc với tư cách một chính phủ. Ví dụ như ở châu Âu, các chính phủ có một số bất đồng về cách thức tiếp cận hiện tượng khủng hoảng. Có những chính phủ lo quá cho chuyện thâm hụt ngân sách, có những chính phủ lo quá cho sự yếu đuối của thị trường nội địa, có những chính phủ lo quá đến vấn đề thất nghiệp. Các chính phủ đứng trên những vị trí khác nhau, những tình thế khác nhau và những đặc điểm khác nhau của mình mà giải thích hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới một cách rất khác nhau, và do đó các giải pháp cho nó cũng được tiếp cận trên những khía cạnh rất khác nhau.

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà tất cả các khía cạnh khác nhau ấy chỉ là biểu hiện khác nhau của một hiện tượng, đó là hiện tượng khủng hoảng trên qui mô toàn cầu. Xưa nay thế giới vẫn nói về toàn cầu hoá thế này, thế khác, nhưng dường như thế giới cũng chưa hình dung ra toàn cầu hoá thực chất là gì. Nhà chính trị thì nói rằng toàn cầu hoá là sự phá vỡ các biên giới địa lý, phá vỡ chủ quyền quốc gia, quyền lực tuột khỏi tay chính phủ v.v…, tức là nói về mặt lý thuyết, nói có tính chất tuyên huấn thì nhiều chính phủ đã làm, nhưng hình dung nó và xây dựng chương trình đề kháng nó thì chưa. Các chính phủ tỏ ra rất thông minh trong việc lợi dụng nó, nhưng chưa đủ sâu sắc để hoạch định một hệ thống chính sách có khả năng chống đỡ khi có chuyện do nó gây ra. Cho nên, rất khó để có thể trả lời câu hỏi “Khủng hoảng kinh tế đã đến đáy chưa?” một cách có cơ sở khoa học. Tôi linh cảm rằng nó chưa tới đáy. Bởi vì suy ra cho cùng, khủng hoảng kinh tế thế giới có phải là sự mất mát tài sản của các nhà tài phiệt, của các hãng lớn trên thế giới hay không? Nếu cho rằng khủng hoảng kinh tế là sự mất mát tài sản của các đại gia trên thế giới thì chúng ta nghiên cứu kinh tế học là vô nghĩa. Chúng ta nghiên cứu kinh tế học để thông báo cho xã hội cũng như thông báo cho các chính phủ rằng, các chính sách kinh tế cần phải chiếu cố đến sự khủng hoảng trong đời sống thông thường của người dân. Nhiệm vụ của tất cả các chính phủ là bảo vệ, bảo hộ người dân chứ không phải các đại gia về kinh tế. Tất nhiên, các đại gia phá sản thì tan xí nghiệp, mà tan xí nghiệp thì mất việc và mất việc thì ảnh hưởng đến đời sống, nhưng nếu chúng ta chỉ nghĩ đến các đại gia thì chúng ta không hiểu hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới. Ngược lại, nếu chúng ta chỉ nghĩ đến sự mất việc làm của người lao động thông thường mà không nghĩ đến các đại gia thì tức là chúng ta quên mất cái cỗ máy có tính chất động lực để xúc tiến sự phát triển kinh tế.

Tôi nghĩ rằng sớm hay muộn thì các quốc gia, thậm chí cả Liên hợp quốc sẽ phải nhảy vào cuộc như là một liên minh toàn cầu để giải thích hiện tượng này và có các chính sách tương đối đồng bộ để giải quyết. Hiện nay mới chỉ có một nhóm các nước phát triển nghĩ tới chuyện ấy, còn các khu vực còn lại thì chưa, hay nói cách khác là thế giới chưa có tiếng nói chung về tai họa. Tai họa hiện nay vẫn được giải thích với tư cách của những kẻ tham gia quá trình cạnh tranh toàn cầu chứ chưa phải là sự cứu hộ của cộng đồng toàn cầu đối với tai họa này. Những bài báo trên thế giới phân tích về chuyện này cho thấy các quốc gia, các nhà khoa học chỉ mới giải thích nó như là sự mất mát sức cạnh tranh của các nền kinh tế, mà chưa phân tích được sự khủng hoảng của đời sống, của xã hội trong toàn bộ nền kinh tế thế giới sẽ diễn ra như thế nào. Phải nói rằng, nếu không nói rõ vấn đề này thì chúng ta không phân tích được hiện tượng khủng hoảng kinh tế hiện nay, mà nếu có phân tích được thì chính phủ cũng cảm thấy chúng ta công kích chính phủ chứ không phải hỗ trợ họ. Tức là, tất cả các chính phủ đều chỉ nhìn vấn đề này như một đơn vị tham gia quá trình cạnh tranh toàn cầu mà chưa nghĩ nó là một bộ phận hợp thành nền kinh tế toàn cầu. Cho nên, kinh tế thế giới năm 2008 là kết quả của một sai lầm có chất lượng hệ thống, một sự phân vân, một sự do dự, một sự tranh luận về vai trò của các nhà nước đối với nền kinh tế.

Người ta vẫn tranh luận xem trường phái tự do và trường phái bảo thủ về kinh tế cái nào đúng, cái nào sai mà quên mất rằng các lý thuyết như vậy chỉ có giá trị giới hạn trong những điều kiện xác định nào đó của kinh tế thế giới. Trong những giai đoạn kinh tế thế giới suy trầm, chính lý thuyết “Tân Tự do” về kinh tế là một trong những lý thuyết giải phóng một cách đại trà cái năng lực phát triển toàn cầu, và phải nói rằng nó có giá trị rất tích cực trong việc xúc tiến sự phát triển. Nhưng khi sự phát triển đã kéo dài đến mức các yếu tố cực đoan của nó được tích luỹ thì lý thuyết Keynes mới bắt đầu phát huy vai trò của nó, tức là phải xác lập lại vai trò của nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế như thế nào. Như vậy, các lý thuyết đều có vai trò của nó trong mỗi một giai đoạn nhất định chứ không phải cái này đúng, cái kia sai một cách tuyệt đối. Nếu chúng ta phủ nhận lý thuyết kinh tế Tân Tự do thì chúng ta sẽ phạm phải một sai lầm căn bản là đến khi kinh tế thế giới suy trầm, chúng ta không biết kích động nó bằng phương pháp luận nào. Nhưng nếu chúng ta chỉ biết đến nó, thì khi nó trở nên thái quá, chúng ta sẽ không biết kiểm soát nó bằng cách nào. Những người ủng hộ trường phái can thiệp của Keynes thì vẫn cho rằng nhà nước luôn luôn có vai trò và nhà nước phải can thiệp, nếu nhà nước không có vai trò, không can thiệp là sai. Còn những người theo trường phái Tân Tự do thì nói rằng nhà nước không có vai trò gì và không nên can thiệp vào khu vực kinh tế.

Cả hai lý thuyết này đều đúng và đều sai trong những điều kiện khác nhau. Trong khi nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh thì lý thuyết về Tân Tự do rất đúng, vì khi đó nhà nước trở thành cái ba lô trên lưng của nền kinh tế trong quá trình hành hương đến sự phát triển, nhưng trong quá trình xuống dốc thì nhà nước phải nhảy xuống đất để trở thành cái phanh, trở thành cái nêm để ngăn chặn sự suy thoái của nó. Vai trò của nhà nước là một trong những vấn đề lý thuyết quan trọng nhất để không chỉ đánh giá các lý thuyết kinh tế mà đánh giá một cách toàn diện cả lý thuyết về phát triển. Nhà nước luôn luôn có vai trò trong mọi sự phát triển cả kinh tế, cả chính trị, cả xã hội. Biến nhà nước trở thành một thành tố ổn định, thành tố duy nhất đúng cho sự phát triển là sai, nhưng loại bỏ hẳn vai trò của nhà nước trong những trạng thái khủng hoảng của xã hội thì cũng sai. Phải nói rằng, giai đoạn cuối thế kỷ XX là giai đoạn của sự tranh luận bất tận của hai trường phái thông thái nhưng không đầy đủ. Tôi cho rằng, một cách khái quát, nhà nước luôn có vai trò, nhưng vai trò của nhà nước với tư cách là kẻ ngăn chặn sự cực đoan hoá các quá trình phát triển, chứ không phải là lãnh đạo sự phát triển. Nhà nước lãnh đạo sự phát triển, nhà nước biến thành yếu tố động lực thường xuyên của quá trình phát triển thì sai, nhưng nhà nước luôn luôn là yếu tố để cứu hộ xã hội khỏi sự thái quá của quá trình phát triển thì tôi nghĩ luôn luôn đúng. Cho nên, có thể kết luận là quá trình trước 2009 là quá trình vận hành nền kinh tế thế giới một cách tích cực, nhưng không đầy đủ ở giai đoạn tột cùng của sự phát triển của chu kỳ này. Từ 2009 trở đi, nhà nước phải nhảy vào cuộc như một người cứu hộ có chất lượng chính trị, có chất lượng kinh tế, có chất lượng xã hội. Và sự có mặt của nhà nước trong giai đoạn này càng ngắn bao nhiêu thì hạnh phúc càng đến sớm với nhân loại bấy nhiêu. Không nên kéo dài vai trò của nhà nước trong đời sống kinh tế một cách quá lâu. Nó chỉ nên có trong khủng hoảng, nếu nó tiếp tục có mặt sau khủng hoảng thì nó sẽ là một thảm họa lớn đối với phát triển kinh tế.

Còn Việt Nam chúng ta thì sao? Việt Nam thực ra là một quốc gia mới ra phố, mới trưởng thành, chúng ta cũng chưa có sự tranh luận nào, chưa có tiếng nói nào. Cũng có một vài người được học ở phương Tây về nói, nhưng đó không phải là những tiếng nói có tính chất chính thống, có tính chất quyết định trong quá trình điều hành xã hội. Trước năm 2009, các nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà khoa học về điều hành xã hội không có tiếng nói chính thống, không có địa vị xã hội trong việc hình thành các tư tưởng điều hành vĩ mô đời sống xã hội. Đấy là lỗi lầm lớn nhất của chúng ta. Chúng ta hội nhập nhưng chúng ta không huy động các bộ não tham gia vào quá trình hình thành cái kho trí tuệ của xã hội. Hay nói cách khác là chúng ta hội nhập với tư cách đi theo và không có trí tuệ chủ động khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Năm 2009 chúng ta phải khắc phục hiện tượng này, và đời sống chính trị của giai đoạn từ 2009 trở đi cần phải huy động được sự tham gia một cách chính thống, có địa vị, thậm chí có quyền lực của các lực lượng trí tuệ.

Trong một bài phân tích về khủng hoảng kinh tế thế giới, tôi đã nói rằng bản chất của khủng hoảng kinh tế thế giới là sự lộng hành của các yếu tố tri thức trong nền kinh tế. Nếu chúng ta không huy động được một trí tuệ tương đương thì chúng ta không đủ năng lực để ngăn chặn, chống đỡ và giải phóng đời sống xã hội ra khỏi sự lộng hành của các yếu tố tri thức trong một nền kinh tế mà mọi chính phủ đều không kiểm soát được.

Liệu có phải là chúng ta không có những trí thức, những chuyên gia có thể phân tích các hiện tượng thế giới và Việt Nam không? Tôi khẳng định là không. Chúng ta có thừa khả năng để đưa ra các phân tích, thậm chí đưa ra các dự báo. Dự báo là 80% nghĩa vụ của các chính phủ, vì thế cho nên, việc huy động và tạo không gian chính đáng về chính trị cho các lực lượng trí thức đủ để họ phân tích, dự báo và đề kháng tất cả các yếu tố tri thức lộng hành trong nền kinh tế của thế giới là việc mà chính phủ phải làm. Tất nhiên, khi huy động một lực lượng trí thức đông đảo với những quan điểm khác nhau, trình độ khác nhau, quyền lợi khác nhau như vậy thì sẽ tạo ra một tình trạng hỗn loạn âm thanh có chất lượng tư vấn, do đó, Thủ tướng chính phủ phải cócấp dưới để giúp phân loại và lựa chọn các lý giải khác nhau. Sự phân loại này không nhằm để chống, cũng không phải nhằm để phân cấp sai đúng hay hơn kém, sự phân loại chính là việc sắp xếp các dụng cụ một cách ngăn nắp để vào mỗi một thời điểm khác nhau, trước những đòi hỏi khác nhau của cuộc sống, chúng ta có thể dễ dàng lấy ra những loại dụng cụ thích hợp. Trong đời sống xã hội, có những tình huống đòi hỏi chúng ta phải sử dụng những dự báo, phân tích có tính chất bảo thủ, nhưng cũng có những tình huống khác lại đòi hỏi phải sử dụng những dự báo, phân tích có tính chất lạc quan. Trong trạng thái suy trầm thì những dự báo và phân tích có tính chất lạc quan là rất cần thiết, nhưng trong trạng thái thái quá thì những dự báo và phân tích có tính chất bảo thủ mới là cần thiết. Nói tóm lại, các vị thuốc khác nhau của dàn giao hưởng các biện pháp để chống trả lại sự lộng hành của các yếu tố không tích cực của nền kinh tế thế giới đòi hỏi chính phủ không phải chỉ có một loại chuyên gia mà buộc phải dự phòng nhiều loại chuyên gia. Khi chúng ta phải giải quyết những vấn đề cụ thể thì chúng ta rất cần những chuyên gia chiến thuật. Nhưng lúc cần dự báo một cách tổng thể, tạo ra sự cân đối tổng thể thì những chuyên gia chiến lược là vô cùng cần thiết. Và chúng ta phải biết kết hợp hai loại chuyên gia như thế. Cho nên, tôi nghĩ rằng chính phủ không nên có thái độ kỳ thị với bất kỳ loại chuyên gia nào, mà chính phủ phải biết sắp xếp các công cụ có tính chất chuyên gia ấy vào những ô khác nhau để lựa chọn công cụ thích hợp vào những thời điểm khác nhau, vào những nhiệm vụ khác nhau và phối hợp chúng với nhau. Đấy là thông điệp 2009 của tôi.

Hỏi: Hiện nay chúng ta vẫn đang bàn về các biện pháp chống khủng hoảng và vẫn chưa xác định được đâu là biện pháp thích hợp. Trước tháng 3, chúng ta đưa ra 8 gói giải pháp, đến tháng 6 chúng ta vẫn tiếp tục cho rằng kiềm chế lạm phát là ưu tiên số một, còn bây giờ là kích cầu để chống thiểu phát. Trong một cuộc hội thảo ngày hôm qua về vấn đề này, các chuyên gia vẫn tiếp tục bàn cãi, nhiều người thì cho rằng năm 2009 phải ưu tiên chống giảm phát, thiểu phát, nhưng cũng có nhiều ý kiến cảnh báo nguy cơ lạm phát sẽ rất cao. Theo ông, giải pháp nào là thích hợp trong tình hình hiện nay?

Trả lời: Chúng ta vẫn cho rằng giảm phát, lạm phát là những trạng thái thống nhất trong toàn bộ cơ cấu của một nền kinh tế, tất cả cái sai của chúng ta là ở chỗ đấy. Ở trong cơ cấu của một nền kinh tế, tại mỗi một thời điểm, có khu vực thì giảm phát và có khu vực thì lạm phát. Cho nên, điều hành vĩ mô một nền kinh tế không phải là mô tả nền kinh tế ấy như một hiện tượng thống nhất ở mọi khu vực. Tôi lấy ví dụ, khi thị trường chứng khoán dâng lên thì đấy là sự tăng trưởng hay sự phát triển với tốc độ chóng mặt của các đại công ty, nhưng nó là sự giảm phát của khu vực kinh tế vừa và nhỏ, khu vực tư nhân.

Nghiên cứu hiện tượng giảm phát hay lạm phát không phải là nghiên cứu cái định nghĩa của nó, mà nghiên cứu sự xuất hiện của nó trong từng bộ phận, trong từng khu vực khác nhau của một nền kinh tế. Không có giải pháp chung cho một nền kinh tế mà có giải pháp cho những khu vực khác nhau của nền kinh tế. Tôi gọi hiện tượng khủng hoảng kinh tế Việt Nam là hiện tượng xung huyết cục bộ. Cho nên, chúng ta chữa căn bệnh kinh tế Việt Nam không phải bằng một tuyên ngôn kinh tế mà bằng một chương trình cụ thể, vừa chính xác về thời gian, vừa chính xác về không gian và có những tác động khác nhau, hỗ trợ nhau trên từng khía cạnh cũng như từng vấn đề của đời sống kinh tế. Chúng ta hay có hiện tượng cãi nhau lấy được là tôi đúng, anh sai. Tôi cho rằng không nên xem ai đúng, ai sai một cách triệt để cả, nhất là ở địa vị của cao nhất chính phủ. Người ta nhìn vào khu vực này và đưa ra những phân tích, dự báo cho khu vực này thì có thể dự báo ấy sai so với khu vực khác. Nhưng cả cái sai và cái đúng ấy theo con mắt của một người không quan trọng bằng việc sử dụng một cách hợp lý các lý giải khác nhau cho những khu vực khác nhau và những thời điểm khác nhau. Tôi cho rằng, vẫn tồn tại cả nguy cơ lạm phát và nguy cơ giảm phát ở Việt Nam. Nguy cơ giảm phát của nền kinh tế Việt Nam xuất hiện trong khu vực kinh doanh vừa và nhỏ từ trước khi lạm phát xuất hiện, lạm phát chỉ là kẻ xúc tiến, làm tăng trưởng một cách không kiểm soát được hiện tượng giảm phát ở khu vực vừa và nhỏ cũng như khu vực kinh tế tư nhân mà thôi.

Hỏi:Như vậy có nghĩa là chính phủ phải thừa nhận nhiều sai sót trong dự báo và bài học rút ra là chúng ta phải điều hoà được tất cả các vị thuốc?

Trả lời: Đúng thế. Tuy nhiên, ở đây tôi nghĩ vấn đề không phải là chúng ta thừa nhận hay không thừa nhận. Chúng ta cũng không nên chỉ trích chính phủ một cách vô cảm và vô cảm với chính phủ. Như thế là không công bằng.

Tôi nghĩ rằng, chúng ta mới gia nhập quá trình toàn cầu hoá một cách chính thức được gần 2 năm, chúng ta thiếu kinh nghiệm là việc giải thích được. Và do đó, cái không giải thích được không phải là cái sai mà là không nhận ra cái sai của mình và không rút kinh nghiệm. Nếu chính phủ nhận ra cái sai thì tôi là người đầu tiên cảm thấy vui. Những việc như thế không khó, nếu nhận ra đấy là nghĩa vụ của mình thì ai cũng làm được. Trên thế giới không phải chỉ có một mình người Việt Nam làm việc ấy.

Dự báo là gì? Về thực chất, dự báo là kết quả phân tích thông tin và rút ra các kết luận. Thông tin về khí tượng thì tạo ra dự báo về khí tượng, thông tin kinh tế sẽ tạo ra dự báo kinh tế. Vì chúng ta chưa ý thức được chúng ta là một bộ phận của nền kinh tế thế giới, cho nên chúng ta cảm thấy rằng dự báo như một chức năng có tính chất bói toán của người Việt. Không phải. Thế giới có thông tin, chúng ta phân tích nó thì chúng ta sẽ tạo ra dự báo. Và thế giới cũng có cả những dự báo nữa. Những dự báo của các khu vực khác nhau của nền kinh tế thế giới tạo ra tư liệu hay nguyên liệu cho quá trình dự báo của Việt Nam. Và ngược lại, khi người ta dự báo về Hoa Kỳ thì dự báo của Việt Nam là tư liệu. Hay nói cách khác, dự báo của mỗi quốc gia là tư liệu để tạo ra dự báo của các quốc gia khác trong quá trình toàn cầu hoá. Vì thế, chúng ta phải cung cấp một dự báo nghiêm túc như là một bộ phận của hệ thống thông tin dự báo toàn cầu. Chúng ta có nghĩa vụ toàn cầu việc dự báo chứ không phải chúng ta chỉ sử dụng dự báo toàn cầu để dự báo cho chúng ta. Và chúng ta sẽ có uy tín khi những dự báo của Việt Nam trở thành tư liệu tốt để đưa ra những dự báo khác trên thế giới. Còn nếu chúng ta không có dự báo tốt, chúng ta không chủ động có những dự báo của mình thì chúng ta không đóng góp nghĩa vụ dự báo của một thành tố tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Trong Bộ tham mưu kinh tế của chính phủ có nhiều chức năng, có nhiều vị tham mưu trưởng khác nhau, nhưng tham mưu trưởng về dự báo thuộc về trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư, nếu chúng ta nói đến nội các như là tập hợp những cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp đối với những khía cạnh khác nhau của đời sống điều hành vĩ mô. Nếu Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra được những dự báo tốt của Việt Nam thì chính là cách thức để khẳng định uy tín của chính phủ chúng ta. Để tăng uy tín của Việt Nam, chúng ta phải sử dụng cái kho trí tuệ của xã hội, phải sử dụng các thông tin của thế giới để làm tốt dự báo của chúng ta, và thế giới sẽ sử dụng dự báo của chúng ta để làm tốt cho dự báo của thế giới. Đấy chính là ý kiến của tôi về vấn đề điều hành vĩ mô.

Hỏi: Vừa rồi, chính phủ cũng có nhiều biện pháp hướng tới hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như khu vực tư nhân, đặc biệt là người nông dân, nhưng dường như sự hỗ trợ này cũng chưa được rõ ràng. Theo ông, các khu vực kinh tế của chúng ta cần phải được hỗ trợ như thế nào trong tình hình hiện nay?

Trả lời: Câu hỏi mà bạn vừa đặt ra có liên quan đến một vấn đề căn bản, đó là địa vị của các nền kinh tế cụ thể trong nền kinh tế thế giới là như thế nào? Nếu các nền kinh tế cụ thể trở thành những yếu tố vãng lai thuần tuý đối với nền kinh tế thế giới thì toàn bộ lý thuyết về phát triển là sai. Các nền kinh tế vẫn phải giữ địa vị độc lập của nó, vì khi chúng ta hội nhập, khi chúng ta tham gia vào quá trình toàn cầu hoá thì không có nghĩa là toàn thể dân tộc, toàn thể các bộ phận của nền kinh tế đều tham gia. Những người ra trận bao giờ cũng phải có hậu phương. Trong kinh tế cũng vậy, những bộ phận hậu phương của một nền kinh tế cần phải được xây dựng bởi một lý thuyết nghiêm chỉnh và ổn định hơn. Kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp tiêu dùng, kinh tế công nghiệp xuất khẩu… tất cả những cái đó đều phải được phân loại, và chúng ta phải xác lập được nghĩa vụ của mỗi một khu vực kinh tế như vậy đối với quá trình hội nhập. Chúng ta vẫn đưa ra những dự báo về chuyện Tân tổng thống Obama sẽ quay về trạng thái bảo hộ hay là vẫn tiếp tục duy trì xúc tiến các quan hệ quốc tế, đấy là những dự báo hẹp và không đúng, vì bản chất của quá trình toàn cầu hoá là có cả việc anh tự khẳng định mình ở trong nhà lẫn việc anh tự khẳng định mình trong cái chợ chung của thế giới. Anh không thể đem tất cả tài sản trong nhà ra chợ được, cho nên, củng cố nền kinh tế bản thể như một yếu tố độc lập với tất cả các biến động, các khủng hoảng là việc phải làm. Khủng hoảng chỉ ảnh hưởng đến các yếu tố xuất khẩu, các yếu tố tiên phong, các yếu tố ra trận của nền kinh tế thôi. Cho nên, xây dựng nền kinh tế Việt Nam phải là kết quả của việc xây dựng hai nền kinh tế mà thực chất là hai bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế tiên phong là nền kinh tế tham gia vào quá trình toàn cầu, còn nền kinh tế bản thể là nền kinh tế giúp anh tồn tại cho dù bão tố ở ngoài chợ diễn ra như thế nào. Cái nền kinh tế bản thể ấy chính là nền kinh tế có chất lượng bảo hiểm đời sống xã hội, là nền kinh tế tối thiểu cần phải có, hay là sự độc lập với các hiện tượng quốc tế cần phải có của một nền kinh tế.

Cho nên, không nên tranh cãi là chúng ta sẽ bảo hộ hay chúng ta sẽ tiếp tục cấp tiến để tham gia toàn cầu hoá. Càng toàn cầu hoá bao nhiêu thì yêu cầu phải củng cố nền kinh tế bản thể càng lớn bấy nhiêu, bởi vì nếu tỷ trọng của nền kinh tế bản thể không đủ nặng thì quá trình toàn cầu hoá sẽ hút tuột nền kinh tế của chúng ta, làm chúng ta biến mất trong vòng xoáy của nền kinh tế toàn cầu. Hiện tượng khủng hoảng kinh tế vừa rồi của thế giới chính là hiện tượng mà các nền kinh tế bản thể bị hút, bị nhổ rễ ra khỏi cái lợi ích của những con người cư trú trong các vùng lãnh thổ.

Có người nói rằng cần phải đầu tư, cần phải phát triển khu vực kinh tế vừa và nhỏ, có người bảo cần phải đầu tư vào các công ty lớn, cần phải có các tập đoàn kinh tế lớn thì mới đủ sức cạnh tranh, và họ mất rất nhiều thời gian và công sức cho những cuộc bàn cãi như thế. Tôi cho rằng những tranh cãi như vậy là vô ích. Cả hai yếu tố ấy đều rất cần cho quá trình phát triển của một nền kinh tế chung, nền kinh tế quốc dân. Nếu không xây dựng được cơ sở xã hội của nền kinh tế bản thể thì không có ổn định chính trị. Khu vực vừa và nhỏ và khu vực tư nhân thuộc về nền kinh tế bản thể, nó phải được chăm sóc kỹ lưỡng hơn bởi một đảng chính trị có tiêu chuẩn là chăm sóc nhân dân lao động, mà chăm sóc nhân dân lao động chính là việc củng cố nền kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế vừa và nhỏ. Còn việc phát triển Việt nam thành một quốc gia tiên tiến, có những lực lượng có năng lực cạnh tranh toàn cầu lại là việc khác, việc xây dựng các tập đoàn, các công ty lớn. Tuy nhiên, cần thấy rằng việc xây dựng các tập đoàn nhà nước không tạo ra sự ổn định chính trị. Nếu xét về quan điểm chính trị thì các tập đoàn nhà nước chỉ tạo ra năng lực xung đột chính trị chứ không phải là ổn định chính trị. Còn xét theo quan điểm phát triển toàn cầu, thì các tập đoàn hay các công ty lớn có thể giữ một vai trò nào đấy, nhưng chất lượng các đòi hỏi đối với nó phải khác chứ không phải như hiện nay. Hiện nay chúng ta đang có một thực thể nhìn ngoài giống như một chàng trai khoẻ mạnh, cường tráng, nhưng sức khoẻ sinh sản thì không có, cho nên vô tình nó trở thành một kẻ lừa đảo trong quá trình toàn cầu hoá. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải có sự cân đối, mà trước hết là cân đối chính trị trong sự chú ý đến hai khu vực này. Chúng ta phải nhận thức một cách chính xác nghĩa vụ chính trị của hai khu vực này rồi mới hoạch định chính sách điều hành vĩ mô được. Về bản chất, điều hành vĩ mô là anh phát triển tới ngưỡng không mất ổn định, hay anh xác lập được ranh giới giữa ổn định và phát triển. Còn phát triển bằng mọi giá, tăng trưởng bằng mọi giá thì không phải là điều hành vĩ mô, bởi vì cứ thả ra là nó sẽ phát triển. Thả ra thì từ bê tông cho đến đất đá đều trở thành bụi hết, vì bản chất của sự phát triển, của toàn cầu hoá là làm bụi hoá những vật thể cứng khu trú trong các quốc gia, biến chúng thành năng lượng chung để tham gia vào quá trình toàn cầu. Nói tóm lại, để ra khỏi khủng hoảng, Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào cũng đều phải dựa trên việc xây dựng và cân đối giữa nền kinh tế bản thể với nền kinh tế phát triển.

Hỏi: Theo ông, trong giai đoạn này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đang đối mặt với những khó khăn gì và họ cần được hỗ trợ như thế nào?

Trả lời: Tôi thấy có một nguy cơ có thật mà mọi người rất ngại nói đến, anh Lê Đăng Doanh, một nhà hoạt động xã hội rất dũng cảm, cũng đã có lần nhắc đến nguy cơ này, đó là nguy cơ của hàng hoá Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng, các xí nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cần được hướng dẫn bởi một chiến lược sắc sảo hơn thì mới tồn tại được.

Hiện nay chúng ta bàn về chuyện hỗ trợ khu vực kinh tế vừa và nhỏ như là một cách tranh giành quyền lợi chứ chưa phải là bàn đến việc kê đơn thuốc nào để làm cho nó khoẻ mạnh. Tôi đã viết về vấn đề này cách đây 7 năm, trong một bài viết đã được đưa vào quyển “Suy tưởng”. Trong đó, tôi phân tích chúng ta sống cạnh nước CHND Trung Hoa là sống cạnh một nền kinh tế khổng lồ như thế nào. Việc chúng ta sống cạnh Trung Quốc cũng giống như Nhà xuất bản Hội nhà văn sống cạnh Nhà xuất bản Longman vậy. Một quyển sách được xuất bản với số lượng 300.000 – 400.000 bản và một quyển sách được xuất bản với số lượng 3000 bản sẽ có giá thành rất khác nhau. Cùng sản xuất một loại hàng hoá thì nền kinh tế Việt Nam vĩnh viễn không cạnh tranh được với nền kinh tế của Trung Quốc. Cho nên, toàn bộ nghệ thuật để tồn tại bên cạnh Trung Quốc là tìm những cái họ không làm được để làm. Chúng ta phải xây dựng chương trình hay chính sách phát triển công nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam để tránh sản xuất những mặt hàng giống về chất lượng hoặc giống về công dụng đối với hàng hoá của nước Trung Quốc. Đấy không phải là chính sách để đối phó với Trung Quốc, mà là chính sách để chung sống hoà bình với họ. Bởi khi chúng ta không va chạm trong quá trình cạnh tranh về kinh tế trên những mặt hàng cụ thể thì về thực chất chúng ta mới thoả mãn được nguyên tắc chung sống hoà bình. Những kẻ cạnh tranh trực tiếp trên một đối tượng không thể chung sống hoà bình với nhau được. Cho nên, để chung sống một cách hoà bình thì không phải chúng ta chỉ nói khẩu hiệu mà cần phải nghiên cứu một chương trình phát triển công nghiệp sao cho không trùng với họ. Nhiều khi chúng ta vẫn xem nguy cơ hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc vào nhiều quá như là một phát hiện có tính chất đối địch, quan niệm ấy là sai. Chúng ta không đối đầu với Trung Quốc, mà chúng ta muốn thực hiện sự không đối đầu ấy thì chúng ta phải sản xuất khác họ. Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ thị trường, người Mỹ hay người Trung Quốc cũng đều phải làm nghĩa vụ thị trường và họ bán hàng sang nước chúng ta là đương nhiên. Nếu chúng ta có hàng hoá chất lượng hơn, có hàng hoá cao cấp hơn với giá cả cạnh tranh hơn thì chúng ta sẽ cạnh tranh được. Muốn vậy chúng ta phải đi tìm các lỗ hổng thị trường của các loại sản phẩm, tìm xem chỗ nào không có nó hoặc chỗ nào nó không thể có, tức là chúng ta phải làm công tác tình báo kinh tế. Để có được thông tin phục vụ cho việc tổ chức ra cấu trúc của nền sản xuất hàng hoá Việt Nam, chúng ta cần phải xây dựng hệ thống tình báo kinh tế đối với nền kinh tế Trung Quốc. Đấy là một nhiệm vụ có chất lượng chiến lược. Xây dựng hệ thống tình báo kinh tế không có nghĩa là chúng ta đối đầu với Trung Quốc. Nhiều khi chúng ta làm công tác an ninh, làm công tác về chiến tranh lâu quá, cho nên chúng ta cứ nghĩ tình báo kinh tế là một loại hoạt động gián điệp, nhưng không phải như vậy. Tình báo kinh tế chính là anh nắm được, mô tả được chính xác các đối tượng kinh tế khác để có thể chen chân được một cách hợp lý và đỡ tốn kém vào thị trường.

Hỏi:Vậy cụ thể là nhà nước sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp như thế nào?

Trả lời: Rất đơn giản. Khi chúng ta đã tìm ra một lớp hàng hoá mới để khuyến khích sản xuất thì chúng ta phải có đầu tư ban đầu. Đầu tư ban đầu đối với các hàng hoá có triển vọng cạnh tranh, có năng lực cạnh tranh trong tương lai chính là đất mà chính phủ có thể sử dụng chính sách kích cầu. Hiện nay, chúng ta vẫn bàn cãi về chính sách kích cầu theo hướng này, hướng khác, có người còn bảo rằng phải thay nhà chất lượng cao bằng nhà chất lượng vừa phải, những chuyện ấy không có giá trị gì về mặt lý thuyết cả. Tôi lấy ví dụ, bây giờ các nhà đầu tư nước ngoài muốn thực hiện các dự án bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam, được tôi cho anh làm, nhưng anh phải bỏ tiền ra làm, anh không được huy động vốn ở trong lãnh thổ Việt Nam. Tất nhiên, cuối cùng thì những dự án bất động sản ấy cũng thu tiền của người Việt Nam, nhưng từ khi họ làm cho đến khi họ bán được là một khoảng thời gian đủ để các đồng vốn Việt Nam luân chuyển đến các bộ phận có nhu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân. Dường như, không ai để ý đến chuyện ấy cả. Thậm chí để bảo vệ ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài, nhiều khi chúng ta còn che chắn cho nó nữa. Những che chắn như vậy không phải là vì chúng ta muốn làm hại đất nước mà phải nói thẳng là vì chúng ta muốn bảo vệ mình. Đôi khi, vì bảo vệ mình mà chúng ta vô tình trở thành người che chắn cho các đối tượng bên ngoài mà không biết. Nếu làm như tôi vừa phân tích ở trên thì tự nhiên nhịp độ đầu tư bất động sản sẽ giảm xuống ngay. Bởi vì thực chất các dự án đầu tư vào bất động sản làm gì có tiền thật. Đầu heo nhà có sẵn, nồi có sẵn, gạo có sẵn, anh chỉ mang bao diêm châm lửa vào bếp rồi bảo đấy là đầu tư nước ngoài. Khi các dự án bất động sản được thực hiện theo kiểu như vậy thì tức là nền tài chính Việt Nam bị hút về phía ấy. Với tình trạng huy động vốn khó khăn như hiện nay thì trả thêm một chút, móc ngoặc thêm một chút, khuyến mại thêm một chút để hút vốn về là không khó gì đối với một đối tượng có tiềm năng như các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, vô tình họ đã rút ruột nền tài chính Việt Nam, làm cho các khu vực của nền kinh tế bản thể không có năng lượng để hoạt động. Chúng ta khuyến khích các đại công ty, các tập đoàn liên minh với người nước ngoài để làm đầu tư nước ngoài, nhưng chúng ta cũng vẫn quên mất rằng ngay cả khi các công ty Việt Nam tham gia vào đấy như một đối tác thật sự thì cũng vẫn là hút vốn của xã hội và làm mất máu ở các khu vực cần phải nuôi sống. Cho nên, tôi gọi hiện tượng khủng hoảng ở Việt Nam là hiện tượng xung huyết cục bộ là vì thế.

Hỏi: Vừa rồi có một số ý kiến cho rằng nên kích cầu vào khu vực bất động sản và chứng khoán, bởi vì hai thị trường ấy đóng băng lâu quá rồi. Ý kiến của ông thế nào về chuyện này?

Trả lời: Tôi cho rằng lúc này kích cầu vào bất động sản, kích cầu vào chứng khoán là vô lý, bởi vì chúng ta chưa tạo ra được một cái kênh để thông tiền từ thị trường chứng khoán ra thị trường phát triển công nghiệp. Thị trường chứng khoán chỉ có giá trị khi nào nó là nơi gọi vốn của các dự án công nghiệp. Chừng nào nó không phải là nơi gọi vốn của các dự án công nghiệp thì nó không có giá trị tích cực, và trên thực tế chúng ta đã thấy thế giới trở nên khủng hoảng vì chuyện ấy như thế nào. Bất động sản và chứng khoán là những quả mìn đối với bất kỳ nền kinh tế nào, kể cả nền kinh tế số một thế giới là Hoa Kỳ. Chúng ta chỉ kích cầu vào chứng khoán 6 tháng là nền kinh tế Việt Nam lạm phát. Chúng ta chỉ kích cầu vào khu vực bất động sản một thời gian ngắn là toàn bộ nền kinh tế Việt Nam giảm phát. Nếu chứng khoán là nguồn gốc của lạm phát thì bất động sản là nguồn gốc của giảm phát, bởi vì nó đóng băng tiền vốn vào trong bê tông. Thị trường Việt Nam, người lao động Việt Nam, người dân Việt Nam chưa đủ tiền để xem bất động sản là hàng hoá. Nếu không có sự dễ dãi, sự thông đồng giữa các ngân hàng với các đại công ty thì trên thực tế không có thị trường bất động sản. Thị trường bất động sản là thị trường đầu cơ bằng tiền rút ra thông qua các ngân hàng. Bất động sản và chứng khoán tạo ra hiện tượng xung huyết cục bộ của bất kỳ nền kinh tế nào. Những người kiếm lời từ chứng khoán không phải là nhà đầu tư như người ta nói. Trên thực tế họ vô tình không phải là nhà đầu tư, vì nếu là nhà đầu tư thật thì họ phải biết được tiền ấy được đầu tư vào dự án nào, dự án ấy có triển vọng gì. Anh chỉ trở thành nhà đầu tư một cách có ý thức khi nào anh biết rõ rằng tiền mà anh mua cổ phiếu được đầu tư vào dự án nào hoặc là ngành công nghiệp nào. Nói tóm lại, khi nào thị trường chứng khoán chưa phải là thị trường gọi vốn cho những mục tiêu phát triển công nghiệp thì nó không phải là thị trường chứng khoán có đạo đức, mà nó là thị trường đầu cơ.

Tôi đã có một bài nói về vấn đề này, trong đó tôi nói rằng cần phải kiểm soát chất lượng hàng hoá của thị trường chứng khoán, nhưng chúng ta đã không làm. Thị trường chứng khoán là gì? Là nơi gặp gỡ giữa ý tưởng kinh doanh và tiền. Tức là nơi gọi vốn cho những ý tưởng kinh doanh, hoặc là nơi bán những ý tưởng kinh doanh đã được đầu tư rồi, và giải phóng vốn ra. Như vậy thì anh phải kiểm toán để kiểm soát chất lượng của hàng hoá. Chất lượng của hàng hoá đã hình thành rồi thì tài sản của nó là bao nhiêu, đầu tư thật bao nhiêu, giá trị ảo của nó là bao nhiêu. Nếu không kiểm toán thì không ai xác định được giá trị của xí nghiệp mà anh đem bán. Còn đối với các hàng hoá ở dạng ý tưởng kinh doanh thì anh phải thẩm định xem ý tưởng kinh doanh ấy có triển vọng không. Cả hai loại hàng hoá này đều không được kiểm định giá trị, cho nên nó biến thị trường trở thành thị trường lừa đảo. Và sự lừa đảo này không phải chỉ làm cho cá nhân người mua mất tiền, mà nó còn giam đồng tiền vào trong khu vực ấy, dẫn đến sự không có mặt của tiền bạc ở những khu vực cần phát triển khác. Cho nên, thị trường chứng khoán trở thành khu vực xung huyết cục bộ. Ngày mai, nếu chính phủ bỏ phiếu kích cầu cho khu vực bất động sản và chứng khoán thì tức là ngày mai xã hội sẽ quyết định xem mình còn tin chính phủ nữa hay không.

Hỏi: Năm 2009, Việt Nam sẽ bắt đầu mở cửa thị trường bán lẻ, có nhiều ý kiến lo ngại rằng các doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được với doanh nghiệp nước ngoài. Ông nhận định thế nào về số phận của những doanh nghiệp này?

Trả lời: Vừa rồi, khi báo Sinh viên phỏng vấn tôi về vấn đề này, tôi đã trả lời rằng: còn lâu lắm các công ty Việt Nam mới có thể cạnh tranh với các công ty của thế giới, nhưng chúng ta không buồn và không thất vọng về chuyện ấy. Bởi vì, nếu chúng ta thua trong sự cạnh tranh của các công ty Việt Nam với các công ty thế giới thì không có nghĩa là người Việt Nam thua trong cạnh tranh. Chúng ta chưa đủ năng lực để xây dựng những công ty có thể cạnh tranh với các công ty của thế giới thì chúng ta phải xây dựng năng lực cạnh tranh của người Việt. Người Việt Nam hoàn toàn có thể thắng trong quá trình cạnh tranh toàn cầu với tư cách là người lao động. Tôi đã đưa ra một ví dụ phân tích, chúng ta chưa có một bệnh viện nào có chất lượng quốc tế, nhưng trong các bệnh viện có chất lượng quốc tế ở Việt Nam hoặc ở nhiều nước trên thế giới thì đã có các bác sỹ Việt Nam. Vậy, khi chúng ta chưa có khả năng cạnh tranh thành công với tư cách là một bệnh viện thì chúng ta hãy cạnh tranh một cách thành công với tư cách là các bác sỹ. Khi chúng ta có đủ lượng bác sỹ đủ tiêu chuẩn để cạnh tranh quốc tế thì sẽ xuất hiện các yếu tố tập hợp các bác sỹ để trở thành một bệnh viện. Cho nên chúng ta đừng đốt cháy giai đoạn, đừng sốt ruột. Cái gì chín thì nó sẽ chín. Chúng ta phải thành công trong việc biến người Việt Nam thành người những lao động có năng lực cạnh tranh trước đã. Đến những năm 50 của thế kỷ này mà người Việt Nam làm được việc ấy thì đã đáng tạc tượng các nhà lãnh đạo của chúng ta rồi. Chúng ta phải làm thế nào để những người lao động Việt Nam có năng lực cạnh tranh một cách thành công trong quá trình toàn cầu hoá với tư cách là một cá thể. Khi nào chưa có yếu tố ấy thì chúng ta chưa thể hy vọng có các công ty thắng trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, chúng ta sẽ chỉ có những kẻ huy động năng lực xã hội để nướng vào các sòng bạc của thế giới mà thôi. Khi mà người lao động chưa có năng lực cạnh tranh, xã hội chưa tham gia cạnh tranh với tư cách của những người lao động cá thể thì mọi công ty chỉ là những kẻ phiêu lưu ở sòng bạc thế giới mà thôi, và chúng ta đi từ chết cho đến bị thương trong những sự phiêu lưu như vậy. Cho nên, khi chúng ta mở cửa cho các công ty bán lẻ nước ngoài vào thì chính phủ cần phải nghĩ đến chuyện mở ngay các lớp huấn luyện những người bán hàng. Bởi vì, nếu như chúng ta có một đội ngũ những người bán hàng chuyên nghiệp thì các công ty bán hàng chuyên nghiệp sẽ đến Việt Nam, họ sẽ đỡ chính phủ chúng ta trong việc đầu tư để tổ chức các công ty bán lẻ. Vừa rồi, tôi có nghe tin chính phủ Cannada đã bỏ ra 3 tỷ đô la để cứu hộ các xí nghiệp ô tô mà về mặt pháp lý là chi nhánh của hãng GM và Chrysler, như vậy là họ cứu hộ các xí nghiệp công nghiệp trên lãnh thổ của họ chứ không phải cứu hộ các công ty Hoa Kỳ hay chính phủ Hoa Kỳ. Chúng ta buộc phải xem tất cả những lực lượng làm kinh tế có mặt trên lãnh thổ Việt Nam là lực lượng kinh tế Việt Nam. Rất nhiều người đã biết rõ chuyện này, nhưng không phải tất cả xã hội đều biết. Rất nhiều người tiên tiến trong giới lãnh đạo của chúng ta biết, nhưng không phải toàn bộ hệ thống lãnh đạo của chúng ta đều biết. Hỗ trợ các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để nó tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam chính là cứu hộ nền kinh tế Việt Nam.

Hỏi:Theo ông, thế mạnh của người dân Việt Nam để Việt Nam có thể bứt phá lên là gì?

Trả lời: Chúng ta có một ưu thế rất quan trọng là người Việt Nam rất thông minh. Trong bản chất của họ đã hình thành năng lực cạnh tranh với nhau để tạo ra sự xuất sắc của mỗi một cá thể. Cho nên, phát triển năng lực lao động của người Việt là điểm quan trọng nhất để phát triển Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Tôi xin kể một ví dụ. Chính phủ Áo bỏ ra hàng tỷ đô la để xây dựng một toà nhà mà bây giờ là trụ sở của Liên hợp Quốc ở châu Âu và cho các cơ quan Liên hợp Quốc thuê lại với giá tượng trưng là 1 đô la/năm. Ai cũng tưởng chính phủ Áo làm từ thiện, làm nghĩa vụ quốc tế, nhưng trên thực tế đã có hàng trăm ngàn người Áo làm việc trong toà nhà đó. Tức là chính phủ Áo đã bỏ tiền ra để giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn người Áo, và nếu xét theo quan điểm cho thuê nhà thì tiền cho thuê sẽ ít hơn nhiều so với tiền thuế thu nhập cá nhân từ những người có công ăn việc làm trong các tổ chức của Liên hợp Quốc ở Viên. Khi tôi nói chuyện với tiến sĩ Mayer, chủ tịch Phòng thương mại công nghiệp Viên vào đầu những năm 90, tôi được nghe ông ấy kể câu chuyện này. Trong giai đoạn từ giờ cho đến những năm 50 của thế kỷ này, chúng ta không được nhầm lẫn giữa việc các công ty Việt Nam thua trong sự cạnh tranh toàn cầu với việc thua của người lao động Việt Nam. Chúng ta chưa thắng được bằng các công ty thì chúng ta hãy làm thế nào đó để thắng bằng người lao động đã. Và do đó, chúng ta cần phải có một chính sách giáo dục phù hợp với mục tiêu như vậy, tức là giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của cá nhân người Việt. Về mặt chính trị, những người lao động muốn sáng tạo thì phải có một chút tự do phù hợp. Vậy hãy cung cấp cho người lao động Việt Nam hai thứ để họ có thể trở thành người lao động có sức cạnh tranh: một chút tự do cần thiết và một chương trình giáo dục và đào tạo thích hợp. Khi nào chúng ta làm xong việc ấy rồi thì các bạn có thể đến phỏng vấn tôi là làm thế nào để các công ty Việt Nam có sức cạnh tranh, còn bây giờ thì nó chưa có.

Xin cảm ơn ông!

Ngày nghỉ của đàn ông

Ngày nghỉ là ngày để nghỉ. Ngày nghỉ là của tất cả mọi người: đàn ông, đàn bà, trẻ con… thậm chí là ngày nghỉ của cả chó và mèo. Vậy mà ngày nghỉ là những ngày hết sức vất vả và mệt mỏi đối với đàn ông – Trích sách Phong độ đàn ông (Phan An, Bách Việt Books)

Tên sách: PHONG ĐỘ ĐÀN ÔNG
Tác giả: Phan An
Phát hành: Bách Việt Books & NXB Hội nhà văn

*****

NGÀY NGHỈ CỦA ĐÀN ÔNG

Ngày nghỉ là ngày để nghỉ. Ngày nghỉ là của tất cả mọi người: đàn ông, đàn bà, trẻ con… thậm chí là ngày nghỉ của cả chó và mèo. Vậy mà ngày nghỉ là những ngày hết sức vất vả và mệt mỏi đối với đàn ông.

Những ngày vất vả và mệt mỏi có thể bắt đầu ngay từ đêm hôm trước, khi vợ trằn trọc: Anh ơi, em nóng. Nóng thì bật điều hòa nhiệt độ. Điện ban đêm rẻ hơn điện ban ngày. Vợ trằn trọc một lúc rồi lại bảo: Anh ơi, em lạnh. Lạnh thì tắt điều hòa nhiệt độ. Điện ban đêm rẻ hơn điện ban ngày nhưng tắt điều hòa nhiệt độ là rẻ nhất.

Vợ trằn trọc một lúc rồi lại bảo y như trong phim hay như trong mơ: Anh ơi, em muốn đàn ông. Chẳng lẽ lại bảo: Giờ này thì lấy đâu ra đàn ông bây giờ? Rõ ràng không thể bảo: Ngày mai có cuộc họp quan trọng lắm, anh đang phải suy nghĩ chuẩn bị. Ngày mai là ngày nghỉ.

Sáng hôm sau, như thể sau chuyến xe bão táp, vợ muốn đi siêu thị, đi mua sắm, con muốn đi công viên (Công viên nước và Công viên cạn)… Có thể còn nhiều việc thú vị hơn chờ đón đàn ông: sửa điện, sửa nước, sửa đồ gỗ, dọn nhà, lau nhà, thau bể, thông cống, hút bể phốt… tùy sức tưởng tượng phong phú của ông đốc công trong ngày nghỉ có tên là vợ. Có thể còn có những phương án hay hơn đang chờ đón đàn ông: đi thăm ai đó, đi ăn cơm ở nhà bố mẹ anh chị em… vân vân và vê vê.

Tóm lại, nếu mất cảnh giác, nếu không có sự định hướng đúng đắn, ngày nghỉ của đàn ông sẽ thành một cơn ác mộng, ngày nghỉ mà đàn ông không hề được nghỉ ngơi. Sau ngày nghỉ đàn ông sẽ mệt nhoài, còn sức đâu mà cống hiến, còn sức đâu mà đi cứu thế giới, còn sức đâu mà làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn.

Hiến pháp Mỹ có câu: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, có quyền hưởng hạnh phúc”. Và có quyền nghỉ ngơi vào ngày nghỉ. Tất nhiên trên đời này quan trọng nhất là trẻ con, đàn bà, chó mèo rồi mới đến đàn ông nhưng dẫu sao đàn ông cũng cần được nghỉ ngơi vào ngày nghỉ. Đàn ông chúng ta ai cũng có trách nhiệm, ai cũng yêu thương gia đình. Nhưng đàn ông chúng ta cũng cần được nghỉ ngơi vào ngày nghỉ để có sức lực mà trách nhiệm, mà yêu thương gia đình.

Ngày nghỉ, đàn ông nên đưa gia đình đi ăn sáng, uống café. Sau đó đi chơi thể thao. Nếu đi bơi thì cho cả gia đình đi bơi. Nếu đi đánh tennit thì cho cả gia đình đi đánh tennit. Nếu con đã lớn một chút có thể nhân dịp này dạy con bài giáo dục công dân thực hành nghĩa là thuê con nhặt bóng, để con vừa biết giá trị của đồng tiền, vừa có tiền tiêu vặt, vừa khỏe.

Trong một buổi, vợ yên tâm nhìn thấy chồng trong tầm mắt của mình, trong tầm kiểm soát của mình, ảo tưởng này sẽ có tác dụng như liệu pháp tâm lý để trong tuần đàn ông có đi biền biệt cũng chẳng sao.

Ngày nghỉ, đàn ông nên đưa gia đình đi chơi xa. Nếu định đến thăm ai, đến nhà ai ăn cơm có thể rủ đi cùng. Thế là đỡ phải rồng rắn lên mây, ngày nghỉ này đến ăn ở nhà này, ngày nghỉ sau lại phải mời đến đáp lễ, nghỉ ngơi gì mà chỉ toàn ăn với uống…

Hướng giải quyết vấn đề đại thể là như vậy, nghĩa là ngày nghỉ đàn ông phải nghỉ ngơi và cho gia đình nghỉ ngơi cùng. Còn tùy công việc, tùy thời gian, sở thích của đàn ông chúng ta mà có thể sắp xếp, lựa chọn hình thức nghỉ ngơi thích hợp. Theo cách này, ngày nghỉ vợ sẽ không đòi đi siêu thị, đi mua sắm mà sẽ phải chủ động đi siêu thị, đi mua sắm từ trước – để còn nhân tiện mua cái gì để đi chơi xa mang đi ăn…

Các việc sửa điện, sửa nước, sửa đồ gỗ, dọn nhà, lau nhà, thau bể, thông cống, hút bể phốt… không có việc gì khó, không làm được thì thuê. Nếu không đừng được thì có thể làm vào chiều ngày nghỉ đầu tiên. Nhưng buổi sáng ngày nghỉ đầu tiên nhất thiết phải tạo đà, phải nghỉ ngơi thực sự.

Và ngày nghỉ sinh ra là để đàn ông chúng ta tiêu tiền. Hãy tiêu tiền vì gia đình. Tiêu tiền để trong tuần lại kiếm. Đó cũng là một liệu pháp tâm lý, một cách tạo động lực, tạo niềm vui cho cuộc sống.

Mong sao sau ngày nghỉ, được nghỉ ngơi thực sự, đàn ông chúng ta sẽ tươi rói như những quả dưa chuột, chúng ta sẽ trách nhiệm, yêu thương và cống hiến. Chúng ta sẽ cứu thế giới, chúng ta sẽ làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Cả vào ngày nghỉ.

Phan An

Vài nét về tập sách PHONG ĐỘ ĐÀN ÔNG

Tác giả Phan An

Ngay trong phần đầu sách, Phan An đã viết: Khi gặp đàn bà, có rất nhiều thứ để khen: khen đẹp, khen xinh, khen trẻ, khen gầy đi, khen béo ra… Không thấy có gì khen được trong những thứ để khen kể trên thì có thể chuyển sang khen áo, khen túi… Khi gặp đàn ông, thường chỉ có một câu khen – phong độ: “Dạo này anh phong độ thế!”

Phong độ đàn ông được Phan An viết theo lối tản văn, văn phong khoáng đạt, cá tính, câu từ sử dụng tương đối chuẩn xác. Vì nhà văn viết theo cảm hứng về đàn ông và các vấn đề trong cuộc sống nên nếu đọc riêng mỗi phần đọc có thể cảm thấy rất thú vị, nhưng khi gom tất cả các phần lại với nhau lại dễ gây cảm giác dàn trải.

Mặt khác, người đọc sẽ mong muốn các bài viết được sắp xếp logic hơn để có thể theo dõi được mạch viết, ý tưởng và từng chủ đề của tác giả.

Với các chủ đề khác nhau diễn ra xung quanh cuộc sống của đàn ông như: Khi đàn ông vỡ chạn, Đàn ông và tình ảo, Khi đàn ông không gọi điện, Đàn ông và hàng hiệu, Đàn ông và xe, Đàn ông đi café, Đàn ông nuôi con gì, Đàn ông và tự phục vụ, Đàn ông và hàng rong, Đàn ông và phim, Hình như đàn ông là mưa… hướng về sự nhạy cảm. Những quan niệm (và có lẽ là cả những… trải nghiệm) về “phong độ đàn ông” của chính tác giả được thể hiện tự nhiên, nhẹ nhõm và hài hước.

Đại bác, súng lục và lễ hội hoa Hà Nội

Thật dễ dàng kết tội vô văn hóa hay thiếu giáo dục cho các hành vi “cướp-phá”, hay dẫm lên hoa tại lễ hội hoa diễn ra tại Hà Nội đầu năm 2009. Căn nguyên của các hành vi này có thể là hậu quả của tiến trình đô thị hóa đang diễn ra, hoặc hậu quả của một nền giáo dục đầy rẫy bất cập.

Tuy nhiên, những quy kết này chỉ đúng với một số đối tượng, như nam thanh nữ tú vui vẻ dẫm lên hoa, hoặc một trung niên đứng tuổi cướp chậu hoa mang về nhà. Nhưng lý giải thế nào khi các cụ già cũng có hành vi dẫm đạp trên cỏ, hay phản ứng mắng ngược của một bậc phụ huynh khi người khác chê trách con họ phá hoa mà báo chí phản ánh. Có nhiều cách tiếp cận để giải mã các hành vi trên, từ giáo dục, lối sống và tính cách, mà trong đó môi trường chung nối kết các cách tiếp cận là văn hóa.

Giáo sư Geert Hofstede (đại học Maastrich, Hà Lan), người có nhiều nghiên cứu về sự khác biệt trong ứng xử, hành vi của các nền văn hóa, đã xem văn hóa là “phần mềm của tâm hồn” để lý giải ứng xử, cách suy nghĩ của con người trong cuộc sống (Cultures and Organizations: Software of the Mind. New York, NYM McGraw-Hill, 1991). Năm chiều kích văn hóa mà công trình nghiên cứu ở 72 quốc gia được Hogstede phân ra là: khoảng cách quyền lực, cá nhân và tập thể, trọng nam tính hay nữ tính, tâm lý ưa sự ổn định, và cuối cùng là cái nhìn dài hạn hay ngắn hạn.

Việt Nam, nếu dùng sự phân loại của Hofstede, thuộc về đất nước có khoảng cách quyền lực cao, tính tập thể cao, trọng nam tính, tính ưa sự ổn định cao, và định hướng dài hạn. Mỗi chiều kích có mối quan hệ tương tác và thay đổi theo thời gian. Điều này, như nhận định của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong cuộc phỏng vấn trên Tia sáng Tết 2008, xã hội nào, tính cách ấy.

Bắt chước và núp bóng bầy đàn

Ở một đất nước, mang chiều kích tập thể, ý thức về cộng đồng rất cao, mà văn hóa làng xã ở Việt Nam trước kia có rất nhiều ví dụ. Hofstede cũng nhấn mạnh chiều kích tập thể đề cập ở đây không phải là phạm trù của chính trị. Trong cộng đồng đó, con người từ khi mới sinh ra đã có sự lệ thuộc và mang những đặc thù của văn hóa nhóm. Lẽ ra mô hình tập thể hóa ở nông thôn cũng như nông trường hay nhà máy là chất xúc tác tốt cho chiều kích tập thể phát huy mặt tích cực. Nhưng hậu quả của nó là hình ảnh nông dân cày dối trên mảnh đất hợp tác. Điều gì có thể biến người nông dân vốn “côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó” trở thành người làm công ẩu tả? Còn ở thành thị là một lớp công chức mà chuyện châm biếm kể rằng, họ sáng cắp cặp đi, tối mang cặp về, bên trong có một viên gạch. Câu vè của dân Hà Nội ban ngày cả nước lo việc nhà, ban đêm, cả nhà lo việc nước ra đời trong bối cảnh đó. Cũng từ đó, thói quen xài chùa của công, lạm dụng công quyền để tư lợi hình thành.

Tính di truyền của thói làm dối, làm ẩu, “của chung không ai khóc” gặp môi trường chuyển đổi giữa thời kỳ bao cấp và kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho cho thói cơ hội xuất hiện và phát triển. Chúng gieo vào đầu chủ thể một lối suy nghĩ ngắn hạn. Và dài hạn, nếu có, lại là chuyện “hy sinh đời bố củng cố đời con”.

Muốn an thân nên giữ lệ, phá luật

Nếu chiểu theo kết quả nghiên cứu của Hofstede và Bond, Việt Nam thuộc nhóm có chiều kích định hướng dài hạn, theo nghĩa tôn trọng các giá trị truyền thống và giữ thể diện. Bên cạnh chiều kích văn hóa này, chiều kích ưa sự ổn định cao, không cho phép người ta biểu lộ tình cảm, trạng thái ra bên ngoài. Thói quen ưa sự ổn định cao như ở Trung Quốc và Việt Nam phần nào gây ra đặc tính: một số quy định thì chấp nhận, nhưng một số lại dễ dàng xí xóa. Lẽ ra, hai chiều kích trên khiến người ta chú trọng thể diện, qua đó có thể ngăn cản được hành vi mang tính cơ hội thì trong môi trường dung dưỡng tính làm dối, và cá nhân quen sự với thỏa hiệp, thì việc giữ “diện” nào của bản thể cũng có thể thỏa hiệp được.

Sau hai thời kỳ bao cấp và mới mở cửa, xã hội rộ lên chuyện “đánh quả” của doanh nghiệp, của giáo chức, của giới học thuật trên mảnh đất thị trường còn sơ khai về cơ chế và luật định chồng chéo, không chặt chẽ, cộng thêm với sản phẩm của thời kỳ quá độ là chất xúc tác đầy uy lực. Một doanh nhân khá nổi ở thời kỳ đầu đổi mới đã từng đưa ra luận thuyết đèn vàng. Theo ông, đèn xanh thì ai cũng đi, nên muốn đi nhanh hơn thì phải biết tranh thủ cả đèn vàng. Luận thuyết đó phản ảnh rõ tâm thế cơ hội. Ở lĩnh vực giáo dục và đào tạo, học và thi là hai chuyện mà học sinh, sinh viên có thể hiểu là hai chuyện hoàn toàn khác. Và tưởng như các tháp ngà khoa học sẽ đứng vững, thì câu chuyện mua bằng, đạo văn, gian dối trong các công trình khoa học và nghiên cứu liên tục xuất hiện.

Đông người, vô bản sắc

Trong bối cảnh trên, bản sắc và hội nhập trở thành các khái niệm học thuật, đôi khi còn bị đánh tráo. Khi con người ở một cộng đồng mang tính tập thể cao, mọi cái tôi được đặt thấp, thì cái tôi thỏa hiệp và gian dối càng được dung dưỡng. Nhưng nếu không nhìn thấy mặt cái tôi, thì bản sắc chỉ là khái niệm. Mà khuôn mặt của bản thể không để lộ, thì lấy đâu bản sắc để hội nhập. Sự tương tác của hai chiều kích bản sắc và hội nhập trong điều kiện đó, càng thúc đẩy hiệu ứng bầy đàn.

Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã nêu đích danh hai đứa con hư của cơ chế thị trường là nóng vội kiếm tiền và cắm đầu hưởng thụ. Một lớp người đau đáu tìm kiếm cơ hội, dù phải chụp giựt, chấp nhận hy sinh, thì bản thể của họ không còn là điều quan trọng. Chính bản thân đó và lớp con cháu họ qua hưởng thụ tiêu dùng mà đánh mất bản thân. Bởi tiêu dùng, là hành vi tha hóa con người. Thông qua mua sắm, mà con người, từ mua (buying), sở hữu hàng hóa (having) và cuối cùng nhập thân vào đó (being). Kết quả là người ta có thể đồng hóa mình là một sản phẩm, hay một thương hiệu nào đó. Nếu không nhận rõ tiến trình này, không biết được mình là ai, thì rốt cục, lối sống thượng đội, hạ đạp, sản phẩm đặc thù của chiều kích văn hóa quyền lực cao, trở nên phổ biên trong xã hội. Hệ quả, là lớp con em cứ việc cướp hoa, ngắt lá, bẻ cành, lớp cha-chú sẵn sàng phản ứng lại trước các lời chỉ trích, và thậm chí, còn có thể quát lại là “vô văn hóa”.

Gamzatov đã viết: Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác. Hành vi vừa diễn ra ở lễ hội hoa tại thủ đô, có thể được nhìn nhận mang tầm cỡ súng lục hoặc đại bác. Nhưng từ quá khứ tới tương lai là một tiến trình, nên viên đạn hôm qua có thể tạo hệ quả là quả đại bác mai sau. Điều đó không thể không được nhìn nhận thấu đáo.