Tư duy hệ thống: Quản lý hỗn độn và phức hợp

Cái mới trong khoa học quản lý là quản lý tình thế hỗn độn và phức hợp, trên cơ sở quán triệt tư duy hệ thống.

Nhà khoa học quản lý Jamshid Gharajedaghi được xem là một người “hoàn hảo” (perfect) về lý luận và thực tiễn. Ông khởi nghiệp tại Công ty Trung tâm thương mại thế giới của hãng IBM với chức danh Kỹ sư hệ thống cao cấp nhiều năm làm Giám đốc Trung tâm Busch và Phó giáo sư môn Khoa học hệ thống tại Trường Wharton, Đại học Pennsylvania; hiện là Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành Viện quản lý tương tác lnteract tại Hoa Kỳ.

Tác giả cung cấp cho các nhà tổ chức và quản lý, cho giới kinh doanh và đông đảo độc giả những kiến thức cần thiết về tư duy hệ thống, bao gồm triết học hệ thống, các lý thuyết hệ thống và phương pháp luận hệ thống, đồng thời trình bày những ứng dụng cụ thể các lý thuyết nói trên vào việc nghiên cứu và thiết kế một số dự án ở các công ty và các cơ quan chính phủ nhiêu nước, mà bản thân tác giả đã tham gia và có vai trò tư vấn chủ chốt.

Lời giới thiệu

Tôi rất hân hạnh được giới thiệu với quý vị độc giá cuốn sách này. Việc xuất bản cuốn sách trong thời điểm hiện nay là rất hợp thời, hy vọng có thể cung cấp cho các nhà tố chức và quản lý cho giới kinh doanh, và cho đông đảo độc giả nói chung, những kiến thức cần thiết và mới mẻ về tiếp cận một phong cách tư duy mới có tên gọi là “tư duy hệ thống”, nhằm có thêm nhiều ý tưởng mới cho “đổi mới tư duy” để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta trong giai đoạn chuyển biến hiện nay.

Thế kỷ XX, đặc biệt là những thập niên cuối thế kỷ cùng với nhũng biến đối to lớn trong đời sống kinh tế – xã hội của nhân loại, là thời kỳ của những cuộc biến đối cách mạng trong khoa học, thời kỳ của nhiều thay đổi và sáng tạo liên tiếp các khuôn mẫu tư duy trong các lĩnh vực hoạt đông tổ chức, quản lý và kinh doanh. Việc ứng dụng khoa học vào quản lý sản xuất công nghệ và kinh doanh có thể được xem là bắt đầu tù cuối thế kỷ XIX với nhà cải cách F. W Taylor. Sau đó, vào đầu thế kỷ XX, một số phương pháp khoa học khác, như các phương pháp phân tích số liệu thống kê và vận trù học, quy hoạch tuyến tính, tiếp tục được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong tố chức sản xuất, lập kế hoạch phát triển kinh tế, … Sau chiến tranh thế mới lần thứ hai, liên tiếp có nhiều phát minh mới về khoa học và công nghệ có tác động to lớn thúc đẩy các xu hướng ứng dụng kể trên, như: máy tính điện tử, điều khiển học, khoa học thông tin và khoa học hệ thống.

Các phát minh đó vừa cung cấp cơ sở kiến thức khoa học đem xây dựng mô hình cho các bài toán thực tế, vừa tạo ra các công cụ kỹ thuật xử lý thông tin ngay càng mạnh để giúp con người giải các bài toán thực tế đó. Nói cách khác, việc ứng dụng các thành tựu và phát minh khoa học từ giữa thế kỷ XX để hình thành nên một khung mẫu tư duy khoa học để hướng dẫn con người trong tư duy và hành động trước việc nhận thức về đôi tượng và tìm kiếm lời giải cho các bài toán về tổ chức quản lý và kinh doanh. Đối tượng là các hệ thống kinh tế, bao gồm nhiều thành phần và các mối tuơng tác giữa chúng với nhau cũng như các tương tác với môi trường, các bài toán quan trọng và chủ yếu nhất trong quản lý và kinh doanh là các bài toán ra quyết định; một khung mẫu tư duy khoa học về quản lý và kinh doanh phải bao gồm một cách hiểu khoa học về đối tượng và các mối tương tác của nó cùng với cách hình dung về việc thiết kế lời giải cho các bài toán quyết định mà công việc quản lý kinh doanh đòi hỏi.

Các mô hình mà khoa học đề xuất cho việc nghiên cứu các đối tượng kinh tế trong hơn nửa thế kỷ qua đã liên tục có những thay đối, do đó mà không mẫu trí tuệ khoa học về quản lý và kinh doanh cũng có những chuyển dịch tương ứng. Nếu ở hệ thứ nhất, khung mẫu đó dựa trên mô hình cơ giới của hệ thống, xem các quan hệ tương tác trong hệ thống là các quan hệ cơ giới, biểu diễn được bằng các phương trình toán học, và do đó các bài toán quản lý thường tìm được lời giải dưới dạng toán học một cách tiện lợi, thì ở thế hệ thứ hai, các mô hình hệ thông là mô hình dạng điều khiển học hay dạng sinh học, hệ thống là mở, có chủ đích, có trí tuệ, các tương tác tạo nên các vòng phản hồi, cả phản hồi âm và phản hồi dương, các bộ phận không đơn thuần là những bộ máy thừa hành thụ động mà có một số hành vi độc lập như giữ câu bằng, ổn định, tự tổ chúc, v.v…, các bài toán quản là nhằm mục đích phát triển hoặc tăng trưởng thường không đạt được lời giải
chỉ đơn giản bằng việc giải một số phương trình toán học, mà còn bằng việc xử lý nhiều bài toán thông tin phức tạp và đa dạng hơn. Và chuyển dịch sang thế hệ thứ ba hiện nay, khung mẫu tư duy đó lấy mô hình đối tượng là các hệ thống thích nghi phức tạp, tức là gồm nhiều thành phần, các thành phần được xem là các tác tử có trí tuệ, có chủ đích riêng, tương tác với nhau trong những vòng liên hệ phức tạp, tiến hóa bởi hành động thích nghi và góp phần tạo nên sự tiến hóa chúng bằng năng lực hợp trội (emergence) của hệ thống. Mô hình hệ thống thích nghi phức tạp được xem là thích hợp cho việc nghiên cứu nhiều đối tượng phức tạp trong thực tế, từ trong thế giới vi mô của các hạt cơ bản “dưới nguyên tử” đến các hệ thống vũ trụ trong thế giới vĩ mô là các hệ sinh thái của các loài sinh vật cho đến các hệ kinh tế trong thị trường toàn cầu hóa hiện nay.

Cuốn sách “TƯ DUY HỆ THỐNG: quản lý hỗn độn và phức hợp, Một cơ sở cho thiết kế kiến trúc kinh doanh” được giới thiệu ở đây chủ yếu đề cập đến một khung mẫu tự duy đối với các hoạt động quản lý và kinh doanh trong bước chuyển dịch sang thế hệ thứ ba mà ta nói ở trên.

Khung mẫu tư duy đó được gọi ngắn gọn là tư duy hệ thống, nội dung lý luận của nó được tác giả trình bày trong nửa đầu cuốn sách, còn nửa sau cuốn sách giới thiệu việc ứng dụng tư duy hê thống đó vào việc xác định bài toán và thiết kế các giải pháp cho một số dự án cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội mà chính tác giả đã trực tiếp tham gia.

Trong nửa đầu cuốn sách, tác giả trình bày những vấn đề cơ bản của tư duy hệ thống, bao gồm: triết lý về hệ thống, các lý thuyết hệ thống và phương pháp luận hệ thống. Trong phần Triết lý về hệ thống, tác giả điểm qua tiến trình úng dụng quan điểm hệ thống và khoa học hệ thống trong các vấn đề quản lý và kinh doanh, các bước chuyển dịch khung mẫu tư duy hệ thống từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ ba, được đặc trưng bởi các giai đoạn của các cách nhìn cơ giới, cách nhìn sinh học và cách nhìn văn hóa – xã hội, nhìn nhận hệ thống tương ứng như các hệ máy móc (không trí tuệ), các hệ đơn trí tuệ và các hệ đa trí tuệ.

Tương ứng với các chuyển dịch cách nhìn đó, nhận thức về luật chơi và xác định bài toán quản lý cũng có những chuyển dịch, từ chỗ tập trung vào việc tìm các phương án tối ưu, tiên đoán tương lai để điều khiển hành vi của hệ thống, đến chỗ chấp nhận luật chơi của hệ thống là cạnh tranh giữa các tác từ có năng lực cạnh tranh và thích nghi, hệ thống có thể rơi vào những tình thế hỗn độn và do vậy, quản lý chủ yếu là dàn xếp các mối tương tác, sáng tạo và lựa chọn các giải pháp thích nghi để tiếp tục tồn tại và phát triển, chứ không phải là lập trung vào việc tiên đoán một tương lai chắc chắn hoặc lựa chọn một mục tiêu tốt đẹp nhất và hướng tới đó.

Khung mẫu tư du này mới được hình thành và phát triển từ vài chục năm gần đây, cơ sở khoa học cho nhũng nguyên lý của nó chưa phải đã được chuẩn bị đầy đủ, vì vậy, các lý thuyết về các hệ thống và phương pháp luận hệ thống mà tác giả trình bàu tiếp theo, là có cố gắng phản ánh nhũng thành tựu và tiến bộ mới nhất của lĩnh vực nghiên cứu này nhưng vẫn mang đậm phần nhận thúc và cống hiến đặc thù của tác giả.

Trong phần lý thuyết về các hệ thống, tác giả đã giới thiện năm nguyên lý nói về năm đặc tính cơ bản của các hệ thống phức tạp là: tính mở, tính có chủ đích, tính đa nhiều, tính hợp trội, và tính phản trực cảm. Cả năm đặc tính đó đều rất quan trọng, nhưng đáng chú ý nhất là tính hợp trội của các hệ thống phức tạp, đặc tính này đã được biết đến từ lâu dưới mệnh đề quen thuộc “một hệ thống là lớn hơn tổng gộp của các thành phần tạo nên nó”; hợp trội thông qua các tương tác đa dạng của cạnh tranh, hiệp tác và thích nghi đang được nhiều nhà khoa học hệ thống nghiên cứu như là một cơ chế chủ chốt của các quá trình tiến hóa và phál triển trong hầu hết các lĩnh vục của tự nhiên, vật chất, sự sống, trí tuệ, kinh tế và xã hội.

Để tập trung vào các hệ thống kinh tế – xã hội, tác giả cho rằng các yếu tố cùng góp phần tạo dụng tương lai cần được tìm trong sự tương tác của năm thứ nguyên sau đây: Sản sinh và phân phối phúc lợi, sản sinh và truyền bá chân lý, sáng tạo và phố biến vẻ đẹp, hình thành và thể chế hóa các giá trị để điều chỉnh quan hệ người – người, và tính chính đáng và trách nhiệm của quyền lực. Năm thứ nguyên đó tương ứng với năm lĩnh vực chính của xã hội: kinh tế, khoa học, mỹ học, đạo đức và chính trị. Tác giả cho rằng khi xem xét sự phát triển của một hệ thống kinh tế – xã hội, cũng như khi thiết kế mặt tiến trình kinh doanh, cần phải quan tâm đến cả năm thứ nguyên đó, không coi nhẹ cái nào. Đó cũng là lý do của tên gọi mô hình văn hóa – xã hội mà tác giả sử dụng cho các mô hình của hệ thống trong khung mẫu tư duy về quản lý và kinh doanh hiện nay.

Tác giả đã dùng một tiêu đề khá lạ lùng cho phần Phương pháp luận hệ thống: Lôgic của sự điên rồ! Sau khi đã trình bày những ý tưởng triết lý và lý thuyết về hệ thống, phần này giới thiệu những điều cơ bản về phương pháp tư duy khi nghiên cứu hệ thông và thiết kế các giải pháp đối với các hệ thống quản lý và kinh doanh hiện đại. Logíc của các phương pháp mới này là “điên rồ” vì nhiều khi nó xa lạ với cái logic quen thuộc của các phương pháp duy lý truyền thống. Nếu phuơng pháp nghiên cứu theo khung mẫu tư duy thuộc thế hệ thứ nhất thường gắn liền việc xác định bài toán với việc thiết kế lời giải, thì theo khung mẫu mới của tư duy hệ thống, phương pháp nghiên cứu đòi hỏi tách hai việc đó với nhau, khi xác định mô hình của bài toán, tức mô hình hệ thống, theo cách nhìn toàn thể, cần tập trung phát hiện được đầy đủ các tương tác, các chủ đích của từng bộ phận,… , chưa thể xác định được hành vi của các bộ phận cũng như của hệ thống để mà thiết kế các giải pháp, vả chăng khó mà có ngay từ đầu một giải pháp toàn thể, giải pháp chỉ có thể được hình thành một cách tức thời tùy theo diễn biến thực tế của hệ thống qua sự vận động của các năng lực đổi mới, sáng tạo và thích nghi. Trong việc nghiên cứu hệ thống, không chỉ vận dụng các mô hình quen thuộc, các phương trình toán học, các tri thức định lượng, mà cần khai thác đầy đủ các mặt thông tin, tri tức và sự thấu hiểu (understanding) đối với đối tượng, bằng các lý luận duy lý và cả bằng trực giác và cảm thụ, trong thiết kế giải pháp không nên tuyệt đối hóa các lập luận logic hình thức và các phương pháp định lượng, cần nhớ rằng “thế giới này không phải được vận hành bởi nhũng người đúng, mà bới những người có khả năng thuyết phục người khác rằng mình đúng” một tình thế xung đột không nhất thiết chỉ được giải quyết bởi một giải pháp “ai thắng ai”, mà có thể tìm các giải pháp khác kiểu thắng/thắng, nghĩa là mọi bên đều thắng. Độc giả có thể tán thành hoặc phản bác nhiều ý tưởng đề xuất của tác giả, nhưng tôi hy vọng là nhiều ý tưởng khá đa dạng và phong phú trong cuốn sách sẽ gợi được cho chúng ta niềm cảm hứng dẫn đến nhiều suy tư mới mẻ và bổ ích.

Khác với nhiều cuốn sách nhận môn về Khoa học hệ thông, trong cuốn sách này tác giả đã dành hẳn một nửa sau cho phần Thực hành hệ thống để trình bài những úng dụng cụ thề các phần lý thuyết nói trên vào việc nghiên cứu và thiết kế một số dự án mà bản thân tác giá đã tham gia và có một vai trò tư vấn chủ chối. Đó là các dự án về: phát tiển dân tộc Oneida, hệ thống chăm sóc sức khỏe Butterworth, công ty Marriott, hệ thống kinh doanh năng lượng Commonwealth, và công ty Carrier Corporation. Việc lựa chọn các dự án trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã giới thiệu với chúng ta một khối lượng nội dung và các kinh nghiệm phong phú và rất đa dạng trong việc thực hành nhũng nguyên lý, lý thuyết và phương pháp luận của cùng một khung mẫy tư duy hệ thống trong thực tiễn vô cùng sinh động của cuộc sống thực tế. Từ hiểu biết lý luận cơ bản đến nhận thức thực tiễn là một quá trình sáng tạo vô cùng sinh động, với tư duy hệ thống ta hiểu rằng cứ mỗi bước đi vào thực tiễn là một bước đi vào vùng đất mới chưa có sẵn bản đồ, người thám hiểm phải tự vạch đường mà đi, hành trang chỉ là đôi mắt mới của một khung mẫu tư duy mới. Tôi tin rằng đọc kỹ phần thực hành hệ thống này chúng ta sẽ được rèn luyện sáng hơn đôi mắt mới của tư duy hệ thống để thêm vững vàng đi vào miền hỗn độn, phức tạp của rất nhiều những vấn đề thực tế mà chúng ta sẽ gặp phải.

Đây là một cuốn sách mà tôi nghĩ rằng rất khó dịch, vì thuộc một lĩnh vực tri thức mới, chưa có nhiều thuật ngữ tiếng Việt tương đương và chưa quen thuộc nhiều với bạn đọc Việt Nam. Dịch giả Chu Tiến Ánh đã có nhiều cố gắng to lớn để có thể giới thiệu sớm cuốn sách với độc giả nước ta qua bản dịch rất công phu của mình. Chắc là bản dịch không tránh khỏi khiếm khuyết, mong được quý vị độc giả góp ý kiến để lần xuất bản sau, và cả những bản dịch sau về chủ đề này, được hoàn thiện hơn.

Phan Đình Diệu (GS. TS. Đại học quốc gia Hà Nội)


Tựa

Đây là một cuốn sách phi truyền thống dành cho độc giả phi truyền thống. Dụng ý cuốn sách là viết cho những nhà chuyên môn mong muốn bổ sung vào tri thức nghề nghiệp những điều giúp mình nắm vững vấn đề trong cuộc sống sao cho bản thân hòa hợp với bối cảnh. Nó trò chuyện với những nhà tư tưởng và thực hành đã quán triệt rằng học tập để làm người (learning to be) cũng là bộ phận của cuộc đời nghề nghiệp thành đạt nhất thiết phải lĩnh hội được như học để làm việc (learning to do) mà những gì cứ vẫn đơn điệu một chiều thì sẽ trở thành dễ tiên đoán một cách nhàm chán.

Sách này đề cập một phương thức mới về nhìn nhận, thực hành và tồn tại trong thế giới, một đường hướng tư duy giữa tình thế hỗn độn và phức hợp. Nó chẳng phải là loại sách hướng dẫn, làm thế nào hoặc một thứ phương án lựa chọn để tìm ra cách đã sẵn có. Nó không phải là thứ sách trình bày một chủ đề chán ngán là cung cấp phiên bản tối tân về những đặc điểm chung của những ngườí đã thành đạt.

Cuốn sách này cũng không tuân thủ “quy tắc vàng” của những ấn phẩm bán chạy nhất. Tôi được biết về kinh nghiệm phải xử lý quá nhiều ý tưởng trong chỉ một cuốn sách tức là khiến cho đa số độc giả kém thoải mái, song khi đề xuất lựa chọn giữa đoạn tuyệt với thông điệp hay đoạn tuyệt chuẩn mực lại chính là con đường cần phải tiến bước. Ví thử sẽ chỉ có một số rất nhỏ làm được thôi thì cũng đành thế. Những ý tưởng giới thiệu trong sách này đã rất nhiều song đều hội tụ và cấu thành một khối tổng thể đẹp đẽ sâu sắc hơn rất nhiều so với bất cứ quan niệm nào tách biệt riêng lẻ. Do vậy, vẻ đẹp đích thực nằm trong sự thể nghiệm khối tổng thể trong đó mọi quan niệm được nhìn nhận như đã hỗn dung vào cái duy nhất.

Tuy nhiên, sách này vẫn muốn trò chuyện với bất cứ người nào mà niềm vui tư duy là sống động là phấn khích, mà nhiệt tình còn chưa cạn kiệt, thích thú những quan niệm gây kích thích dù chưa quen thuộc để tiêu khiển.

Nói thật ngắn gọn, cuốn sách bàn về các hệ thống. Mệnh lệnh của thực trạng tùy thuộc qua lại, tính tất yếu phải thu hẹp những tình huống phức tạp vô cùng vô tận, cũng như sự cần thiết phải đề xuất được những hướng tinh giản có thể quản lý được tất cả đòi hỏi phải có một phương phát luận hệ thống khả thi cùng với một bộ khung quy chiếu mang tính toàn thể (holistic) khả dĩ cho phép ta hội tụ vào những đối sách nổi trội và né trách được việc liên miên tìm kiếm thêm nhiều chi tiết hơn nữa để rồi chìm đắm trong khối thông tin vô dụng quá bộn bề.

Trái hẳn với ý nghĩ đã trở thành phổ biến khá rộng rãi, phép tiếp cận đa bộ môn như được nhận biết đông đảo chẳng phải là phép tiếp cận hệ thống. Khả năng tổng hợp nhiều thành tựu riêng rẽ để tạo thành một khối tổng thê gắn bó chặt chẽ là cấp tiến hơn nhiều so với khả năng thu gộp thông tin từ các nhãn quan khác nhau. Với định hướng thực tiễn nhưng vẫn có tính chất lý luận sâu, cuốn sách này chủ định vượt xa khỏi việc tuyên ngôn giản đơn về nguyện vọng tu duy hệ thống. Vận dụng một lược đồ công phu mệnh danh là “thiết kế lặp lại”, nó chủ trương đối ứng với các thách đố của sự tùy thuộc qua lại, lẫn lộn và chọn lựa.
Phép thiết kế lặp lại thừa nhận hiển nhiên rằng việc lựa chọn chính là trung tâm của sự phát triển của loài người. Phát triển là năng lực lựa chọn, thiết kế là phương tiện, là cỗ xe để đẩy nhanh việc lựa chọn và tư duy toàn thể. Tại sách này, các nhà thiết kế nỗ lực để lựa chọn chứ không tiên tri về tương lai. Họ nỗ lực hiểu thấu các chiều cạnh lý trí, cảm xúc và văn hóa của sự lựa chọn và tạo ra một dự án thiết kế đủ sức thoả mãn hàng loạt chức năng. Họ học tập để làm thế nào vận dụng điều họ đã biết, thâu thái những điều chưa biết và làm thế nào học được điều họ cần phải biết.

Sách này chia là 4 phần. Phần I xác định nơi nào tư duy hệ thống phù hợp với lược đồ tổng thể của các vấn đề. Nó cung cấp một cái nhìn tổng quan, một bức tranh toàn cảnh của những truyền thống lý luận chủ yếu về quản lý và tư duy hệ thống cùng với các mối tương quan giữa chúng.

Phần II và III là nội dung chủ chốt của sách. Phần II thảo luận 5 nguyên tắc hệ thống với tính cách là các nền tảng xây dựng của mô hình trí tuệ được vận dụng để sản sinh ra các giả thuyết ban đầu về hệ thống. Nó cũng xác định đầy đủ cả một tập hợp biến lượng mà gộp lại sẽ miêu thuật được một tổ chức trong tổng thể của tổ chức ấy. Phần III trình bày rộng rãi việc phát triển phép thiết kế lặp lại kèm theo những đời hỏi thực tế khi xác định được các vấn đề và thiết kế các giải pháp.

Phần IV tường thuật 5 trường hợp thực tế về thiết kế dạng kiến trúc kinh doanh. Dân tộc Oneida, các hãng Butterworth Health Systems, Marriott Corporation, Commonwealth Energy Systems và Carrier Corporation có thể là đại diện tiêu biểu cho một nhóm đa dạng các tổ chức xã hội thách đố. Tôi mệnh danh các tổ chức này là “gan dạ hiếm có”, bởi lẽ họ đã sẵn lòng thực nghiệm nhiều giải pháp chưa thông dụng mà không hề lo ngại về chuyện ai đã thi hành đầu tiên. Tôi xin bày tỏ lòng cảm tạ các tổ chức này về sự tin tưởng cũng như cho phép tôi được tóm tắt các dự án thiết kế tại đó với những người khác.

Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân

Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân thể hiện ở độ cao của núi thiêng Cailat (6666 mét) mang ý nghĩa toàn cầu, nó nhắc nhở ta về những quy luật của hành tinh chúng ta. Nhưng tại sao các quy luật đó lại liên can tới những con số 6666 dữ tợn? Bởi Trái đất vốn hiền hòa và hành tinh chúng ta vốn xanh tươi cơ mà!

Tiến sĩ y học, giáo sư, giám đốc Trung tâm phẫu thuật mất và tạo hình Liên bang Nga của bộ Y tế Nga, thầy thuốc công huân đã được thường huy chương “Vì những cống hiến cho ngành Y tế nước nhà”, nhà phẫu thuật hàng đầu, nhà tư vấn danh dự của đại học Tổng hợp Luinsvin (Hoa Kỳ), viện sĩ Viện hàn lâm nhãn khoa Mỹ, bác sĩ nhãn khoa có bằng của Mêhicô, kiện tướng môn du lịch thể thao, ba lần đạt kiện tướng của Liên bang Xô Viết.

Erơnơ Munđasep là nhà bác học lớn có tên tuổi trên trường quốc tế. Ông là người khai sáng phương hướng mới trong Y học – phẫu thuật tái sinh, tức phẫu thuật “cấy ghép” mô người. Ông là người đầu tiên trên thế giới tiến hành phẫu thuật cấy ghép mắt thành công. Hiện nay ông đang nghiên cứu những cơ sở của phẫu thuật tái sinh hàng hoạt các cơ quan của cơ thể con người.

Nhà bác học đã nghiên cứu 90 loại phẫu thuật mới, sáng chế và đưa vào ứng dụng 60 loại nguyên liệu sinh học alloplant, công bố trên ba trăm công trình khoa học, nhận 56 bằng sáng chế của Nga và nhiều nước trên thế giới. ông đã thỉnh giảng và phẫu thuật ở trên 40 nước. Hàng năm phẫu thuật từ 600 đến 800 ca phức tạp nhất.

Erơnơ Munđasep thú nhận rằng, cho đến giờ ông vẫn chưa hiểu hết thực chất của sáng chế chủ yếu của mình là nguyên liệu sinh học “anoplant”, được chế tạo từ mô người chết, mang trong mình nó những cấu tạo tự nhiên cao siêu trong việc sáng tạo cơ thể con người, vì thế trong quá trình nghiên cứu, ông không chỉ tiếp xúc với các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực (vật lý, sinh học phân tử…) mà còn tìm hiểu cơ sở của các tín ngưỡng tôn giáo và huyền học, nghiên cứu năng lượng tâm thần và những vấn đề có liên quan đến nguồn gốc loài người và vũ trụ.

Chính vì thế ông đã tổ chức bốn chuyến khảo sát khoa học Himalaya và Tây Tạng rất hữu ích đối với việc tìm hiểu phẫu thuật tái sinh. Ngoài ra trong những chuyến đi thám hiểm đó còn có những khám phá mang tính lịch sử và triết lý. Sau chuyến đi khảo sát thành công Himalaya lần thứ nhất Erơnơ Munđasep đã cho ra đời cuốn Chúng ta thoái thai từ đâu được tái bản nhiều lần và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

Xin giới thiệu với độc giả cuốn sách mới của ông Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân, một câu chuyện kể dí dỏm, hấp dẫn, nhưng thực chất mang tính khoa học sâu sắc, đề cập tới những vấn đề triết học toàn cầu.

R. T. Nigmatulin
Tiến sĩ Y học, giáo sư viện sĩ Viện HLKHTN Nga

Các lạt ma hóa thân

Sách thu hút bạn đọc các giới trước hết do sức hấp dẫn của những câu chuyện truyền miệng vốn có từ lâu về xứ sở huyền bí Tây Tạng. Mà, theo truyền thống tâm linh, người ta tin, sau khi chết, một vị lạt ma có thể hóa thân thành một người khác.

Vị ấy sẽ ra đời trở lại, nghĩa là nhập thai rồi tái sinh, dưới hình dạng của một đứa bé. Người ta đi tìm đứa bé mà ngài đầu thai thành, xác định đó là ngài bằng cách dựa vào dấu hiệu, vào vật chứng, vào các bài kệ được ngài thông báo trước khi lìa đời. Lobsang Rampa là một vị như vậy, đã tái sinh trong gia đình quý tộc thế lực vào bậc nhất Tây Tạng đầu thế kỷ 20. Người ta đã nhìn ra ông năm 7 tuổi, đưa thẳng vào tu viện Chakpori và điện Potala ở thủ đô Lhassa, để bắt đầu cuộc sống nghiêm khắc, tuyệt đối xa hẳn gia đình, để trầm mình trong “hồi sinh thanh khiết”, kéo dài 7 năm tiếp đó. Một hôm, người ta dẫn ông xuống đường hầm bí mật nằm dưới điện Potala. Ở đấy ông đã bừng tỉnh khi nhìn thấy xác ướp của chính mình trong kiếp trước đang được lưu giữ với tư thế tọa thiền. Cuộc đời tiền kiếp lần lượt được hồi tưởng. Từ đó, ông nối tiếp lại tâm nguyện quá khứ bằng những hành động của một thanh niên sung sức. Và rồi, chính ông viết lại những trang hồi ký sống động và lạ lùng về sứ mệnh của mình.

Phần cuối sách kể về cuộc đời của một vị thánh-thi sĩ: Milarepa – một cuộc đời luôn luôn mới và đẹp, như lời ca mà thi sĩ đã lặng lẽ hát vang vào mỗi sáng lạnh lẽo, cô độc, giữa các thạch động đầy tuyết trên Hy Mã Lạp Sơn. Phần này bổ sung thêm những điều cần biết về thế giới của Các lạt ma hóa thân.

Nhà xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc) in năm 1962 và được Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật (Việt Nam) dịch sang tiếng Việt từ 1988, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành-2003 theo bản dịch của Lê Nguyễn.

Cái lý và nghịch lý qua Einstein – dấu ấn trăm năm

Bạn hãy tìm lấy những giây phút tĩnh lặng một mình dưới bầu trời đêm, ngắm nhìn những ngôi sao leo lét phía chân trời. Biết đâu cái thế giới xa xăm ấy đã lụi tàn hàng trăm triệu năm trước mà ánh sáng vẫn cứ lầm lũi hành trình qua vũ trụ mênh mông để mang đến cho bạn những dấu ấn của một thời.

Tận hưởng những giây phút được bay bổng trong cái bao la vô tận ấy của không gian và thời gian, có bao giờ bạn thấy ngỡ ngàng hóa ra ánh sáng mà giác quan ta không ngừng cảm nhận hằng ngày lại mầu nhiệm đến thế!

Vật lý học suốt thế kỷ 19 đầy ắp những công trình nghiên cứu về ánh sáng. Nó có hình hài ra sao, sinh ra và mất đi như thế nào, cái gì làm giá đỡ để nó có thể lan truyền được trong khoảng chân không vô tận của vũ trụ?

Cũng từ mảnh đất tư duy này mà bao nhiêu tên tuổi đã đi vào sử sách nhân loại. Nhưng họ vẫn không sao đặt chân đến kho báu mà Thượng đế đã cố tình giấu kín. Phải đợi đến đúng 100 năm trước đây, năm 1905 kỳ diệu, khi Albert Einstein công bố liền trong sáu tháng bốn công trình khai phá cho khoa học tiến sâu vào thế giới vi mô với thuyết lượng tử và thuyết tương đối là nền tảng. Từ đó nền văn minh của nhân loại đã tiến lên một tầm cao mới như ngày nay.

Người làm nên kỳ tích đó lại là một chàng trai 26 tuổi, mãi không tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp đại học, đành phải bằng lòng làm một nhân viên bình thường ở Cục Cấp bằng sáng chế Thụy Sĩ miễn sao đủ tiền nuôi vợ nuôi con để còn rảnh tay đi đến tận cùng nơi kho báu, ước mơ vốn đeo bám từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Nghịch lý quá!

Nhưng những chuyện nghịch lý như thế đầy ắp qua cuộc đời và sự nghiệp của Einstein. Cái lý và nghịch lý đan quyện nhau, có khi cái nghịch lý là lớp sơn phủ lên cái lý, cũng có khi cái lý lại bắt nguồn từ chính cái nghịch lý. Bởi chúng ta vốn quen xem nghịch lý là những gì ngược với số đông, với chính thống, với đức tin và tập tục.

Einstein không thế. Ông tự do thoát ra khỏi những khuôn phép đó, nhờ vậy đối với ông dường như không thấy đường ranh rạch ròi giữa cái có lý và nghịch lý mà nhiều khi người khác thường xem là hai thái cực.

Đương nhiên, tự do có cái giá phải trả mà vĩ đại như Einstein đành chấp nhận. Và đây chính là bức tường thành sừng sững mà thế hệ ngày nay dù có muốn noi theo con người tiêu biểu nhất của thế kỷ 20 này cũng chưa chắc đã dám vượt qua.

Làm sao dám nghiên cứu khoa học mà không hề được ai tài trợ? Chẳng những thế lại sản sinh ra những công trình tầm cỡ nhất thế giới. Cái lý nằm ở đâu bên trong cái nghịch lý khổng lồ này?

Có đấy, đó chính là niềm đam mê khám phá, đam mê đến tột cùng cái đẹp của tự nhiên. Đó cũng chính là lẽ sống của họa sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ, nhà nghệ thuật, những người luôn tìm thấy ở Einstein nguồn tư duy sáng tạo của mình.

Tại sao chỉ đeo bám theo những ý tưởng “mông lung” ít ai phải bận tâm trong cuộc sống thường nhật như không gian, thời gian, như hạt phấn hoa lơ lửng trong nước… mà Einstein lại in những dấu ấn đậm nét nhất trong rất nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ, triết học, nghệ thuật và được bình chọn là gương mặt tiêu biểu nhất của thế kỷ 20?

Có thể chưa thật đầy đủ nhưng Einstein – dấu ấn trăm năm do Nhà xuất bản Trẻ phối hợp với báo Tia Sáng vừa ấn hành đã cố gắng làm sáng tỏ phần nào cái nghịch lý dai dẳng và khổng lồ này trong thời đại chúng ta.

Lược khảo tư tưởng Thiền trúc lâm Việt Nam

Cùng với khuynh hướng tìm về cội nguồn, việc nghiên cứu thiền Trúc Lâm Yên Tử – một thiền phái Việt Nam, do người Việt Nam tạo dựng và phát triển – là một vấn đề cần thiết và cấp bách. Thông qua việc nghiên cứu một trường phái Phật giáo Việt Nam sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu tổ tiên chúng ta hơn, hiểu con người Việt Nam trong lịch sử hơn. Từ đó giúp chúng ta trở về với cội nguồn một cách đích thực, trở về với những tinh hoa văn hóa của dân tộc.

Mặt khác, triết học là hạt nhân của văn hóa. Nghiên cứu tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm còn giúp ta phần nào hiểu dược bề sâu, bề dày của Văn hóa Việt Nam nói chung, đặc biệt là văn hóa Việt Nam thời Trần, thời thinh tri của Quốc gia Đại Việt Từ việc hiểu ông cha, con người Việt Nam hơn, từ việc hiểu văn hóa Việt Nam hơn sẽ góp phần đặt cơ sở khoa học cho việc hoạch đinh một đường lối khả thi, thích hợp, hữu hiệu cho sự phát triển đất nước, kết hợp được những tinh hoa của dân tộc với tinh hoa của thời đại, đưa nước ta tiến nhanh ở những giai đoạn đầu của thế kỷ XXI. Với tầm quan trọng như vậy, việc nghiên cứu thiền Trúc Lâm Yên Tử cỏ ý nghĩa cần thiết hơn bao giờ hết.

Mục đích của việc nghiên cứu này là vạch ra những điểm độc đáo, đặc sắc cửa Phật giáo thời Trần, đặc biệt là thiền Trúc Lâm Yên Tử. Vai trò, vị trí của thiền Trúc Lâm Yên Tử trong lịch sử Việt Nam cũng như Phật giáo nói chung và lịch sử tư tưởng triết học nói riêng. Từ đó quy đinh nhiệm vụ của công trình này là lý giải tại sao thiền phái Trúc Lâm lại xuất hiện? Nó xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay là qui luật tất yếu của lịch sử? Những tư tường triết học cơ bản của tam tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang) là gì? Những tư tưởng này bắt nguồn từ đâu? Ai là người đặt cơ sở nền tảng? Tại sao Phật giáo Việt Nam mà cụ thể là thiền Trúc Lâm sau Huyền Quang lại dần dần bị phai mờ?

Với tầm quan trọng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử như vậy, nên cho đến nay đã có khá nhiều công trình ở các cấp bậc, góc độ khác nhau đề cập đến nó. Về diện rộng phải kề đến những cuốn sách liên quan đến văn hóa, xã hội, mỹ thuật thời Trần như “Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần”, “Mỹ thuật thời Trần”, “Văn thơ Lý – Trần”, ‘Văn học thời Trần”, được sử văn học Phật giáo đời Trần”, “cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông”… Ngoài ra còn một số bài báo về văn thơ, tư tưởng, tôn giáo, văn hóa, sử học, khảo cổ học, dân tộc học … về thời Trần đã góp phần tạo nên khuôn mặt thời ấy khá phong phú.

Nghiên cứu Trúc Lâm Yên Tử còn được đề cập trong những công trình về phật giáo như cuốn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Viện Triết học do Nguyễn Tài Thư làm chủ biên “Việt Nam Phật giáo sử luận” (của Nguyễn Lang), “Lược sử Phật giáo Việt Nam” (của Thích Minh Tuệ), “Việt Nam Phật giáo sử lược” (của Thích Mật Thể), “Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII” (của Trần Văn Giáp), “Thiền sư Việt Nam” (của Thích Thanh Từ), ” Phật giáo Việt Nam” (của Nguyền Đăng Thục), “Thiền học đời Trần” của Viện Phật học thành phố Hồ Chí Minh…

Những công trình về lịch sử tư tưởng cũng ít nhiều đề cập đến thiền phái Trúc Lâm, chẳng hạn như “Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập I” của Viện Triết học do Nguyễn Tài Thư chủ biên, “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” (của Nguyễn Đăng Thục)…

Ngoài ra phải kể đến những công trình nghiên cứu trực tiếp thiền phái Trúc Lâm như “Yên Tử non thiêng” (Sở Văn hóa Quảng Ninh), “Non thiêng Yên Tử” (Nxb Văn hóa Thông tin 1994), “Yên Tử và thiền phái Trúc Lâm” (Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ninh), ‘Tam tố Trúc Lâm” của Thích Thanh Từ, những bài báo của các nhà nghiên cứu như Hà Văn Tấn, Nguyễn Duy Hinh, Nguyền Huệ Chi, Tạ Ngọc Liễn, Minh Chi, Đỗ Thọ Việp… của các nhà phật tử như Thích Thanh Từ, Thích Gia Quang, Thích Trí Quảng…

Nghiên cứu thiền phái Trúc Lâm không thể không tính đến những tác phẩm của người xưa, những văn bản gốc như “Thiền Uyển tập anh”, “Tam tổ thực lục”, “Thánh đăng lạc”, “Khóa hư lục”, “Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục”, “Trần triều đặt tồn phật điển lục”, “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, những tác phẩm của Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được sưu tầm, tập hợp in trong cuốn “Thơ Văn Lý Trần”…

Nhìn chung, trừ những văn bản gốc, những công trình trên đã đề cập tới những khía cạnh khác nhau của Thiên Trúc Lâm Yên Tử kể cả khía cạnh tư tưởng triết học. Nhưng phải nói một cách khách quan, ở góc độ triết học này, các công trình trên trình bày chưa được sâu và phần nào chưa được hệ thống, do đó mạch ngầm, tính lôgíc của tư tưởng phần nào còn bị lu mờ. Điều này cũng dễ hiểu bởi lẽ nhiệm vụ, mục đích của những công trình trên khác nhau chứ không thật chuyên về triết học. Bởi vậy, việc nghiên cứu này mong góp được một phần nhỏ bé vào việc lấp những khoảng trống trên.

Triết học với sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá

Trong quá trình phát triển. của khoa học và thực tiễn, triết học luôn giữ vai trò đặc biệt – cơ sở thế giới quan và phương pháp luận. Không phải ngẫu nhiên mà nhà triết học. đồng thời là nhà khoa họe tự nhiên Rene Descartes cho rằng : “Triết học là sự thể hiện cơ bản nhất sự thông thái của con người không chỉ trong lĩnh vực nhận thức mà cả trong các công việc khác” 1) Kết luận này của Rene Dcscartes đáng để cho chúng ta suy ngẫm!

Hiện nay, chúng ta đang triển khai quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để nhanh chóng đưa nước ta đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh. xã hội công bằng, “văn minh”. Sự nghiệp cách mạng to lớn này đã và đang đặt ra những vấn đề lý luận và phương pháp luận cấp bách. Nó đòi hỏi “Các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ phải được quan tâm đầu tư phát triển, chú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Máe-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Mình, các thành tựu khoa học và công nghệ của nhân loại để góp phần đắc lực vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người.

Để góp phần tìm hiểu những vấn đề triết học của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, đồng thời tham gia vào việc triển khai nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng vào cuộc sống ; chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách “Triết học với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của PTS. Nguyễn Thế Nghĩa – Giám đốc Trung tâm triết học Viện khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Trung tâm khoa học xã bội và nhân văn quốc gia.

Chúng tôi hy vọng rằng, cuốn sách không chỉ góp phần làm sáng tỏ những tri thức triết học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta; mà còn kích thích tư duy sáng tạo của những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề này: đồng thời cuốn sách cũng đáp ứng được phần nào nhu cầu nghiên cứu giảng dạy và học tập triết học của thầy và trò trong các viện nghiên cứu, các trường đại học và cao đẳng. Cho phép tôi được trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc gần xa!

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8 năm 1997
PGS. PTS. Mạc Đường
Viện trưởng Viện khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh


(1) R. Descartes. Các nguyên lý triết học. “Văn tuyển triết học thế giới”. M, 1970, tr. 232.

(2) ĐCSVN. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB Chính trị quốc gia, HN. 1996, tr.28-29.

Câu truyện về phương trình thâu tóm cả vũ trụ

Với những giai thoại dí dỏm, ly kỳ vừa giàu chất chuyện kể, vừa mang tính hàn lâm. Sách đã làm sống lại lịch sử, đặc biệt là những sự kiện nóng bỏng vừa xảy ra cách đây một – hai năm làm thay đổi hẳn cách nhìn về vũ trụ…

Nếu bạn có một tủ sách trông ra vườn, thì bạn còn thiếu gì nữa đâu?

“Con người là một cây sậy yếu ớt nhưng có tư tưởng”, đó là một nhận định của Blaise Pascal. Nhờ có tư tưởng loài người trở thành một thực thể đặc biệt trong vũ trụ, ít nhất đến khi chúng ta chưa phát hiện được một thực thể nào khác cũng có tư tưởng như chúng ta.

Cái tư tưởng ấy làm cho con người luôn luôn phải lục vấn. Một trong những lục vấn sâu xa nhất là câu hỏi: Vũ trụ từ đâu mà ra? Câu hỏi này đã có từ hàng ngàn đời nay, nhưng mãi đến thế kỷ 20 mới có câu trả lời: Lý thuyết Big Bang. Đó là một sự kiện vĩ đại của nhận thức. Lý thuyết này ra đời khi các nhà khoa học truy ngược hiện tượng vũ trụ giãn nở về quá khứ Nhưng xuôi theo chiều thời gian, vũ trụ học phải đối mặt với một trong những câu hỏi khoa học và triết học lớn nhất thế kỷ 20 : Số phận tưong lai của vũ trụ sẽ ra sao? Nhiều kịch bản đã được thiết kế, đôi khi mâu thuẫn đối chọi nhau: vũ trụ tinh, vũ trụ co, vũ trụ dãn, vũ trụ đàn hồi, vũ trụ tuần hoàn, v.v. Và phải đợi đến thời điểm bản lề chuyển sang thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới, khoa học mới tìm thấy một kịch bản sát với hiện thực : Vũ trụ sẽ giãn nở mãi mãi! Đây cũng là một sự kiện vĩ đại của nhận thức.

Với những thắng lợi lớn lao của vũ trụ học như hiện nay, nhà vũ trụ học Micheal Turnur tại Fermilab phải thốt lên rằng chúng ta đang sống trong “Thế kỷ vàng của vũ trụ hạch (The Golden Age of Cosmology!).

Nhưng cái gì đã giúp cho loài người làm nên “Thế kỷ vàng” đó? Câu trả lời: Phương Trình của Chúa! Đó là phương trình trường trong Tuyết tương đối tổng quát của Albert Einstein. Cuốn sách Câu chuyên về một phương Trình thâu tóm cả vũ trụ (dịch từ cuốn God’s Equa tion) của Amir Aczel là câu chuyện về phương trình kỳ lạ đó, về lịch sử và ảnh hưởng sâu xa của nó đối với nhận thức của nhân loại, về ý nghĩa nền tảng của nó đối với khoa học hiện tại và tương lai.

Nếu không dẫn giải quá trình lịch sử và diễn biến logic trong tư duy, cộng với thiên tài bấm sinh của một con người kỳ lạ như Einstein. sẽ rất khó để hiểu được làm sao mà một phương trình có thể thâu tóm được cả vũ trụ như thế Thật vậy hằng số vũ trụ, một sáng tạo vừa quái dị vừa phi thường của Einstein và chỉ của Einstein mà thôi, tưởng là một số hạng dư thừa trong phương trình trường, hóa ra lại chứa đựng toàn bộ bí mật của vũ trụ trong nó. Nó không những giúp giải thích những hiện tượng vũ trụ học đã biết, mà còn cho phép tiên đoán hàng loạt bí mật của vũ trụ. Một trong những bí mật lớn nhất đã trở thành chủ đề trung tâm của vật lý và vũ trụ học thể kỷ 21 là năng lượng tối – nguyên nhân gây nên lực phản hấp dẫn làm vũ trụ giãn nở gia tốc như hiện nay; Hoàn toàn không ngoa ngoắt để nói rằng nếu nhận thức của loài người có cái gì kỳ lạ nhất, và nếu bản thân vũ trụ có gì kỳ lạ nhất thì đó là hằng sô vũ trụ của Einstein!

Với những giai thoại thú vị, dí dỏm, “ly kỳ”, vừa giàu chất chuyện kể, vừa thấm đậm chất nhân văn, vừa mang tính hàn lâm, Câu chuyện về một phương Trình thâu tóm cả vũ trụ đă làm sống lại lịch sử, đặc biệt là những sự kiện sôi động đầu thế kỷ 20, và những sự kiện nóng bỏng mới xảy ra cách đây một – hai năm làm thay đổi hàn cách nhìn về vũ trụ.

Qua đó không những độc giả có thể hiểu rõ hơn lai lịch, nguồn gốc của Thuyết tương đối tổng quát – một sản phẩm nhận thức đến nay đã được coi là cổ điển nhưng vẫn là trụ cột của tòa nhà vật lý – mà còn có một cái nhìn tổng quan về vật lý và vũ trụ học hiện đại.

Vì là chuyện kể về một phương trình nên không thể tránh đề cập đến một số chi tiết kỹ thuật, một số ký hiệu và công thức toán lý đôi khi khó hiểu, bởi lẽ tác giả không the trình bày kỹ hơn . Nhưng điều đó không hề làm mất đi cái thần hấp dẫn của câu chuyện.

Những chủ đề cơ bản của Triết học phương Tây

Lời giới thiệu của Nhà xuất bản

Trong diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng ta đ/c Nông Đức Mạnh, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đã khẳng đinh. “Các văn kiện được thông qua tại Đại hội là sản phẩm kết tinh trí tuệ, thể hiện ý chí và quyết tâm của toàn Đảng và toàn dân ta: là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những giá trị của nhân loại (Người trích nhấn mạnh) vào giai đoạn cách mạng hiện nay của nước ta. (Báo Nhân dân sô 14356 ngày 23/4/2001, Hà Nội).

Các nhà kinh điển của chủ nghĩ Mác luôn công khai thừa nhận học thuyết của mình là sự kế thừa có sáng tạo những giá trị nhân loại. Điều đó được thể hiện qua từng tác phẩm của mình. Chúng ta có thể tìm thấy dấu ấn đó qua từng trang viết, qua từng tác phẩm. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác còn đánh giá rất cao những công trình, những ý tưởng của những người đi trước. Ví như Mác đã coi Aristote là nhà triết học, nhà tư tưởng lớn nhất thời cổ đại, còn Angels thì coi ông là nhà triết học có đầu óc uyên bác nhất trong những nhà triết học Hy Lạp. Những ví dụ như vậy còn nhiều ngay cả. đối với những nhà triết cổ đại khác.

Engels luôn kêu gọi chúng ta hãy nghiên cứu và nắm vững lịch sử triết học của thế giới, cái kho tàng đầy ắp những giá trị tư tương của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người vĩ đại và danh nhân văn hóa thế giới, là con người xuất chúng về nhiều phương diện trong đó phải kể đến việc Người là biểu tượng của sự kết tinh nhuần nhuyễn những giá trị của dân tộc và của nhân loại. Gần đây một cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh được xuất bản tại Mỹ, tác giả là nhà sử học Mỹ, Wiliam J.Ducker, ca ngợi Bác Hồ là nhà yêu nước cách mạng duy nhất trên hành tỉnh đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ trong lời tuyên bố khai sinh ra đất nước Việt Nam yêu dấu của mình, đã làm sáng tỏ chân lý: Hồ Chí Minh là nhà cách mạng tài ba và được mến phục nhất thế kỷ XX (Báo An ninh thế giới số 228 ra ngày 16/5/ 2001 tại Hà Nội). Không chỉ có như vậy mà Bác còn trích cả lời trong bản tuyên ngôn dân quyền của Pháp.

Đảng ta kiên trì quan điểm nói trên trong suốt những chặng đường cách mạng của dân tộc, đặc biệt là trong thời kỳ hiện nay, thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Để rút ngắn khoảng cách giữ chúng ta và các nước phát triển trên thế giới thì việc phát huy nội lực kết hợp với việc tiếp thu những giá trị của nhân loại là điều hiển nhiên.

Trên tinh thần và quan điểm nói trên. Nxb Văn hóa – Thông tin xin giới thiệu với bạn đọc tác phẩm “Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây” do nhà nghiên cứu Phạm Minh Lăng biên soạn.

Để tiện cho việc tiếp xúc với tác phẩm, chúng tôi xin có đôi điều thưa trước:

Như tên gọi, trong tác phẩm này tác giả không nhằm giới thiệu với bạn đọc trọn vẹn bất cứ một trào lưu triết học nào đã có trong lịch sử mà chỉ giới thiệu từng chủ đề mà các trào lưu triết học bàn tới, hoặc ít hoặc nhiều đã bày tỏ quan điểm của mình về hu đề đó. Từ đó bạn đọc có thế nắm được những quan điểm rất khác nhau, đa dạng và phong phú thậm chí đối địch nhau trong từng vấn đề. Do đó sẽ giúp cho bạn đọc mở rộng tầm nhìn của mình cũng như mở rộng sự suy tư của mình phát triển và sáng tạp do chính mình tiến hành, không lệ thuộc vào bất cứ ai.

Nói cách khác đây là quan niệm đã được áp dụng trên thê giới lâu nay, làm cho người đọc trớ thành “đồng tác giả” của tác phẩm (co-auteur). Quan niệm đó cũng đã được áp dụng trên nhiều lĩnh vực sáng tạo khác nhau như nghệ thuật, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên bất cứ một tác phẩm nào cũng có khuynh hướng của tác giả chính, nhưng cách làm tốt nhất là hãy dành cho độc giả một khoảng cần thiết để mỗi người suy tư, sáng tạo, tự lựa chọn một cách độc lập, tránh mọi áp đặt khiên cưỡng không có lợi cho sự phát triển trí tuệ một cách bình thường, tự nhiên. Hơn nữa, đây còn là cách thể hiện mềm tin vào sự hiểu biết và sự trong sáng về tâm hơn của bạn đọc.

Triết học là một ngành học có những đặc trưng cũng như ngôn ngữ riêng như mọi ngành học khác. Nhưng cái khác của triết học là sự khái quát cao và rất trừu tượng. Vì thế, nghiên cứu triết học đòi hỏi sự suy ngẫm, đúng ra là sự suy nghiệm của từng người. Nhiều nhà triết học đã từng khẳng định rằng, đứng trước những luận văn triết học như đứng trước những câu đố. Có người còn nói một cách hình ảnh hơn là như đúng trước một tờ giấy bóng mờ mà hình ảnh cứ bị mờ dần đi. Cũng vì thế người ta cho rằng tìm hiểu triết học là một sự mò mẫm, là sự phỏng đoán như người đoán mộng để tìm ra cái thần của triết lý, của câu văn. Điều này không chỉ có liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ của môn học nói chung mà còn tuỳ thuộc vào từng trào lưu triết học cũng nhu của từng nhà triết học trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ví như chủ đề tồn tại (exister) này được hiểu là hiện hữu. Sự thay đổi này không đơn thuần là hình thức mà là một sự thay đổi về nội dung vì hiểu theo nghĩa trước kia cũng như nghĩa thông thường là để chỉ mọi cái đang có mặt ở trên đời. Nhưng “tồn tại hiểu theo nghĩa hiện nay là sự có mặt đó là sự có mặt của cái không sông, của cái đã chết, của cái thô sơ (Brut), của cái vô hồn nên cũng là cái vô nghĩa. Còn tồn tại được hiểu là sự hiện hữu, là cái đang sống, cái có ý nghĩa, luôn tưng bừng, náo nhiệt và biên đổi từng giờ từng phút được cái tôi quan tâm và cái sự sông này lại do con người và chỉ có con người làm được, vì con người có đời sống tinh thần, là cái có ý nghĩa đối với sự sống của từng người.

Cũng như khái niệm văn hóa (culture). Trong từ văn hóa (culture) có từ culte (đạo, hay là cái đáng được tôn thờ). Cho nên có quan niệm khăng đinh rằng: trong văn hóa phải có cái Đạo tức là cái để tôn thờ như là một nguyên tắc. Trong trường hợp này có vấn đề hình thức: vì culte (đạo) là bộ phận chính của từ culture. Nhưng cái quan trọng hơn là vấn đề về nội dung, về tinh thần, về triết lý, nghĩa là cái được xem là văn hóa nhất thiết phải có cái Đạo của nó, phải có cái đáng được tôn thờ chứ đâu phải là tất cả nhũng cái mà ta gọi là văn hóa phi vật thể và văn hóa vật thể mà không tính đến cái Đạo. Điều này cũng gợi ra cho chúng ta khi xem xét cái gì là văn họa đích thực và cái gì là không văn hóa, cái gì là truyền thông và cái gì không phải là truyền thống.

Cũng như thế khi ta xem rét lý thuyết về “sự vô luân” của Nietzsches. Chớ nên vội vàng cho rằng đây là một lý thuyết chủ trương sống vô luân, vô đạo đức. Hoàn toàn không phải nhu vậy. Nietzsches chỉ coi luân lý của kẻ có quyền thế vô luân đối với những người không có quyền lực vì nó không quan tâm gì đến lợi ích của họ. Còn những người không có quyền lực lại có nền luân lý riêng của mình. Riêng việc gọi nền văn hóa của kẻ có quyền thế trong xã hội đầy quyền uy là vô luân đã khẳng định là có một nền luân lý riêng của những người không có quyền lực. Nói vậy không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn nhất trí với Nietzsches về mọi vấn đề, ngay cả trong vấn đề luân lý. Nhưng về quan niệm thì chúng ta cũng khó có thể gán cho quan niệm trên của Nietzsches là quan niệm vô đạo đức, coi thường nền luân lý. Nêu vài ví dụ trên trong vô sô những ví dụ tương tự để lưu ý các bạn là muôn nắm được cái thần của từng triết lý thì phải hiểu cho đúng những đặc thù và ngôn ngữ mà các nhà triết học diễn đạt. Điều đó không hề cản trở việc chúng ta phê phán những ý tưởng triết học mà chúng ta không đồng tình. Trái lại nó còn giúp cho chúng ta nhận diện đúng diện mạo từng triết lý để cho việc phê phán xác đáng hơn, khoa học hơn và đương nhiên có tính thuyết phục cao hơn.

Cuối cùng nếu như sau khi tiếp xúc với tác phẩm mà mỗi bạn đọc rút ra được một vài điều bổ ích đối với cả những cái mà chúng ta gọi là giá trị cũng như cái mà chúng ta chưa công nhận là giá trị thì đã là điều đáng khích lệ đối với những người đóng góp vào việc cho ra đời tác phẩm này. Vì như người ta thường nói khi tôi bị một tên lừa đảo đánh lừa thì đó cũng là một dịp để tôi biết (khám phá) về chính con người của tôi, cũng như về cuộc đời, về người khác. Cái không hoàn thiện trong triết học truyền thống chắc không ít nhưng chúng ta nên coi đó như là những gợi ý, những vấn đề để cùng suy ngẫm, tìm tòi đế cùng nhau làm sáng tỏ những vấn đề mà lịch sử để lạí cho chúng ta. Điều đó chắc chắn không phải là vô bổ với những ai có cái nhìn thiện chí về lịch sử.

Xin chân thành cảm ơn!


Mục lục

THAY LỜI TỰA

MỞ ĐẦU. NHỮNG QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ TRIẾT HỌC

I – NỀN VĂN HÓA NHÂN BẢN
1. Văn hóa và khoa học kỹ thuật
2. Văn hóa và nghệ thuật

II – TRIẾT HỌC – SỰ CẦN THIẾT VÀ MỤC ĐÍCH CỦA TRIẾT HỌC. SỰ TƯ DUY VÀ SỰ THÔNG THÁI
1. Mối quan hệ giữa triêt học và các khoa học
2. Triết học và cuộc đời
3. Mục đích của triết học

III – Ý THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC

IV – MỘT SỐ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA Ý THỨC
1. Sự chú ý
2. Sự cảm biết
3. Sự ghi nhớ
4. Sự tưởng tượng và thế giới những hình ảnh
5. Ngôn ngữ

V – LÝ THUYẾT VỀ SỰ NHẬN BIẾT
1. Sự nhận biết khái niệm trừu tượng và sự nhận….
2. Trực giác (thức giác) và sự hiểu biết
3. Sự phán đoán và sự tập hợp những ý tưởng
4. Sự suy luận và tư duy logic
5. Những hình thức chính trị của sự suy luận và phương pháp
5a.Sự diễn dịch
5b. Sự quy nạp

6. Những vấn đề về phương pháp
6a. Phương pháp phân tích
6b. Phương pháp tông hợp
6c. Mối quan hệ tương tác giữa phân tích và tổng hợp
6d. Tư duy phân tích và tư duy tổng hợp
6e. Những tiêu chí của suy luận và logic

VI – NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LUÂN LÝ ĐẠO ĐỨC
1. Sự nói dối
2. Sự xấu xa, sự ô nhục
3. Cái tốt, cái xấu và trách nhiệm
4. Lòng trung thành và tính trung thực
5. Mục đích biện minh cho phương tiện
6. Vấn đề luân lý trong thực hành
7. Sự tự do
8. Những vẫn đề về giá trị
9. Vấn đề về số phận con người
10. Sự vô luân và lý thuyết về sự vô luân
11. Ý nghĩa và giá trị của sự hi sinh

VII – SỰ NHẬN BIẾT CỦA THỰC THỂ CON NGƯỜI
1. Sự nhận biết theo siêu hinh học
2. Siêu hình học và kinh nghiệm
3. Khả năng và vai trò chính của siêu hình học
4. Lý luận nhân biết duy lý
5. Giá trị của sự nhận biết theo quan niệm của Kant
6. Sự nhận biết toàn vẹn và tuyệt đối
7. Vấn đề chân lý

VIII – SỰ HIỆN HỮU CỦA THẾ GIỚI BÊN NGOÀI
1. Thế giói bên ngoài
2. Vấn đề không gian và thời gian
3. Ý nghĩa của thế giới: vật chất, cuộc đời và tinh thần

IX – CHÚA HAY THƯỢNG ĐẾ – SỰ HIỆN HỮU VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI
1. Ý tưởng về Chúa
2. Những chứng minh lớn, cổ điển về sự hiện hữu của Chúa
3. Vai trò của Chúa

Triết học Tôn giáo

Triết học tôn giáo, theo nghĩa hẹp, là một bộ môn triết học độc lập mà đối tượng của nó là tôn giáo. Thuật ngữ “triết học tôn giáo” lần đầu tiên xuất hiện ở Đức, vào cuối thế kỷ XVIII, được I. Cantơ đưa ra trong tác phẩm Tôn giáo chỉ nằm trong giới của lý tính. Khi đó, tôn giáo được xem như là đối tượng suy tư triết học và với tư cách là một trong những hiện tượng của văn hoá ngang hàng vởi khoa học, pháp luật, nghệ thuật… Còn khi tôn giáo trở thành đối tượng của phân tích triết học, của phê phán vả đánh giá từ quan điểm các phương pháp và lý luận nghiên cứu khoa học thì triết học về tôn giáo được xem là một bộ phận của khoa học về tôn giáo, hay còn gọi là tôn giáo học, ngang hàng và các môn tâm lý, xã hội học và lịch sử tôn giáo.

Như vậy, bộ môn triết học tôn giáo đã có bề dày lịch sử hai thế kỷ. Trong kho tàng tư liệu triết học thế giới, cho đến nay, đã có rất nhiều công trình thuộc tôn giáo học được công bố và bổ sung; song ở nước ta, có lẽ cuốn Triết học giáo của tác giả Mel Thomson, do TS. Đỗ Minh Hợp từ bản tiếng Nga, là công trình đầu tiên về môn triết này.

Cuốn sách gồm 9 chương, tập trung trình bày những vấn đề cơ bản của triết học tôn giáo. Đó là kinh nghiệm tôn giáo, ngôn ngữ của tôn giáo; các quan điểm và các chứng minh về Chúa; cá nhân; tính nhân quả, ý Chúa và phép màu, đau khổ và cái ác; tôn giáo và khoa học; tôn giáo và đạo đức.

Triết học tôn giáo, theo tác giả, trước hết nghiên cứu phương diện duy lý của tôn giáo. Song, tôn giáo không hạn chế chỉ ở một phương diện duy lý. Nó dựa vào trái tim không ít hơn là dựa vào trí tuệ. Chính vì vậy, cách tiếp cận duy lý tới tôn giáo, theo tác giả, là chưa đầy đủ và vì thế, có những hạn chế của nó. Kỳ vọng của tấc giả là “cố gắng nghiên cứu cái bị che đậy dưới vỏ bọc bên ngoài, nhận thấy trong tôn giáo cái đồng thời vừa là đích thực, vừa là duy lý”.

Về tổng thể, cấu trúc của cuốn sách theo một chủ đề có lôgíc khá chặt chẽ. Trước hết, tác giả trình bày vấn đề về bản chất của cảm xúc tôn giáo, sau đó xem xét ngôn ngữ được sử dụng để mô tả cảm xúc ấy. Tiếp theo, tác giả chuyển sang phân tích các tín ngưỡng và sự luận chứng mà tín đồ sử dụng để giải thích các tín ngưỡng đó. Nói tóm lại, toàn bộ kết cấu được tác giả trình bày không vượt ra ngoài kinh nghiệm tôn giáo và thông qua đó, trình bày thế giới quan tôn giáo, cái mà ngày nay tôn giáo ở một mức độ xác định đã phải nhường chỗ cho khoa học. Mặt khác, cùng với triết học, tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành đạo đức và triết học tôn giáo đặt nhiệm vụ cho mình là nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa đạo đức và tôn giáo.

Cuối cùng, tác giả muốn độc giả làm quen và các quan điểm cơ bản của triết học tôn giáo, chỉ ra nhưng hạn chế của cuộc tranh luận duy lý và điều quan trọng hơn cả, là trình bày hàng loạt luận cứ có liên quan đến niềm tin tôn giáo.

Kỳ vọng thì quả là lớn lao, song như tác giả thừa nhận rằng, nếu triết học cố nghiên cứu tôn giáo giống hệt như nghiên cứu khoa học, chính trị hay ngôn ngữ, thì một trong hai cuộc khủng hoảng tất yếu sẽ xẩy ra đối với nhà triết học: hoặc là anh ta “không có khả năng đi đến các kết luận lôgíc, bởi vì vật liệu mà nhà nghiên cứu sử dụng không thể hoàn toàn hiểu được bằng con đường phân tích lôgíc, hoặc là tín đồ không chấp nhận các kết luận triết học về tôn giáo, bởi vì chúng không được tính đến các yếu tố thực nghiệm và trực giác của tôn giáo.

Mặc dù cuốn sách không đề cập đến vấn đề lịch sử của bộ môn triết học tôn giáo, tức không khái quát tiến trình lịch sử của mối quan hệ giữa lý tính con người và tôn giáo cũng như nhiều vấn đề khác, song tác giả của nó đã cung cấp cho độc giả những vấn đề tham khảo cơ bản về tôn giáo với tư cách là đối tượng của nghiên cứu triết học.

Phạm trù quy luật trong lịch sử triết học phương Tây

Vấn đề nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan từ lâu đã được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Bài học tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan được nêu ở Đai hội VI của Đảng là một bằng chứng thể hiện sự quan tâm ấy(1). Nhưng để có thể tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, chúng ta không thể biết cái gì có thể được coi là quy luật trước, khi đi vào xác định một cách cụ thể những quy luật hiện đang tác động thực sự ở đất nước ta mà chúng ta phải tôn trọng và làm theo. Nói cách khác, việc tìm hiểu bản thân phạm trù “quy luật”, lịch sử nhận thức nó, cũng như những vấn đề hiện đang được đạt ra xung quanh phạm trù ấy là bước đi không thể thiếu được trong quá trình đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Trong lịch sử triết học, sự kế thừa và phát triển những tư tưởng hợp lý của người đi trước là xu hướng chung và tất yếu của mỗi trường phái triết học. Nhưng không phải ngay từ đầu, mà phải đến một giai đoạn nhất định của lịch sử, xu hướng đó mới được nhận thức. G.V.Ph.Hêgen là người đầu tiên chỉ ra xu hướng ấy khi trình bày quan niệm của mình về các vòng tròn của lịch sử triết học. Ông cho rằng triết học hiện đại là kết quả của những nguyên lý có từ trước đó. Thành thử, trong triết học không có một hệ thống nào bị lật đổ, không phải một nguyên lý triết học nào đó bị lật đổ, mà chỉ có sự giả định rằng nguyên lý đó là định nghĩa tuyệt đối, cuối cùng bị lật đổ mà thôi. Như vậy, lịch sử triết học không phải là bảng liệt kê các ý kiến đối lập với chân lý, mà là sự phát triển cụ thể của triết học trên con đường nhận thức chân lý. Hêgen viết : “Các hệ thống triết học cũng có sự khác nhau, nhưng sự khác nhau của chúng (hoàn toàn) không phải lớn như sự khác nhau giữa trắng và ngọt, xanh và gồ ghề, chúng đồng nhất với nhau ở chỗ tất cả chúng đều là các học thuyết triết học, đó chính là cái mà mọi người bỏ qua khi coi chúng như là các học thuyết triết học, là những quan điểm tách biệt”(1).Phát triển quan điểm này, C.Mác cũng khẳng định rằng: ” Triết học của mỗi thời đại phải có một số vật tư tư tưởng nào đó do các triết học trước đó truyền lại, làm xuất phát điểm”(2).

Trên tinh thần của quan điểm và yêu cầu đó, chuyên khảo này tập trung tìm hiểu sự kế thừa và phát triển những tư tưởng về quy luật trong lịch sử triết học phương Tây, kể từ thời Cổ đại cho tới khi xuất hiện triết học Mác – Lênin. Xuất phát từ những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin, tác giả cố gắng góp tiếng nói của mình vào việc làm sáng tỏ thêm một số vấn đề hiện đang còn tranh luận xung quanh vấn đề quy luật, chằng hạn đó là những vấn đề về các đặc trưng cơ bản nhất của quy luật xã hội, quy luật trình nhận thức quy luật xã hội, về con đường nhận thức quy luật xã hội…

Sau cùng, chuyên khảo này là kết quả của sự gia công Luận án Phó tiến sĩ triết học. Nhân đây, tác giả xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Gs, Phó Ts Nguyễn Trọng Chuẩn, người hướng dẫn Luận án, tới Gs Lê Hữu Tầng, người đã góp nhiều ý kiến sâu sắc. Đồng thời, tác giả cũng chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học Viện triết học, cảm ơn Gs, Ts Nguyễn Duy Quý (Chủ tịch) cùng toàn thể các thành viên Hội đồng chấm Luận án Nhà nước cho Luận án “Sự kế thừa và phát triển trong quá trình nhận thức phạm trù “quy luật” về những đóng góp quý giá trong học thuật.