Cải cách giáo dục: Trước thách thức của thế kỷ XXI

Nhà trường phải giúp cho sinh viên thấm nhuần “một thứ văn hoá về tính phức hợp” (culture de la complexité), tức là nền văn hoá của thế giới ngày mai.

Bởi vì thật là hiển nhiên, thế giới ngày mai sẽ càng thêm phức hợp.

Bộ giáo dục Quốc gia nước Cộng Hoà Pháp đã chọn mặt gửi vàng khi mời Edgar Morin, nhà xã hội học, nhân học và triết học nổi tiếng tham gia Hội đồng khoa học và chủ trì “Những ngày hội thảo chuyên đề” bàn về một trong những vấn đề hệ trọng của giáo dục, cần có sự tư vấn toàn quốc: “Nên giảng dạy những tri thức gì ở các trường trung học?. Bản thân Edgar Morin cũng nói rằng “sở dĩ tôi được chọn, chính là vì các ý tưởng của tôi”. Ông chủ trương phát triển tư duy phức hợp, cải cách tư duy, cải cách giáo dục để trả lời những thách đố của thế kỷ XXI.

Cải cách giáo dục phải bắt đầu từ đâu và bao hàm những nội dung gì?

Nhiều người cho rằng phải bắt đầu từ đổi mới chương trình giáo dục, chỉ cần giao cho một số người tiến hành soạn thảo chương trình mới, tuỳ theo bộ môn khoa học của mình. Đó vẫn là cách làm cũ kỹ. Edgar Morin nhấn mạnh rằng “Những ngày hội thảo chuyên đề này nhằm mục đích sau cùng là soạn chương trình, mà là kích thích sự suy tư, bởi lẽ suy tư là cái thiếu hụt nhiều nhất”.

Suy tư về giáo dục trước hết là suy tư về người thầy. Câu hỏi “Nên giảng dạy những tri thức gì ở các trường trung học?” Là câu hỏi đặt ra cho toàn ngành giáo dục. Trước hết cho các trường đại học và cao đẳng sư phạm, nơi đào tạo ra các giáo viên dạy trung học (professeurdelycee). Chính vì vậy mà cải cách giáo dục phải đột phá từ cải cách giáo dục Đại học. Edga Morin nói rằng: “Nếu trong lĩnh vực này cần tiến hành cải cách thì phải nhằm vào đại học; vả chăng từ trước đến nay trong đầu óc tôi chưa hề bao giờ coi giáo dục trung học là một thế giới khép kín và duy nhất cần xem xét lại cách thức trình bày các tri thức”.

Suy tư về giáo dục cần phải tập trung chủ yếu vào mục đích, vào cứu cánh của nó. Các tác giả cuốn sách này cần chia sẻ một quan niệm chung về mục đích cuối cùng của giáo dục.

1/ Hình thành những khối óc được rèn luyện tốt (la Tête bien faite), đào tạo những con người đủ năng lực tổ chức các tri thức, chứ không phải tích kuỹ các hiểu biết theo kiểu chất đầy vào kho;

2/ Giáo dục về hoàn cảnh con người (condition humaine), làm cho mỗi người có ý thức sâu sắc thế nào là một con người;

3/ Học cách sống, chuẩn bị cho thế hệ trẻ biết đối mặt với những khó khăn, bất chắc và những vấn đề của tồn tại con người;

4/ Thực tập tư cách công dân, hình thành và phát huy ở mỗi người tư cách công dân nước Pháp, đồng thời tư cách công dân châu Âu và tư cách công dân toàn Trái Đất, có năng lực đối thoại, khoan dung trong thế giới đa dạng hơn bao giờ hết.

Nền giáo dục hiện đại phải dạy cho con người biết cách học, học cách làm, học cách tổ chức các tri thức, liên kết các tri thức, nhằm nâng cao hiệu quả hành động của mình.

Nói về mục đích cơ bản của giáo dục, nhà sinh học Joe de Rosnay, một chuyên gia về ứng dụng lý thuyết hệ thống nhấn mạnh: “Học để học là một chuyện. Học để làm là một chuyện khác. Học để quán triệt các kết quả và các mục đích của hành động lại là một chuyện khác nữa. Hơn hẳn việc thường xuyên tích luỹ tri thức, sự kết hợp giữa phân tích với hệ thống hoá sẽ cho phép liên kết các tri thức trong một bộ khung quy chiếu rộng lớn hơn, tạo thuận lợi cho thao tác phân tích và lôgic. Phải chăng đó chính là một trong những mục đích cơ bản của giáo dục?”

Nói một cách tổng quát hơn, nhà trường phải giúp cho sinh viên thấm nhuần “một thứ văn hoá về tính phức hợp” (culture de la complexité), tức là nên văn hoá của thế giới ngày mai. Bởi vì thật là hiển nhiên, thế giới ngày mai sẽ càng thêm phức hợp. “ Văn hoá là thứ vữa, thứ xi măng cho phép kiến tạo ý nghĩa bằng cách tích hợp các tri thức. Giáo dục về ngày mai tất nhiên sẽ phải là cho mỗi em biết được một nghề, song trước hết phải đem lại cho các em một ý nghĩa về thái độ tôn trọng người khác, mở cửa và khoan dung bằng cách đưa họ tham gia đầy đủ vào việc tìm tòi rất say mê là tìm tòi sự hiểu biết”.

Suy nghĩ về chương trình giáo dục của Pháp hiện nay (mà chẳng chỉ phải của Pháp), nhà vật lý học Sbastien Balibar, thành viên hội đồng Quốc gia về Chương trình giáo dục đã cảnh báo về tình trạng lạc hậu của chương trình giáo dục trung học so với sự phát triển của khoa học đương đại. Môn vật lý học đang giảng dạy ở các trường trung học Pháp về thực chất chỉ là vật lý của thế kỷ XIX, mặc dù vẫn có những tiến triển nhất định. Ông so sánh giữa “ khoa học sống” (science vivante) với “khoa học chết” (science motrte), giữa khoa học đang tiến triển, đang sống động nhờ lao động sáng tạo của các nhà nghiên cứu, với một mớ tri thức học đường cứng nhắc để phục vụ cho việc thi cử. Tư đó ông rút ra kết luận rằng cuộc cách mạng trong giáo dục không thể làm xong trong một ngày, cũng không thể cứ mỗi khoá Quốc hội mới lại sửa đổi các chương trình giáo dục. Vì vậy “hiện đại hoá việc giảng dạy là một nhiệm vụ khó khăn cần được tiến hành thường xuyên, nếu ta không muốn lâm vào thế đứt đoạn không đáng tiếc giữa khoa học đương đại với các công dân tương lai”.

Sự thiếu hụt nghiêm trọng trí thức hiện đại thể hịên trên tất cả các lĩnh vực giảng dạy, cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội và nhân văn. Nhà trường vân thiên về đưa lại cho thế hệ trẻ những tri thức rời rạc, đóng khung trong các bộ môn riêng biệt. Điều đó không phù hợp với việc nhận thức thực tại đa chiều và các vấn đề toàn cầu, siêu quốc gia. Nhà trường vẫn chỉ dạy học sinh, sinh viên phương pháp phân tích, tách biệt sự vật với môi trường, tách biệt những bộ môn với nhau, chứ không dạy họ biết liên kết chi thức. Giáo sư Jean –Louis le Moigne diễu cợt tình trạng này như sau: “Các nhà giáo dục đã hạ bút phê nên bên lề bài làm của học sinh mấy chữ “phân tích hay”, “phân tích kém”.Nhưng ví thử ai đó hỏi tại sao thế, các vị ấy thường không đưa ra câu trả lời khác với câu sau đây “ phân tích hay, tức là giống với cách phân tích của tôi, còn phân tích kém tức là khác hẳn”. Quả thật, người ta chưa làm quen với kiểu tư duy hệ thống”.
Những hạn chế trên đây về nhận thức và tư duy, khiến cho con người không có khả năng nắm bắt được thế giới thực tại ba chiều phức hợp. Edgar Morin gọi đó là “những thách đố của tính phức hợp”.

Tính phức hợp là gì và vì sao nó lại đặt tri thức con người trước những thách đố lớn?
Tính phức hợp, hay cái phức hợp (la complexté, le complexus) có hai nghĩa. Thứ nhất, đó là “những gì liên kết lại với nhau, đan dệt cùng nhau” (“ce qui est lié ensemble, ce qui est tissé ensemble”). Khác với cái đơn giản, có thể tách biệt hay tháo rời các bộ phận hợp thành của nó, cái phức hợp bao gồm vô vàn những tương tác, những mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận hợp thành, tạo nên “tấm dệt chung” không thể phân cách và quy giản được. Thứ hai, phức hợp cũng bao hàm trong nó cái ngẫu nhiên, vô trật tự, không chắc chắn. Do vậy cái phức hợp cũng nhất thiết mang theo tính bất định (incertiude). Đó là hai thách đố lớn đối với tri thức, nhất là tri thức khoa học cổ điển.

Từ hàng trăm năm nay, khoa học cổ điển dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản:

1/ Nguyên tắc trật tự, hay là nguyên tắc quyết định luận;
2/ Nguyên tắc phân cách;
3/ Nguyên tắc quy giản
4/ Nguyên tắc lôgíc <<diễn dịch – quy nạp – đồng nhất>>, bao gồm cả nguyên tắc nhân quả tuyến tính.

Từ đầu thế kỷ XX, sự phát triển như vũ bão của khoa học đã làm cho những nguyên tắc trên đây bị lung lay, bị đặt vấn đề liệu có nên tiếp tục tồn tại hay không. Theo Edgar Morin, trong thế kỷ XX đã diễn ra hai cuộc cách mạng khoa học. Cuộc cách mạng khoa học thứ nhất là (tính trong thế kỷ XX, còn trong lịch sử nhân loại thì cuộc cách mạng khoa học thứ nhất là cách mạng Copernic khởi đầu từ thế kỷ XVI) nảy sinh từ sự bùng ra cái vô trật tự, chủ yếu vật lý học lượng tử và dẫn đến việc tất yếu phải đối xử với cai vô trật tự và giải hoà với cái bất định. Cuộc cách mạng khoa học thứ hai diễn ra trong nửa thế kỷ XX với sự nổi nên của những khoa học tiến hành các hoạt động tập hợp đa bộ môn như vũ trụ học, các khoa học Trái Đất, sinh thái học, các khoa học mới về thời tiền sử…

Hai cuộc cách mạng khoa học này đã kéo theo những hệ quả tri thức học quan trọng, đòi hỏi các nhà triết học, nhà tri thức học (épistemologue) phải suy ngẫm về những nguyên tắc cơ bản của tri thức học và tri thức khoa học. Gaston Bachelard (1884 –1962) Nhà tri thức học nổi tiếng người Pháp và Karl Popper (1902 – 1994) nhà triết học về khoa học anh suy ngẫm về khoa học và cho rằng không nên đồng nhất khoa học với tính tất định tuyệt đối. Quan niệm như vậy là thô thiển và sai lầm Bachelard viết: Người ta xây dựng khoa học và triết học trên một tập hợp những hình ảnh thô thiển ngây thơ (Bachelard. épistemologue. Textes choisis (tri thức học. Tuyển tập). Xuất bản thư VII. Paris: PUF, 2001, tr57).

Khoa học cố nhiên phải xây dựng trên các dữ liệu chắc chắn. Nhưng cái chắc chắn cái tất định này lại định vị trong không gian cụ thể. Chỉ có thần học mới là tất định, cố nhiên đối với những người tin vào thần học. Còn khoa học thì không tất định. ‘Khoa học là cuộc đối thoại giữa con người với tự nhiên’ (Ilya Prigogine). Lý thuyết khoa học luôn có thể bị bác bỏ trước sự xuất hiện các dữ liệu mới, hay cách thức mới để xem xét các dữ liệu.

Karl Popper đã dùng hai hình ảnh sinh động là hai chiếc đồng hồ và những đám mây để so sánh vật lý học cổ điển với vật lý học đương đại. Một đằng quan tâm trước hết đến đồng hồ, còn một đằng quan tâm chủ yếu đến đám mây . Mô hình đồng hồ và độ chính xác của nó tiếp tục ám ảnh tư duy của nhà nghiên cứu bằng cách làm cho nhà nghiên cứu vững tin rằng có thể vươn tới độ chính xác của thứ mô hình riêng biệt và trên thực tế là độc nhất ấy. Thế nhưng, cái ngự trị trong tự nhiên và trong môi trường của chúng ta thì lại chính là đám mây kia. Đó là một hình thức cực kỳ phức hợp, mờ ảo, luôn luôn thay đổi, thăng giáng, chuyển động. Trong vật lý học đã như vậy thì trong các khoa học xã hội và nhân văn càng như vậy.

Rõ ràng khoa học cổ điển không có khả năng trả lời những thách đố của tính phức hợp. Muốn trả lời những thách đố ấy phải phát triển khoa học lên trình độ mới và “tất yếu phải có một cuộc cải cách đích thực đối với tư duy”.

Vấn đề cải cách tư duy có nội dung rất rộng và sâu sắc.

Edgar Morin đã dành nhiều tác phẩm cho đề tài này. Trong cuốn “Trái Đất – Tổ quốc chung” ông có viết một chương riêng về “cải cách tư duy” và khẳng định: “ Cải cách tư duy là một vấn đề then chốt của nhân học và lịch sử. Nó hàm chứa một cuộc cách mạng về tinh thần, tâm trí, với những quy mô to lớn hơn rất nhiều so với cuộc cách mạng Copernic (Bản Tiếng Việt NXB khoa học xã hội năm 2003, tr.380).

Liên kết tri thức có liên quan mật thiết với cải cách cách tư duy. Thực chất của nó là “tiến hành một cuộc cách mạng trong việc tổ chức tri thức” trả lời cho những thách đố về tri thức ở thế kỷ XXI: “Nếu ta muốn có một tri thức xác thực toàn diện, chúng ta cần phải liên kết, bối cảnh hoá, tổng hợp hoá các thông tin và hiểu biết của ta tức là cần tìm tòi một tri thức phức hợp (connaissnce complexe). Rất hiển nhiên là phương thức tư duy cổ điển với những quy tắc manh mún của nó, khiến cho việc bối cảnh hoá các tri thức là không thể thực hiện được”. Thay thế “phương thức tư duy cổ điển” mang nặng tính chất cơ giới, bằng tư duy hệ thống, tư duy phức hợp – đó chính là nội dung cơ bản của cải cách tư duy đang tiến hành sâu rộng trên thế giới.

Nền giáo dục hiện đại phải “hiện thực hoá tư duy phức hợp”. Giáo sư Jacques Ardino, Chủ tịch Hiệp hội quốc gia phát triển các khoa học nhân văn ứng dụng đã khẳng định mạnh mẽ như vậy. Ông cho rằng: “Đối với tư duy phức hợp dường như ngành giáo dục có thể cung cấp một địa bàn thực tiễn và một lĩnh vực lý thuyết đặc biệt phong phú”.

Cuốn sách này thể hiện sự phong phú cả trong việc tìm tòi lý luận cũng như thể nghiệm thực tiễn. Nhiều tác giả đã nêu nên những việc cụ thể cần làm trong nghiên cứu và giảng dạy.

Viện sĩ Pierr Lðna, nhà thiên văn học, Giáo sư trường đại học Paris VII xác nhận rằng: “Tính phức hợp ồ ạt tràn vào công cuộc phát triển tri thức”. Tuy nhiên việc học tập tính phức hợp lại rất vất vả đối với thanh, thiếu niên. Đối với các em khi khởi đầu chỉ cái đơn giản mới rễ hiểu. Bởi vậy nhiệm vụ cấp bách đối với nhà sư phạm là phải đề phòng sự lạm dụng việc đơn giản hoá, chú trọng bồi dưỡng cho các em đang độ dầu sức tưởng tượng, những biểu chưng có sức kích thích khả năng sáng tạo, đồng thời tránh cho các em phải tiêu thụ những ảo ảnh tạp nham và đốc hại.

Nhà sử học Francois Dosse cho rằng sử học và các khoa học nhân văn phải chú trọng việc “tái khám phá phần nhân văn”, vốn là đặc trưng của các khoa học này, vượt ra khỏi thứ nguyên nhân, vốn là riêng biệt cho các khoa học thưc nghiệm. Việc thiết lập một thứ “vật lý học xã hội” dựa trên mô hình vật lý học cơ giới, theo quan điểm của chủ nghĩa thực chứng không còn phù hợp thời nữa. Cũng chăng nên “ấp ủ tham vọng nắm bắt được thực tại một cách khách quan và khoa học” theo kiểu chủ nghĩa cấu trúc làm gì.

Để quán triệt tư duy phức hợp, nhà sử học phải kiên quyết từ bỏ thứ quyết định luận lịch sử để thay vào đó quan điểm nhiều yếu tố quyết định, phải từ bỏ nhãn quan quy giản, muốn cắt nghĩa tất cả bằng kinh tế và xã hội, mà quên đi các sự kiện và huyền thoại. “Để hình dung được lịch sử, phải kết hợp Marx với Shakespeare” (Edrgar Morin).

“Kết hợp Marx với Shakespeare” là biểu hiện cụ thể của liên kết tri thức, cũng là thể hiện sinh động ý tưởng sâu sắc về viêc xây dựng môn nhân văn học mới (nouvelle humannité) trên cơ sở tích hợp văn hoá khoa học với văn hoá nhân văn, nhằm đáp ứng yêu cầu cao của sự nghiệp giáo dục con người trong thế kỷ XXI.

Chúng tôi hiểu rằng có sự khác biệt rất lớn giữa hai nền giáo dục Việt – Pháp. Nhưng như lời căn dặn của Marx, chúng ta có thể không phải “là người cùng thời về mặt lịch sử”, chứ không thể không “là người cùng thời về mặt triết học” với mọi người trên thế giới mà chúng ta muốn làm bạn bè. Hơn nữa trong thời đại toàn cầu hoá và hội nhập này, thách đố của thế kỷ XXI là chung cho tất cả mọi người ở bất kỳ phương trời nào, còn cơ hội chi dành riêng cho những ai biết đón nhận và tận dụng nó.

Trên tinh thần đó chúng ta chân trọng đón nhận công trình khoa học giàu tư duy và sáng tạo này của các nhà khoa học, các nhà triết học và các nhà giáo dục Cộng hoà Pháp.

Sự va chạm của các nền văn minh

Những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XIX đã chứng kiến nhiều sự kiện đặc biệt trong đời sống quốc tế. Sự thống trị của phương Tây trong nhiều lĩnh vực bắt đầu suy giảm, nhường chỗ cho sự phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau của các nước phi phương Tây khác trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á, trong đó có Việt Nam. Mối liên kết giữa các quốc gia hình như dựa trên một nền tảng mới, có những quốc gia trước đây là cừu thù nay lại liên kết với nhau hoặc ngược lại. Những tranh chấp về sắc tộc, tôn giáo, phong trào tôn giáo cực đoan, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, chủ nghĩa dân tộc quá khích, sự chênh lệch giàu nghèo… để lại hậu quả ghê gớm ở nhiều nơi trên thế giới và ảnh hưởng hầu như mọi quốc gia. Nguyên nhân của những hiện tượng và sự kiện đó là gì? Tất cả sẽ được giải đáp trong cuốn “Sự va chạm của các nền văn minh”.

Cuốn sách gồm năm phần:

Phần I bàn về bản chất các nền văn minh, quan hệ giữa các nền văn minh và phản ứng của các nền văn minh khác đối với nền văn minh phương Tây. Phần này đặc biệt đề cập đến diện mạo mới của nền văn minh nhân loại. Theo đó, các quốc gia có văn hoá giống hoặc tương đồng sẽ ngày càng gắn bó với nhau, cùng hỗ trợ nhau phát triển. Tác giả còn đưa ra nhận định: “các xung đột trong tương lai sẽ được châm ngòi bằng những yếu tố văn hoá chứ không phải kinh tế hay ý thức hệ tư tưởng. Những xung đột nguy hiểm nhất sẽ xảy ra ở những phân giới sai lệch nhất giữa các nền văn minh”.

Phần II cho độc giả cái nhìn mới về cán cân thăng bằng giữa các nền văn minh đang thay đổi: ảnh hưởng của phương Tây sẽ ngày càng suy giảm trong khi các nền văn minh châu Á đang bành trướng sức mạnh kinh tế, quân sự và chính trị. Đặc biệt, phần này sẽ cung cấp cho bạn đọc kiến thức cơ bản để phân biệt hai khái niệm “văn minh” và “nền văn minh”. Bạn vẫn thường sử dụng hoặc nghe nhắc đến hai khái niệm này nhưng bạn có thật sự hiểu nó? Bạn biết gì về “văn minh” với tính chất số ít, là một tiêu chí để đánh giá các xã hội, và “văn minh” với tính chất số nhiều, thể hiện “sự chối bỏ một nền văn minh được coi là duy nhất lí tưởng”?

Phần III đặc biệt lưu ý đến cơ sở của những mối liên kết mới: cơ sở nền văn minh và văn hoá hình như đang thay thế cho cơ sở ý thức hệ tư tưởng. Trật tự thế giới mới đang xuất hiện: những xã hội chung nhau giá trị văn hoá đang hợp tác với nhau, các quốc gia đang tập hợp lại xung quanh quốc gia chủ chốt của nền văn minh của họ.

Phần IV giới thiệu nhiều ý kiến khác nhau phản bác khái niệm về tính phổ cập của văn minh phương Tây. Đặc biệt mối liên kết giữa các nước “anh em” trong thế giới Hồi giáo ngày càng trở thành vấn đề cần cả thế giới quan tâm. Khái niệm “chiến tranh do phân giới văn minh sai lệch” cũng được bàn một cách cụ thể.

Phần V vẽ ra bức tranh tương lai của các nền văn minh và cho rằng để tránh một cuộc chiến tranh giữa các nền văn minh, các nhà lãnh đạo thế giới cần chấp nhận và hợp tác để duy trì tính chất đa văn minh của nền chính trị toàn cầu.

Cuốn sách này được viết trước khi nhiều sự kiện trên thế giới của những năm sau đó mà chúng ta vừa được chứng kiến chưa xảy ra. Vì vậy, có thể nói nhiều nhận định của cuốn sách có tính tiên đoán. Những dòng cuối cùng của cuốn sách như sau: “Trong kỉ nguyên sắp tới, những va chạm giữa các nền văn minh là mối đe doạ lớn nhất cho nền hoà bình thế giới, và một trật tự quốc tế dựa trên các nền văn minh là một đảm bảo an toàn chắc chắn nhất để chống lại chiến tranh thế giới”. Một kết luận rõ ràng, khách quan và khoa học đáng để chúng ta suy nghĩ!

Mô hình Kornai về các hệ thống kinh tế

Tác phẩm Hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chính trị kinh tế học phê phán và Con đường dẫn đến kinh tế thị trường của Kornai János, nhà kinh tế học người Hung, giáo sư Harvard (Mỹ), đều do Nguyễn Quang A dịch, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội, vừa ra mắt đã lập tức được coi là những cuốn sách quan trọng nhất năm 2002 ở Việt Nam. Để bạn đọc có thể dễ dàng tiếp cận với hơn 1000 trang sách ấy, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của dịch giả Nguyễn Quang A sau đây.

Kornai János đưa ra một mô hình đơn giản mô tả các hệ thống kinh tế, trước tiên là cho hệ thống xã hội chủ nghĩa. Mô hình lí thuyết được sử dụng để phân tích so sách giữa hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nó cũng được dùng như một công cụ hữu hiệu để xem xét các quá trình chuyển đổi hệ thống. Tổng quan này giới thiệu ngắn gọn mô hình cơ bản. Từ mô hình cơ bản này ta dẫn ra các mô hình cho hệ thống xã hội chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa. Một vài nhận xét cũng được đề cập. Nội dung trình bày ở đây lấy phần lớn từ “Kornai 2000” và một phần từ “Kornai 1992”.

J. Kornai trình bày một mô hình đơn giản nhưng hữu hiệu cho các hệ thống kinh tế.

1. Mô hình

Ðường mũi tên liền nét chỉ hướng tác động nhân quả chính.
Ðường mũi tên đứt nét chỉ tác động phản hồi.

Hình 1. Mô hình tổng quát

Một mô hình lí thuyết là một kết cấu trừu tượng về trí tuệ để mô tả những nét chủ yếu của một hệ thống thực đang được khảo sát. Hệ thống thực tế cần mô hình hoá ở đây là một hệ thống kinh tế của một nước hay một nhóm nước nhất định trong một giai đoạn nhất định. Các hệ thống như vậy là vô cùng phức tạp, và mô hình mô tả nó chắc chắn phải bỏ qua rất nhiều chi tiết và chỉ nêu những nét đặc trưng chính và/hoặc chức năng chính của hệ thống. Ðáng nhắc tới là, một mặt tư duy của con người có mức độ ảnh hưởng khác nhau lên một hệ vật lí (từ không hề có ảnh hưởng gì lên một hệ cơ học cổ điển đến có một số ảnh hưởng lên một hệ lượng tử); mặt khác suy nghĩ của những người sống- những người tham gia trong các hệ thống xã hội- ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống. G. Soros [Soros 1987, 1998] gọi hệ thống như vậy- hệ thống mà tư duy của những thành phần (người) tham gia có tác động lên bản thân hệ thống- là “hệ thống phản thân” (“reflexive system”).

Cho trước một thước đo về sự phù hợp hay các tiêu chuẩn về độ chính xác, có thể có nhiều mô hình mô tả tốt hệ thống đang được khảo sát. Ta ưa dùng mô hình đơn giản nhất trong số các mô hình như vậy. Mô hình trình bày ở đây có lẽ là một mô hình cô đọng nhất theo nghĩa này. Mô hình chung được nêu trong Hình 1.

Mô hình gồm năm khối, được đánh số từ 1 đến 5, và tất cả các tương tác có thể giữa chúng. Chiều tác động nhân quả chính được mô tả bằng các mũi tên liền, các phản tác động được mô tả bằng các mũi tên đứt.

Bỏ qua tất cả các phản tác động, chỉ chú ý đến chiều tác động chính của tính nhân quả (xoá hết các mũi tên đứt) ta sẽ nhận được mô hình Kornai giản lược như nêu trong Hình 2 [Kornai 1992].

Trong mô hình độ dày của mũi tên cho ta cảm giác ở một mức độ nào đó về cường độ tương đối của tác động. Ta có thể thấy mỗi tầng nông hơn chủ yếu bị tác động bởi tầng sâu hơn sát đó (khối ở sát ngay phiá trái) và cũng bởi tất cả các tầng sâu hơn khác. Bỏ qua tất cả các tác động của các tầng sâu hơn, trừ tầng sâu hơn sát kề (khối ở sát ngay phiá trái) ta nhận được mô hình Kornai đơn giản nhất như trong Hình 3 [Kornai 2000].

Hình 2. Mô hình giản lược nêu bật hướng tác động nhân quả

Khối 1 là tầng sâu nhất của hệ thống, nó mô tả cơ cấu quyền lực chính trị, tư tưởng chính thống và thái độ của nó đối với các hình thức sở hữu. Khối này chứa “chương trình gen” của hệ thống, chương trình xác định tất cả các đặc tính cơ bản nhất của cơ thể sống này, cùng với các thứ khác kể cả sức khoẻ và bệnh tật của nó cũng như các đặc trưng tổng quát của các quá trình sinh, tăng trưởng, suy thoái và chết của nó. “Chương trình gen”, thái độ của cơ cấu quyền lực với hình thức sở hữu xác định hình thức sở hữu ưu thế của hệ thống trong khối 2. Hình thức sở hữu chiếm ưu thế và cơ cấu quyền lực tạo ra cơ chế điều phối áp đảo của hệ thống, khối 3, như là một hệ quả. Các khối 1, 2, và 3 là các thành tố quan trọng nhất của mô hình. Dùng ẩn dụ của một hệ tin học ta có thể nói rằng, phần vô hình của hệ thống, được ba khối này mô tả (ý thức hệ, chương trình gen, các luật, các quy chế, v. v.), tạo thành phần mềm hệ điều hành, đó là phần quan trọng nhất của toàn hệ thống. Theo thuật ngữ và khái niệm của các hệ thống công nghệ thông tin thì chúng xứng đáng được coi là phần mềm hệ điều hành. Cơ chế điều phối ưu thế, khối 3, cùng với khối 2 và khối 1 ảnh hưởng đến những quyền lợi, động cơ và các ứng xử của những người tham gia (dân cư, xí nghiệp, các cơ quan chính phủ,…), và những đặc trưng mang tính đặc thù hệ thống này được mô tả trong khối 4. Khối 5, tầng nông nhất của hệ thống, mô tả những tính đều đặn đặc thù hệ thống và các hiện tượng kinh tế cố hữu như là kết quả của các tương tác của các tầng sâu hơn (các khối 4, 3, 2, và 1). Do cầu toàn nên mô hình đầy đủ cũng chỉ ra tất cả các phản tác động có thể có giữa các khối, tức là tác động ngược lại của các tầng nông hơn tới tầng sâu hơn (các mũi tên đứt).

Dùng mô hình tổng quát Kornai trình bày một mô tả rất sâu và súc tích về hệ thống kinh tế của một nhóm gồm 26 nước đã được biết đến như các nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỉ 20 [Kornai 1992]. Sau đó đã tỏ ra rằng mô hình cũng có thể sử dụng để mô tả hệ thống tư bản chủ nghĩa và một dải rộng các hệ thống quá độ.

Hình 3. Mô hình đơn giản nhất

2. Phân loại các hệ thống kinh tế

Mô hình tổng quát cho ta một công cụ rất hữu hiệu để phân loại các hệ thống kinh tế. Bằng cách xác định đặc trưng chính của các khối, giữ lại hay bỏ qua một số mối quan hệ, mô hình tổng quát tạo ra hàng loạt các mô hình hệ thống kinh tế khác nhau có thể dùng để mô tả các hệ thống kinh tế hiện thực khác nhau. Mục này mô tả ngắn gọn hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển, hệ thống tư bản chủ nghĩa và một dạng của hệ thống chủ nghĩa xã hội cải cách dùng mô hình Kornai tổng quát. Mỗi hệ thống được trình bày bằng cách xác định những nét đặc trưng của mỗi khối trong mô hình mô tả hệ thống đó. Thay cho việc điền vào 5 khối của mỗi mô hình, chúng ta liệt kê các khối đó như các cột của Bảng 1 để tiện so sánh.

Bảng 1. Mô hình Kornai cho các hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa

Ðặc trưng chínhCác hình
Hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điểnHệ thống xã hội chủ nghĩa cải cáchHệ thống tư bản chủ nghĩa
1. Cơ cấu quyền lực và thái độ đối với hình thức sở hữuQuyền lực không chia sẻ của Ðảng Marxist-Leninist. Ưu ái với sở hữu công cộng và thù ghét sở hữu tư nhânQuyền lực không chia sẻ của Ðảng Marxist-Leninist. Tự do hoá chính trị có mức độ. Ưu ái với sở hữu công cộng và chấp nhận (hay ủng hộ) sở hữu tư nhân.Quyền lực chính trị thân thiện với sở hữu tư nhân và thị trường.
2. Hình thức sở hữu chiếm ưu thếHình thức sở hữu nhà nước và tựa-nhà nước chiếm ưu thế. Sở hữu tư nhân hầu như tan biếnHình thức sở hữu nhà nước và tựa-nhà nước chiếm ưu thế. Sở hữu tư nhân được chấp nhận và có vị trí quan trọng. Sự phục sinh của khu vực tư nhânSở hữu tư nhân chiếm địa vị ưu thế
3. Cơ chế điều phối chiếm ưu thếÐiều phối quan liêu chiếm ưu thếÐiều phối thị trường với sự can thiệp hành chính quan liêu mạnh; Tự quảnÐiều phối thị trường chiếm ưu thế
4. Ðộng cơ, mối quan tâm, lợi ích và ứng xử mang tính đặc thù hệ thống của các thành viên tham giaRàng buộc ngân sách mềm; Ðáp ứng yếu với giá cả; Mặc cả kế hoạch; Chạy theo số lượng; Chủ nghĩa gia trưởng; . . .Ràng buộc ngân sách cứng hay nhẹ ở khu vực tư nhân. Ràng buộc ngân sách mềm hay nhẹ trong khu vực công cộng; Phản ứng có mức độ đối với giá cả (vẫn bị méo mó); . . .Ràng buộc ngân sách cứng; Phản ứng mạnh với giá cả.
5. Các hiện tượng kinh tế cố hữu và sự đều đặn đặc thù hệ thốngThiếu hụt kinh niên; Thị trường của người bán; Thiếu lao động; Thất nghiệp có chỗ làm; Tăng trưởng ép buộc; . . .Thiếu hụt nhẹ hay được loại bỏ; Thị trường của người bán trong một số lĩnh vực; Thất nghiệp có chỗ làm và thất nghiệp mở; . . .Không có thiếu hụt kinh niên; Thị trường của người mua; Thất nghiệp kinh niên; Biến động theo chu kì kinh doanh; ..

2.1 Hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển

Kornai dùng cách tiếp cận thực chứng để nghiên cứu các hệ thống. Hệ thống xã hội chủ nghĩa mà ông khảo sát là một nhómi gồm 26 nước trong một giai đoạn lịch sử khi mà các Ðảng Cộng sản đã nắm và duy trì quyền lực trong giai đoạn đó, và họ tự gọi mình là “các nước xã hội chủ nghĩa”. Lập luận suy diễn được dùng để rút ra các đặc trưng của các khối 2 và 3; tức là xuất phát từ giả thiết là Ðảng cộng sản nắm quyền với hệ tư tưởng và quyền lực không chia sẻ của nó, thì “chương trình gen” này sẽ tạo ra sự áp đảo của sở hữu công cộng, xoá bỏ khu vực tư nhân, phát triển cơ chế điều phối quan liêu [Kornai 1992]. Ba khối này tạo thành hệ điều hành (operating system) của toàn hệ thống. Và các động cơ, mối quan tâm lợi ích cũng như ứng xử của những thành phần tham gia (người và tổ chức) trong hệ thống (ràng buộc ngân sách mềm; phản ứng yếu ớt với giá cả; mặc cả kế hoạch; chạy theo số lượng; chủ nghĩa gia trưởng, v. v.) là những hệ quả trực tiếp của chương trình hệ điều hành này. Tất cả những thứ này (khối 1,2,3,4) gây ra các hiện tượng kinh tế cố hữu và sự đều đặn mang tính đặc thù hệ thống (như thiếu hụt kinh niên, thiếu lao động, thất nghiệp có chỗ làm, tăng trưởng ép buộc, v.v.).

Ðáng lưu ý là hệ thống này là một hệ thống nhất quán, tức là hệ thống không tự mâu thuẫn. Có sự cố kết, nhất quán trong hệ thống cổ điển, các thành phần của nó cần lẫn nhau và tăng cường lẫn nhau, có ái lực (sức hút) giữa các thành tố của nó. Nói cách khác hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển là một hệ thống ổn định và có thể tồn tại trong thời gian dài. Hệ thống hoạt động tốt theo các tiêu chuẩn riêng của nó. Tuy vậy, hệ thống này không hiệu quả theo nhiều nghĩa. Không có quá trình tiến hoá tự nhiên và tự phát nào dẫn tới hệ thống này; nó phải được áp đặt một cách nhân tạo (bằng một cuộc cách mạng) lên cho xã hội. Nhưng một khi quyền lực đã được xác lập và củng cố, nó tự phát triển.

2.2 Hệ thống tư bản chủ nghĩa

Cũng với cách lập luận đó, nếu cơ cấu quyền lực là thân thiện với sở hữu tư nhân và thị trường, thì hình thức sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường sẽ phát triển một cách tự phát trở thành hình thức sở hữu và cơ chế điều phối chiếm ưu thế. Những thứ này tạo thành phần mềm điều hành hệ thống và xác định các ứng xử đặc thù hệ thống cũng như lợi ích và động cơ của những thành viên tham gia (ràng buộc ngân sách cứng, đáp ứng mạnh mẽ với giá cả, v.v.). Và tất cả những thứ này tạo ra những sự đều đặn đặc thù hệ thống và các hiện tượng kinh tế cố hữu (không có thiếu hụt kinh niên; thị trường của người mua; thất nghiệp kinh niên; biến động trong chu kì kinh doanh). Loại hệ thống này cũng có tính nhất quán: các thành tố của nó khớp với nhau và có ái lực giữa chúng. Nói cách khác hệ thống tư bản chủ nghĩa cũng là một hệ thống ổn định. Ðáng lưu ý, có lẽ bất ngờ với nhiều người, là ta không thấy từ “dân chủ” trong khối 1. Dân chủ là điều đáng mong muốn, song Dân chủ không phải là một điều kiện cần đối với hoạt động của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Nó cũng có thể hoạt động dưới chế độ độc tài, miễn là cơ cấu quyền lực là thân thiện với sở hữu tư nhân và thị trường (tôn trọng tự do kinh doanh và tự do thoả thuận). Nếu quyền lực chính trị ủng hộ sở hữu tư nhân và thị trường thì điều đó sẽ giúp cho sự phát triển của hệ thống tư bản chủ nghĩa, nhưng ngay cả điều này cũng chẳng phải là điều kiện cần thiết. Yêu cầu tối thiểu là nó tự kiềm chế khỏi sự thù địch thẳng thừng với sở hữu tư nhân và thị trường. Nó không được tiến hành tịch thu hàng loạt hoặc huỷ hoại sở hữu tư nhân. Nó không được đưa ra những quy chế gây tác hại một cách nghiêm trọng, rộng rãi và có hệ thống đối với lợi ích kinh tế của các tầng lớp hữu sản. Nó không được ngăn cấm điều phối thị trường một cách lâu dài ở hầu hết nền kinh tế. Lời hoa mĩ chẳng có mấy giá trị ở đây (Hitler chẳng đã chửi bới chế độ tài phiệt đó sao?), cái chính là ứng xử thực tế của giới nắm quyền.

Hành văn của khối 2 trong mô hình hệ thống tư bản chủ nghĩa nhắc tới sự chiếm ưu thế của sở hữu tư nhân. Chẳng cần coi điều này một cách tuyệt đối. Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, các tổ chức thuộc sở hữu nhà nước và các tổ chức phi lợi nhuận cũng có vai trò. Là đủ khi nói rằng các tổ chức phi tư nhân không đóng vai trò ưu thế.

Tương tự, hành văn của khối 3 nhắc tới sự chiếm ưu thế của điều phối thị trường. Cũng thế, điều này không loại trừ các cơ chế điều phối khác (như điều phối quan liêu, đạo đức, gia đình, tự quản); tuy vậy nét đặc trưng căn bản của cơ chế điều phối tư bản chủ nghĩa là điều phối kinh tế thông qua thị trường, thông qua điều chỉnh lẫn nhau một cách phân tán của cung, cầu, số lượng và giá cả.

Khối 4 và 5 dẫn chiếu tới sự đều đặn và những hiện tượng kinh tế cố hữu mang tính đặc thù hệ thống.

2.3 Hệ thống cải cách

Một hệ thống được gọi là ổn định nếu nó có cơ chế nội tại để tự kéo quỹ đạo của mình về trạng thái bình thường (được đặc trưng bởi các tính chất căn bản có tính cố hữu) khi có các tác động làm trệch khỏi quỹ đạo đó. Ðiều kiện cần để một hệ thống ổn định là nó phải nhất quán, nền tảng của nó không tự mâu thuẫn.

Một mặt, như đã nhắc tới ở trên, hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển và hệ thống tư bản chủ nghĩa là các hệ thống ổn định theo nghĩa của các hệ thống động học. Mặt khác, các hệ thống cải cách, như hệ thống được mô tả trong Bảng 1, là các hệ thống có tính quá độ, không ổn định. Hệ thống cải cách không nhất quán, có những mâu thuẫn, xung đột nội tại, và buộc phải quay trở lại hệ thống ban đầu hoặc chuyển thành hệ thống khác. Thời gian chuyển đổi quá độ có thể là ngắn ở mức vài tháng hay có thể kéo dài vài thập kỉ. Nếu chúng ta xem xét các hệ thống được khảo sát ở đây như trạng thái của một hệ thống động học lớn hơn với đơn vị thời gian tính bằng năm, ta có thể nói rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển là một trạng thái ổn định cục bộ (local stable state), hệ thống tư bản chủ nghĩa là một trạng thái ổn định toàn cục (global stable state) của hệ thống động học lớn hơn này. Nếu đơn vị thời gian được tính bằng thập niên hay thế kỉ thì hệ thống lớn chỉ có một trạng thái ổn định duy nhất. Ta sẽ chỉ xem xét cải cách xã hội chủ nghĩa một cách ngắn gọn.

Những người nắm quyền trong nhiều nước xã hội chủ nghĩa sớm muộn cũng nhận ra tính phi hiệu quả của hệ thống chủ nghĩa xã hội cổ điển. Nhiều thử nghiệm cải cách đã xuất hiện lúc này lúc nọ ở các nước xã hội chủ nghĩa khác nhau với độ sâu khác nhau (mức sâu nhất là khối 1, mức nông nhất là khối 5) và với mức độ triệt để khác nhau. Một thí dụ về hệ thống cải cách được minh hoạ bởi mô hình trong cột 3 của Bảng 1. Kornai [Kornai 1992, chương 16 đến chương 24] trình bày toàn diện, thấu đáo và phân tích sâu sắc về quá trình cải cách xã hội chủ nghĩa. Những cải cách xã hội chủ nghĩa, như chủ nghĩa xã hội thị trường chẳng hạn, không tạo ra một hệ thống ổn định, nó có góp phần tạo ra các tiền đề khác nhau cho chuyển đổi hệ thống song chúng không phải là sự chuyển đổi hệ thống.

2.4 Các phiên bản, những biến dạng

Ta đã thấy cả hai hệ thống, ở dạng thuần khiết của chúng, đều là các hệ thống ổn định và có thể hoạt động theo các tiêu chuẩn riêng của chúng. Cũng như trong phần mềm hệ điều hành, và các phần mềm khác, mỗi loại phần mềm có rất nhiều phiên bản (version) khác nhau, hai mô hình lí thuyết này cũng có các version khác nhau mô tả các hệ thống hiện tồn khác nhau. Các phiên bản này cũng chính là các biến dạng khác nhau của cùng một loài nếu dùng cách nói sinh học.

Chẳng có hai nước xã hội chủ nghĩa nào có những sự tương đồng hoàn toàn chính xác như nhau một cách chi tiết, nhưng những nét đặc trưng chính thì được nêu trong cột hai của Bảng 1. Một số đặc trưng, hay cường độ của chúng thay đổi từ thời kì này qua thời kì khác. Chắc chắn là hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trong thời kì Stalin và Khruschev là khác nhau, chúng cũng khác xã hội chủ nghĩa Hungary thời Kádár János hay chủ nghĩa xã hội ở Ba Lan thời Gomulka, Gierek và Jaruzelski.

Ðiều tương tự cũng xảy ra trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Vai trò ưu thế, chủ đạo của khu vực tư nhân không loại bỏ sự tồn tại của khu vực nhà nước, và trong khía cạnh này có sự khác biệt lớn lao giữa Hoa Kì (có khu vực nhà nước rất nhỏ) và Áo [Austria] (có khu vực nhà nước lớn). Cũng tương tự, điều phối thị trường chiếm ưu thế không có nghĩa là không có sự can thiệp quan liêu, thí dụ sự khác biệt về khía cạnh này giữa Vương quốc Anh (ít can thiệp quan liêu) với Pháp và Thuỵ Ðiển (có can thiệp quan liêu mạnh với tái phân phối) là khá lớn. Tuy vậy chúng đều là các biến thể, các phiên bản khác nhau của cùng một hệ thống với các đặc tính cơ bản nêu trong Bảng 1.

3. Thay đổi hệ thống

Mục này nêu một vài điểm đặc trưng của việc chuyển từ hệ thống này sang hệ thống khác. Mọi chuyển đổi hệ thống như vậy được Kornai gọi là cách mạng theo nghĩa phi giá trị (value free). Biến chuyển này có thể phân tích bằng cách dùng các mô hình này. Quá trình thay đổi bắt đầu khi xã hội dịch chuyển khỏi các đặc trưng chủ yếu của hệ thống cho trước nêu trong các khối 1, 2 và 3, và chấm dứt khi xã hội đạt cấu hình mới của các khối 1, 2 và 3 đặc trưng cho hệ thống mới. Nói cách khác, ta nói rằng hệ thống đã chuyển từ hệ thống cũ sang hệ thống mới nếu tất cả các đặc trưng chính nêu trong mô hình của hệ thống cũ đã chuyển một cách phù hợp theo mô hình mới và các đặc trưng này đã được củng cố.

3.1 Chuyển đổi từ hệ thống tư bản chủ nghĩa sang hệ thống xã hội chủ nghĩa

Chuyển đổi sang hệ thống xã hội chủ nghĩa diễn ra ở các nước có điều kiện và bối cảnh rất khác nhau. Chỉ có Liên Xô là nước duy nhất tự mình thông qua biến đổi cách mạng chuyển từ hệ thống tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa. Hầu hết các nước khác chuyển đổi chủ yếu bằng nội lực với sự trợ giúp có mức độ từ bên ngoài. Sự chuyển đổi của các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu lại được tiến hành một cách hoàn toàn khác, hệ thống mới được áp đặt từ bên ngoài với sự hiện diện của quân đội Liên Xô.

Tuy vậy, ngay sau khi cơ cấu quyền lực được thiết lập, sự phát triển của tất cả các nước này lại rất giống nhau. Sự chuyển đổi sang hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển không xuất phát một cách tự phát từ các lực lượng nội tại, căn nguyên của nền kinh tế. Thay vào đó, hệ thống được áp đặt lên xã hội một cách nhân tạo. Ðảng Cộng sản lên nắm quyền với hệ tư tưởng và quyền lực không chia sẻ (khối 1) có tầm nhìn thấu đáo về loại xã hội, về nền kinh tế và văn hoá mà nó muốn tạo ra: một hệ thống xoá bỏ sở hữu tư nhân và thị trường, thay chúng bằng sở hữu nhà nước và kế hoạch hoá. “Chương trình gen” được thực thi và tất cả các tính năng của hệ thống phát triển một cách tự phát bởi chính chúng. Hệ thống tự hoàn tất và loại bỏ mọi định chế và tổ chức không tương hợp với nó. Hầu hết tài sản của các tầng lớp hữu sản bị tịch thu và biến thành tài sản nhà nước. Tập thể hoá hàng loạt xảy ra trong lĩnh vực nông nghiệp và tạo nên khu vực hợp tác xã tựa-nhà nước hay khu vực nhà nước. Khu vực tư nhân bị loại bỏ (khối 2). Ðiều phối quan liêu (kế hoạch hoá tập trung, kiểm soát hành chính) phát triển (khối 3). Chuyển đổi hệ thống hoàn tất khi các quá trình mô tả trong ba khối này xảy ra và kết quả được củng cố. Quá trình chuyển đổi này kéo dài trong một vài năm. Sau đó hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển phát triển với các tính chất đặc thù (khối 4,5). Mô tả sâu sắc và súc tích về sự hình thành củng cố và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển có thể thấy trong [Kornai 1992, chương 1 đến chương 15].

3.2 Chuyển đổi từ xã hội chủ nghĩa sang tư bản chủ nghĩa

Hai mươi mốt trong số 26 nước xã hội chủ nghĩa, được nhắc tới ở trên, đã chuyển đổi dứt khoát thành tư bản chủ nghĩa. Trong năm nước còn lại Trung Quốc và Việt Nam đã bỏ qua chủ nghĩa xã hội cổ điển trên dưới 20 năm (Trung Quốc từ 1978, Việt Nam từ 1986). Triều Tiên và Cu Ba là hai nước duy nhất còn ở trong chủ nghĩa xã hội cổ điển vào cuối thế kỉ 20, nhưng những sự kiện chính trị giữa Triều Tiên và Hàn Quốc có thể báo hiệu những chuyển biến đáng kể. Giữa 2002 Triều Tiên cũng bắt đầu buộc phải có những cải cách nhất định (xoá bỏ chế độ tem phiếu chẳng hạn) do những khó khăn chồng chất về kinh tế (nạn đói xảy ra liên tiếp trong mấy năm qua). Tình hình Cu Ba trong thời gian qua cũng tương tự, và đã có những dấu hiệu mở cửa. Lào có những thay đổi gần như Việt Nam. Sự chuyển đổi là khác nhau ở các khía cạnh: thời điểm bắt đầu dịch chuyển, sự dịch chuyển xảy ra đầu tiên ở đâu, và sự thay đổi gây ra các tác động tương hỗ nào. Kornai cho rằng dường như xuất hiện ba kiểu chuyển đổi.

Như chúng ta đã thấy, cơ cấu quyền lực ở một nước tư bản chủ nghĩa không loại trừ khả năng cai trị của các nhà độc tài (Hàn Quốc, Ðài Loan, Philippine, Chile chỉ là một vài thí dụ lịch sử vừa qua). Trong chuyển đổI loại 1, hệ thống được thay thế bằng sự cai trị độc tài chống cộng. Ðó là điều đã xảy ra năm 1919 ở Hungary khi Cộng hoà Xô Viết Hungary do Kun Béla lãnh đạo bị thất bại, và sau đó là một thời kì khủng bố trắng chống cộng. Hệ thống xã hội chủ nghĩa phôi thai, bán-thành công, chưa chín muồi của Allende ở Chile bị đảo chính quân sự của Pinochet lật đổ, người đã áp đặt chế độ độc tài trong thời gian dài. Cũng tương tự, sự rút khỏi Afganistan của Liên Xô đã mở đường cho chế độ độc tài thần quyền, chống cộng cai trị hết sức hà khắc.

Loại 2 được minh hoạ bằng chuyển đổi của nhiều nước Ðông Âu đã trải qua “cuộc cách mạng nhung”. Không hề có thời kì khủng bố chống cộng. Thay vào đó, một hệ thống dân chủ hình thành từ chế độ chính trị cũ. Các nước này hoặc đã phát triển các định chế dân chủ, hoặc đã có các bước để làm như vậy. Trong nhiều nước, những người cộng sản trước kia đã trở thành những người dân chủ xã hội và đóng vai trò tích cực trong đời sống chính trị, không hiếm khi các tổ chức mới của họ (các đảng xã hội, dân chủ) đã thắng cử và nắm quyền (như ở Hungary trong nhiệm kì thứ hai và nhiệm kì này kể từ 1990). Nhiều nhà lãnh đạo quốc gia của các nước này nguyên là những người cộng sản. Ða số các quan chức của thời xã hội chủ nghĩa tiếp tục là quan chức hay lãnh đạo kinh tế của hệ thống mới. Họ vẫn giữ được quyền lực chính trị, kinh tế và văn hoá và tham gia tích cực vào đời sống xã hội, tất nhiên quyền lực đó không còn là độc quyền mà là một bộ phận của nền dân chủ mới.

Trung Quốc (và có lẽ cả Việt Nam và Lào?) có thể đại diện cho chuyển đổi thuộc loại 3. Ðảng cộng sản tự thân chuyển biến từ bên trong, thông qua một sự thay đổi đột ngột từ thái độ chống tư bản kịch liệt sang thái độ thân-tư bản chủ nghĩa một cách ngấm ngầm, và càng ngày càng công khai hơn. Có sự thâm nhập đan xen giữa Đảng cộng sản ở trung ương và nhất là ở cấp địa phương với tầng lớp lãnh đạo kinh doanh tư nhân. Khá phổ biến là một quan chức đảng tham gia kinh doanh trong khi vẫn giữ chức vụ trong đảng. Hoặc thường xuyên hơn là, lãnh đạo của doanh nghiệp nhà nước, hoặc thậm chí người chủ-giám đốc của doanh nghiệp tư nhân, là bí thư của tổ chức đảng. Khi mà sự đan xen này không xảy ra một cách chính thức, thì vợ, anh em, con cái của họ có thể làm như vậy, hoặc tham gia làm kinh tế tư nhân núp bóng người khác, tổ chức khác; và như thế quyền lực chính trị và thương mại thực ra được giữ trong nội bộ gia đình hay gia đình mở rộng. Con đường này có thể dẫn đến một đảng cầm quyền vẫn tiếp tục là cộng sản, nhưng trên thực tế lại thân thiện với sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường. Nếu lí thuyết ba đại diện của ông Giang Trạch Dân được chấp nhận thành cương lĩnh trong đại hội tháng 11 này của Ðảng Cộng sản Trung Quốc, thì đó sẽ là một sự thay đổi căn bản theo hướng này, kể cả về mặt lí luận. Ðiều này có thể dẫn đến một tiến trình khả dĩ để cho mầm mống của nền dân chủ xuất hiện.

4. Tính hiệu quả và Dân chủ

4.1 Tính hiệu quả

Cho đến điểm này chưa có thảo luận về tính hiệu quả kinh tế. Hiệu quả có thể đo lường bằng một tập các chỉ số. Một số đo của tính hiệu quả là năng suất lao động. Thay cho việc đi vào chi tiết chúng ta chỉ nhắc tới một vài khẳng định có thể rút ra từ mô hình lí thuyết và được xác nhận bởi các số liệu thống kê thực tế.

Hệ thống xã hội chủ nghĩa là phi hiệu quả về mặt kinh tế

Có thể chỉ ra về mặt lí thuyết rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển là phi hiệu quả về mặt kinh tế . V. I. Lenin viết vào năm 1918, ngay khi thiết lập hệ thống xã hội chủ nghĩa, rằng cuộc đua giữa hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa rốt cuộc sẽ được quyết định bằng việc hệ thống nào có thể đảm bảo năng suất cao hơn và ông tin rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa sẽ thắng[Lenin 1918, [1969] p. 248]). Ðiểm mấu chốt thực tế của bước ngoặt 1989-1990 chính là hệ thống xã hội chủ nghĩa đã thua trong cuộc đua này. Khẳng định này được xác nhận một cách rõ ràng bằng các số liệu thống kê so sánh về kết quả kinh tế của hai hệ thống (xem thí dụ [Kornai 2000, pp. 38-39], [Kornai 1992], hoặc so sánh kết quả kinh tế của các nước có các điều kiện xuất phát tương tự nhau như giữa Ðông Ðức và Tây Ðức, Ðại Hàn và CHÐCN Triều Tiên, Ðài Loan và Trung Hoa lục địa).

Là thành viên của hệ thống tư bản chủ nghĩa là một điều kiện cần nhưng không là điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế.

Ðiều kiện cần của khẳng định này có thể thấy một cách rõ ràng từ khẳng định lí thuyết được thực tế xác nhận nêu ở a) kể trên và sự thực là tất cả các nền kinh tế hiệu quả đều là các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhưng cũng có rất nhiều nền kinh tế tư bản chủ nghĩa kém hiệu quả và nhiều nước đi theo chủ nghĩa tư bản vẫn ở trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Ðiều này xác minh vế thứ hai của khẳng định: tư bản chủ nghĩa không phải là điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế.

Tuy chuyển sang hệ thống tư bản chủ nghĩa không đảm bảo tính hiệu quả về kinh tế, nó cho cơ hội để đạt hiệu quả cũng như những ưu việt khác của tư bản chủ nghĩa. Phát triển công nghệ nhanh hơn, bởi vì hệ thống tư bản chủ nghĩa có thiên hướng nhiều hơn để tiến hành đổi mới công nghệ. Chủ nghĩa tư bản và tinh thần kinh doanh dọn đường cho công việc kinh doanh và tạo ra những kích thích, khuyến khích trong nền kinh tế. Nó sử dụng những nguồn lực con người và vật lí một cách hiệu quả hơn hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ðiều này có nghĩa rằng, ở tầm dài hạn, nó phát triển nhanh hơn và tăng sản xuất và năng suất lao động nhanh hơn, và chính vì thế làm tăng phúc lợi vật chất cho con người nhanh hơn. Làm sao để tận dụng được các cơ hội đó lại là vấn đề khác, song nếu không có cả cơ hội nữa thì thật là thảm hoạ.

4.2 Dân chủ

Chủ nghĩa tư bản là một điều kiện cần của dân chủ. Cũng như lí giải các khái niệm trước, chúng ta tránh đưa ra một định nghĩa chuẩn tắc về dân chủ. Khởi điểm sẽ không phải là cái chúng ta “mong đợi” ở dân chủ; tức là những cái đặc trưng mà một chế độ có để đáng gọi là dân chủ cần có. Thay vào đó, chúng ta muốn đưa ra một định nghĩa thực chứng, mô tả, giải thích về dân chủ. Nó phải dựa trên cơ sở chắt lọc từ những đặc tính chung của các nước được biết đến một cách rộng rãi là các nước dân chủ.ii Dân chủ là một sự kết hợp của các tổ chức chính trị, các định chế, các chuẩn mực xã hội và các dạng mẫu ứng xử được thừa nhận mà chúng tạo thành các điều kiện hoạt động cho xã hội. Cần nhấn mạnh là dân chủ không chỉ có nghĩa là bỏ phiếu, bầu cử, hay nguyên tắc đa số. Dân chủ đòi hỏi các quyền lợi, quyền tự do phải được bảo vệ, các quyền hợp pháp phải được tôn trọng, thảo luận tư do phải được đảm bảo và thông tin được phát tán mà không bị kiểm duyệt [Amartya Sen 2001], với sự tham gia tích cực của và rộng rãi của công dân [J. Stiglitz 2001]. Chúng ta liệt kê bốn điều kiện tối thiểu cho một nền dân chủ khả dĩ; ngay thứ tự liệt kê chúng cũng quan trọng.

Chính phủ có thể bị giải tán, và việc giải tán được tiến hành một cách văn minh. Ðối với chúng ta, những người sống trong các nước hậu xã hội chủ nghĩa, hiểu rất rõ việc hạ bệ các nhân vật cầm quyền hay nhóm cầm quyền một cách phi văn minh là thế nào; họ bị hạ sát, là nạn nhân của một cuộc đảo chính, bị tử hình hay cầm tù sau khi bị hạ bệ, bị lật đổ bởi một cuộc khởi nghĩa, v.v và v.v.

Các nền dân chủ sử dụng thủ tục bầu cử để hạ bệ một cách văn minh. Thủ tục này được kiểm soát bởi các luật bổ sung bởi các quy ước. Thủ tục bầu cử phản ánh ở mức độ nào đó sự đồng tình hay bất đồng tình chính trị. Chúng ta tránh nhấn mạnh bằng cách nói rằng dân chủ phản ảnh “ý nguyện của đa số” hay “ý nguyện của dân”, bởi vì sự truyền dẫn từ những ưa thích của công dân tới thành phần của quốc hội và chính phủ theo thủ tục bầu cử không phải là không có ma sát và méo mó.iii

Trong một nền dân chủ, không một quyền lực chính trị nào hay ý thức hệ chính trị nào có độc quyền được đảm bảo bởi sức mạnh của nhà nước. Quá trình chính trị dựa trên cơ sở cạnh tranh, tranh đua: các đảng, các phong trào và các nhóm chính trị giành giật với nhau vì lá phiếu và sự ủng hộ chính trị khác. Do đó, tất cả các nền dân chủ đều hoạt động như một hệ thống đa đảng.

Dân chủ không chỉ đơn thuần ban hành các quyền tự do chính trị, nó đảm bảo chúng trong thực tiễn. Nhà nước không thể cản trở bằng vũ lực quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hay tự do hội họp và lập hội.

Dùng một tiêu chuẩn đơn giản và dễ kiểm chứng, dân chủ có thể được coi là đã được củng cố ở mức độ nhất định khi đã có bầu cử tự do ít nhất hai lần, tạo một cơ hội thật sự cho việc hạ bệ chính phủ. Tiêu chuẩn đó phân loại rõ ràng, thí dụ, rằng các chế độ chính trị hiện hành ở Cộng hoà Czeck, Hungary và Ba Lan là dân chủ.

Không có nước nào với một nền dân chủ chính trị, trước đây cũng như ngày nay, mà sở hữu tư nhân và điều phối thị trường lại không chiếm ưu thế trong nền kinh tế của nó. Tuy vậy, sở hữu tư nhân và thị trường không phải là điều kiện đủ để tạo ra nền dân chủ. Như đã nhắc tới ở trên, đã có và vẫn còn nhiều nước có chế độ chính trị phi dân chủ, chuyên quyền, thậm chí độc tài mà sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường chiếm ưu thế trong nền kinh tế. Sự kết hợp này chắc hẳn có thể tồn tại được ở tầm ngắn hạn, và thậm chí cả ở tầm trung hạn.

Liệu một nền kinh tế thị trường trên cơ sở sở hữu tư nhân có trợ giúp cho sự xuất hiện của một nền dân chủ chính trị ở tầm dài hạn? Có nhiều thí dụ lịch sử trong đó tiếng nói và những lợi ích của thị trường tư bản chủ nghĩa dường như đã giúp tạo ra sự chuyển đổi dân chủ, bao gồm các chế độ độc tài ở Nam Âu và ở nhiều nước Viễn Ðông và Mĩ Latin. Tuy vậy, khi những tính toán kinh tế lượng được tính một cách có hệ thống để phân tích mối quan hệ giữa dân chủ, các định chế thị trường và tăng trưởng, với số lượng các nước được xem xét là lớn và số liệu mẫu ở tầm dài hạn, thì kết quả vẫn chưa thuyết phục (thí dụ, Barro, 1991, 1996a, b; Tavares and Wacziarg, 1996). Giả thiết chẳng được xác nhận một cách rõ ràng cũng chẳng bị bác bỏ một cách hoàn toàn. Cần thêm kinh nghiệm lịch sử, bao gồm cả lịch sử vừa qua và trong thời gian tới của chuyển đổi hậu xã hội chủ nghĩa, sẽ cung cấp thêm các bằng chứng để giải quyết giả thiết này.

Mặt khác, có những căn cứ [xem M. Pei 2001 và trích dẫn ở đó] ủng hộ lập luận cho rằng sự thịnh vượng kinh tế có tác động đáng kể đến sự bền vững của nền dân chủ chứ không phải đến sự xuất hiện của nền dân chủ. Nói cách khác các nước dân chủ nghèo hơn có nền dân chủ mỏng manh hơn so với các nước dân chủ thịnh vượng hơn. Theo đó, tuổi thọ trung bình của một nền dân chủ là 8 năm khi GDP trên đầu người -tính theo sức mua (PPP)- là 1.000 USD; là 26 năm khi GDP trên đầu người ở khoảng 2.001 đến 3.000 USD; khi thu nhập bình quân trên đầu người vượt qua ngưỡng 6.000 USD thì nền dân chủ là bất tử. Các bằng chứng thống kê cho thấy chế độ chuyên chế vẫn có thể tồn tại dai dẳng trên cả những ngưỡng giàu có này.

Giá trị của dân chủ có thể phán xét theo hai cách. Thứ nhất là xem xét giá trị phương tiện của dân chủ. Người ta đôi khi lập luận rằng dân chủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi vật chất. Thí dụ, Olson (1996, p.18) lập luận rằng sự hoạt động trôi chảy của sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường được lợi từ sự an toàn và sự tin cậy của một nhà nước lập hiến, ngược lại với sự cai trị độc tài chuyên chế, khi mà tính thất thường, đồng bóng của nhà độc tài làm cho các sự kiện càng khó phán đoán hơn. Hay nghiên cứu dữ liệu tăng trưởng của 115 quốc gia từ 1960 đến 1980 của Scully [xem M. Pei 2001 và trích dẫn ở đó] cho thấy rằng các nước có mức cởi mở chính trị cao thì đạt được tỉ lệ tăng trưởng bình quân đầu người thực tế hàng năm là 2,53%, so với 1,41% ở các nước có hệ thống chính trị khép kín hơn. Nói cách khác, các nước dân chủ tăng trưởng nhanh hơn 80% so với các nước ít dân chủ hơn. Phân tích số liệu của 159 nước M. Pei thấy tác động quan trọng của thu nhập đầu người tới dân chủ, tăng thêm 1.000 USD thu nhập (tính theo sức mua tương đương: PPP) làm cho mức dân chủ tăng 0,287 trong thang 12 điểm. Trong khi tác động này là có vẻ hợp lí, nhưng đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện, như được Offe (1991) thảo luận. Tuân thủ các quy tắc dân chủ có thể làm cho việc đưa ra các chính sách đáng mong mỏi trở nên khó khăn hơn. Có các chế độ chuyên quyền có tính hiệu quả cao, như Ðài Loan, Ðại Hàn trong các thập niên đầu sau Chiến tranh thế giới thứ 2 hay Singapore ngày nay, và có các nền dân chủ ì ạch, như ấn Ðộ trong hầu hết thời kì sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2. Nhà đầu tư có thể ưa sự ổn định của một nền dân chủ đã được củng cố hay sự ổn định bất luận xuất hiện trong chế độ dân chủ hay chuyên chế.

Một mặt, tuy vậy có khả năng là sự luân chuyển thông tin mau lẹ trong xã hội hiện đại sẽ tạo khả năng cho một sự liên hệ mạnh hơn giữa dân chủ và tăng trưởng. Trong thời đại của máy tính, máy photocopy, máy fax và Internet, sự cấm đoán của chế độ độc tài ngăn cản sự phổ biến, truyền bá những sáng chế, đổi mới và thông tin kinh doanh, điều đó làm cản trở sự tham gia vào mạng lưới kinh doanh toàn cầu. Chẳng sớm thì muộn, cách mạng kĩ thuật bao gồm công nghệ thông tin sẽ tạo áp lực lên các nước vẫn theo đuổi chính sách chính trị hạn chế truyền thông, thông tin sẽ hoặc buộc phải dỡ bỏ các rào cản đối với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp, và như vậy sẽ thúc đẩy dân chủ; hoặc các nước này sẽ tụt hậu thảm hại một cách không thể tránh khỏi trong cuộc cạnh tranh toàn cầu.

Mặt khác, tuy có một số chế độ chuyên chế có hiệu quả kinh tế như nêu trên, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy các chế độ chuyên chế ưu việt hơn so với các chế độ dân chủ về tăng trưởng kinh tế. Hơn thế nữa, bài học của cuộc khủng hoảng tài chính 1997 cho thấy rõ sự thiếu dân chủ ở các nước công nghiệp mới ở Châu á đã là một nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng. Có nhiều nghiên cứu mới đây về quan hệ giữa dân chủ và tăng trưởng [xem Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển Ngân hàng Thế giới 2001].

A. Sen [2001] cho rằng dân chủ có ba đóng góp tích cực nổi bật. Thứ nhất dân chủ làm giàu cuộc sống cá nhân do có quyền tự do chính trị, một phần cốt lõi của nhân quyền; thứ hai, dân chủ đảm bảo các kích thích chính trị cho các nhà cầm quyền nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân; và thứ ba, thông qua đối thoại và tranh luận công khai dân chủ giúp hình thành những giá trị cũng như những ưu tiên. Ông lưu ý rằng trong lịch sử nạn đói khủng khiếp trên thế giới, chưa bao giờ xảy ra nạn đói đáng kể ở bất kì một nước dân chủ với một nền báo chí tương đối tự do, ngược lại với nạn đói khủng khiếp đã xảy ra ở Xu đăng, Etiôpi, Xômali, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, hay nạn đói thời 1958-1961 ở Trung Quốc cướp đi sinh mạng của gần 30 triệu người.

Chính vì vậy, lập luận căn bản ủng hộ dân chủ nằm ở giá trị nội tại của nó đảm bảo quyền tự do chính trị và ngăn chặn chế độ độc tài. Ðiều này có một giá trị thật to lớn.

Cũng có những người khác đánh giá theo các thang giá trị khác có thể phán xét khác đi. Những kẻ coi rẻ dân chủ – bởi vì nó chưa từng là quan trọng đối với họ, hoặc họ đã quên cảm giác ra sao khi phải sống trong cảnh bị tước đoạt quyền tự do chính trị, dưới một chính thể độc tài áp đặt quy tắc bằng vũ lực – chẳng bao giờ được thuyết phục và nhận thức được về sự thích đáng phi thường này của đức hạnh dân chủ. Ngay cả những người rất coi trọng dân chủ cũng cần thấy rằng chỉ riêng sự thực của chuyển đổi hệ thống không đảm bảo cho dân chủ. Sự dịch chuyển sang chủ nghĩa tư bản đơn giản chỉ tạo ra một trong các điều kiện cần thiết cho dân chủ.


Tài liệu Tham khảo

Barro, Robert. 1991. “Economic Growth in a Cross-section of Countries”. Quarterly Journal of Economics. 106:2, pp. 407-43.
Barro, Robert. 1996a. “Democracy and Growth”. Jornal of Economic Growth. 1:1, pp. 1-27.
Barro, Robert. 1996b. Determinants of Democracy. Mimeo, Cambridge: HavardUniversity
Dahl, Robert A. 1971. Polyarchy. Participation and Opposition.New Haven and London: Yale Univerity Press, pp. 1-16
Hayek, Friederich A. 1960. The Constitution of Liberty.London: Routledge, and ChicagoUniversity Press.
Hayek, Friederich A. 1989. Order – With or Without Design. London: Center for Research into Communist Economies.
Huntington, Samual P. 1991. The Third Wave. Democratization in the Twentieth Century.Norman and London: University of Oklahoma Press.
Kornai, J. 1992. The Socialist System. The Political Economy of Communism. Princeton: PrincetonUniversity Press, and Oxford: OxfordUniversity Press. Hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chính trị kinh tế học phê phán. Hà nội: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin 2002.
Kornai, J. 2000. “What the Change of System From Socialism to Capitalism Does and Does Not Mean” Journal of Economic Perspectives. Vol. 14, No.1, Winter 2000.
Lenin, V.I. [1918] 1969. “Immediate Tasks of the Soviet Government”. in: Collected Works, vol. 27. Moscow: Progress, pp. 235-77.
Linblom, Charles E. 1977. Politics and Markets. The World’s Political-Economic Systems. New York: Basic Books, pp. 131-43.
Ngân hàng Thế giới: The World Bank: Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển. do FarrukhI. và Jong-Il You chủ biên. Hà nội, the World Bank. 2002
Offe, Claus. 1991. “Capitalism by Democratic Design? Democratic Theory Facing the Triple Transition in East Central Europe”. Social Research. 58:4, pp. 893-902.
Pei, Mixin. 2002. “Thiết chế Chính trị, Dân chủ và Phát triển” trong Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển. do FarrukhI. và Jong-Il You chủ biên pp. 51-75. Hà nội, the World Bank. 2002
Schumpeter, Joseph A. 1947. Capitalism, Socialism, and Democracy. New York: Harper.
Sen, Amartya. 2000. Development as Freedom.New York: Anchor Books. Phát triển là Quyền Tự do. Hà nội: Nhà xuất bản Thống kê-2002.
Sen, Amartya. 2002. “Dân chủ và Công Bằng Xã hội” trong Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển. do FarrukhI. và Jong-Il You chủ biên pp. 29-49. Hà nội, the World Bank. 2002
Soros, G. 1987. The Alchemy of Finance. New York: Simon & Schuster.
Soros, G. 1998. The Crisis of Global Capitalism. PublicationAffair.
Stiglitz, J. “Tham gia và Phát triển” trong Dân chủ, Kinh tế thị trường và Phát triển. do FarrukhI. và Jong-Il You chủ biên pp. 77-101. Hà nội, the World Bank. 2002.
Tavares, J. and Romain Wacziarg. 1996. How Democracy Fosters Growth. Mimeo, Havard University.


[1] 1) Liên xô 1917, 2) Mông cổ 1921, 3) Anbani 1944, 4) Nam tư 1945, 5) Bungary 1947, 6) Tiệp kắc 1948, 7) Hungary 1948, 8) Ba lan 1948, 9) Rumani 1948, 10) Bắc Triều Tiên 1948-, 11) Trung quốc 1948-, 12) Ðông Ðức 1949, 13) Việt nam 1954-, 14) Cuba 1959-, 15) Công gô 1963, 16) Somali 1969, 17) Nam Yêmen 1969, 18) Bênin 1972-, 19) Etiôpi 1974, 20) Angola 1975, 21) Kampuchia 1975, 22) Lào 1975-, 23) Môzambic 1975, 24) Afganistan 1978, 25) Nicaragoa 1979, 26) Zimbabuê 1980. Số năm kèm theo tên nước là năm lên nắm quyền. Trong số này chỉ còn Cuba, Bắc Triều Tiên là thực sự vẫn theo hệ thống cổ điển, Trung quốc, Lào và Việt nam vẫn gọi mình là xã hội chủ nghĩa nhưng không còn là chủ nghĩa xã hội cổ điển, tất cả các nước khác đã chuyển đổi sang hệ thống tư bản chủ nghĩa.

[2] Không có sự đồng thuận về lí giải khái niệm dân chủ trong lí thuyết chính trị. Quan điểm trình bày ở đây được nhiều lí thuyết chính trị chia sẻ. Công trình cổ điển của Schumpeter- Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và Dân chủ: Capitalism, Socialism and Democracy (1947, ch. 2 và tr. 269) là đặc biệt tiên phong. Theo mô tả súc tích của Hungtington (1991, pp. 5-7), các tiếp cận này xuất phát từ “các định nghĩa mang tính kinh nghiệm, mô tả, thể chế và thủ tục”, ngược lại với các lí thuyết khác áp dụng định nghĩa không tưởng, duy tâm về dân chủ. Những lí giải “kinh nghiệm-mô tả” như vậy cũng được sử dụng trong các công trình nổi tiếng của Dahl (1971) và Linblom (1977), tất nhiên các tác giả khác nhau không phân loại các đặc tính chính theo một cách hệt như nhau.

[3] Như Samuel Huntington (1991, pp.9-10) viết, “Các cuộc bẩu cử, công khai, tự do, và thẳng thắn . . . [có thể tạo ra các chính phủ] không hiệu quả, tham nhũng, thiển cận, vô trách nhiệm, bị các lợi ích riêng chi phối, và bất lực trong việc đưa ra các chính sách mà lợi ích công động đòi hỏi. Những tính chất này có thể làm cho các chính phủ như vậy là không đáng mong muốn song không làm chúng thành phi dân chủ.”

Sách “Bàn về tinh thần pháp luật”

Sau thời kỳ dài của “đêm trường Trung cổ”, nhu cầu về thiết lập một trật tự xã hội mới với nền tảng cơ bản là giải phóng con người, tôn trọng quyền tự do của con người đặt ra hết sức gay gắt… Các nhà tư tưởng khai sáng đã xuất hiện và các ông đã có những công trình triết học, văn học, pháp luật, xã hội học…, nhằm hướng tới xây dựng một xã hội “tự do, bình đẳng, bác ái”.

Montesquieu (1689 – 1755) và Rousseau (1712 – 1778) nổi lên với tư cách là hai nhà tư tưởng có những ảnh hưởng rất lớn đến cuộc cách mạng tư sản Pháp nói riêng và nền văn minh thế giới nói chung. Hai tác phẩm: “Bàn về tinh thần pháp luật” (1748) của Montesquieu và “Bàn về khế ước xã hội” (1762) của Rousseau ra đời, trở thành bộ đôi tác phẩm có ý nghĩa khai sáng về quan điểm pháp chế, vạch ra định hướng xây dựng xã hội công dân, nhà nước pháp quyền, mở đường cho tư duy xã hội Pháp đi tới cuộc đại cách mạng tư sản năm 1789. Nhiều quan điểm trong hai tác phẩm này đã trở thành những nguyên tắc pháp lý chi phối sâu sắc đến sự phát triển của nhà nước và pháp luật hiện đại.

Hai tác phẩm ra đời đúng vào thời điểm mà tư tưởng cách tân bị ngăn cản, cấm đoán bởi các thế lực phong kiến hủ bại và thần quyền đương thời. Nhưng các tác giả đã dũng cảm thể hiện thái độ và tinh thần xây dựng tích cực của mình trước hiện thực xã hội. “Bàn về tinh thần pháp luật” đã đề cập và lý giải hàng loạt vấn đề luật học cũng như các khoa học xã hội đương thời; phân tích so sánh các nội dung và bản chất của các thể chế chính trị khác nhau, chỉ ra nhiều điểm hạn chế và tích cực của từng thể chế; bàn về các yếu tố liên quan đến luật, cách soạn thảo luật và ứng dụng luật trong các lĩnh vực xã hội… “Bàn về khế ước xã hội” cũng đề cập những vấn đề nêu trên nhưng đi theo hướng tư duy hoàn toàn khác: Nếu như Montesquieu muốn khám phá cái “trật tự, cái quy luật trong mớ hỗn độn các luật pháp ở mọi xứ sở và mọi thời đại” thì Rousseau lại cố gắng tìm kiếm trong cái “trật tự dân sự có hay không một số quy tắc cai trị chính đáng, vững chắc, biết đối đãi với con người như con người”; nếu như Montesquieu dùng phương pháp quy nạp trên cơ sở khảo sát, phân tích đặc điểm từ tự nhiên đến xã hội và các chính thể để rút ra các nguyên tắc chi phối chúng, thì Rousseau đi từ những nguyên tắc chung để đưa ra những hình thức chính thể cần phải có. Vì vậy, Rousseau chỉ đề cập lịch sử chính trị của loài người một cách khái quát nhất, còn lại tập trung bàn đến vấn đề phải tổ chức lại xã hội như thế nào. Ông đưa ra những nguyên tắc thiết lập một xã hội lý tưởng bằng các khế ước – đó là những luật cơ bản như hiến pháp, luật dân sự, hình sự… mà mọi thành viên trong đó phải tự nguyện tuân theo. Những khế ước đó bảo đảm các quyền lợi của xã hội, của mỗi thành viên như sự tự do, bình đẳng, quyền tư hữu… Sau khi đưa ra những nguyên tắc ấy, Rousseau bàn đến các hình thức chính thể. Ông đề cao chính thể dân chủ – chính thể mà người dân có thể tham gia nhiều nhất vào các hoạt động điều hành của nhà nước, đặc biệt là trên lĩnh vực lập pháp. Do đó, bao trùm tác phẩm là tinh thần xây dựng nguyên tắc của chế độ mới.

Đã hơn 200 năm trôi qua kể từ khi ra đời, “Bàn về tinh thần pháp luật” và “Bàn về khế ước xã hội” không tránh khỏi có một số quan điểm bị lịch sử vượt qua. Song, những giá trị kinh điển của nó đến nay vẫn còn nguyên giá trị và các tác phẩm này được xếp vào hàng tinh hoa tư tưởng của nhân loại.

Độc giả Việt Nam đã rất quen thuộc với tên tuổi của Montesquieu và Rousseau nhưng trực tiếp tiếp xúc với di sản tư tưởng của các ông thì mới chỉ giới hạn ở một phạm vi rất hẹp. Công cuộc đổi mới trên đất nước ta hiện nay, đặc biệt là đổi mới chính trị, đổi mới pháp luật theo hướng xây dựng một xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang có những bước tiến đáng kể. Việc mở rộng nghiên cứu những tác phẩm kinh điển về lĩnh vực lập pháp là rất cần thiết đối với toàn thể mọi người quan tâm, đặc biệt là các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội cũng như cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền và đoàn thể. Hai tác phẩm: “Bàn về tinh thần pháp luật” và “Bàn về khế ước xã hội” (bản dịch của Hoàng Thanh Đạm) chính là những tư liệu quý phục vụ tốt cho nhu cầu đa dạng của các bạn.

Có thể đọc trực tiếp sách này tại đây!

Sách “Bàn về khế ước xã hội”

Sau thời kỳ dài của “đêm trường Trung cổ”, nhu cầu về thiết lập một trật tự xã hội mới với nền tảng cơ bản là giải phóng con người, tôn trọng quyền tự do của con người đặt ra hết sức gay gắt… Các nhà tư tưởng khai sáng đã xuất hiện và các ông đã có những công trình triết học, văn học, pháp luật, xã hội học…, nhằm hướng tới xây dựng một xã hội “tự do, bình đẳng, bác ái”.

Montesquieu (1689 – 1755) và Rousseau (1712 – 1778) nổi lên với tư cách là hai nhà tư tưởng có những ảnh hưởng rất lớn đến cuộc cách mạng tư sản Pháp nói riêng và nền văn minh thế giới nói chung. Hai tác phẩm: “Bàn về tinh thần pháp luật” (1748) của Montesquieu và “Bàn về khế ước xã hội” (1762) của Rousseau ra đời, trở thành bộ đôi tác phẩm có ý nghĩa khai sáng về quan điểm pháp chế, vạch ra định hướng xây dựng xã hội công dân, nhà nước pháp quyền, mở đường cho tư duy xã hội Pháp đi tới cuộc đại cách mạng tư sản năm 1789. Nhiều quan điểm trong hai tác phẩm này đã trở thành những nguyên tắc pháp lý chi phối sâu sắc đến sự phát triển của nhà nước và pháp luật hiện đại.

Hai tác phẩm ra đời đúng vào thời điểm mà tư tưởng cách tân bị ngăn cản, cấm đoán bởi các thế lực phong kiến hủ bại và thần quyền đương thời. Nhưng các tác giả đã dũng cảm thể hiện thái độ và tinh thần xây dựng tích cực của mình trước hiện thực xã hội. “Bàn về tinh thần pháp luật” đã đề cập và lý giải hàng loạt vấn đề luật học cũng như các khoa học xã hội đương thời; phân tích so sánh các nội dung và bản chất của các thể chế chính trị khác nhau, chỉ ra nhiều điểm hạn chế và tích cực của từng thể chế; bàn về các yếu tố liên quan đến luật, cách soạn thảo luật và ứng dụng luật trong các lĩnh vực xã hội… “Bàn về khế ước xã hội” cũng đề cập những vấn đề nêu trên nhưng đi theo hướng tư duy hoàn toàn khác: Nếu như Montesquieu muốn khám phá cái “trật tự, cái quy luật trong mớ hỗn độn các luật pháp ở mọi xứ sở và mọi thời đại” thì Rousseau lại cố gắng tìm kiếm trong cái “trật tự dân sự có hay không một số quy tắc cai trị chính đáng, vững chắc, biết đối đãi với con người như con người”; nếu như Montesquieu dùng phương pháp quy nạp trên cơ sở khảo sát, phân tích đặc điểm từ tự nhiên đến xã hội và các chính thể để rút ra các nguyên tắc chi phối chúng, thì Rousseau đi từ những nguyên tắc chung để đưa ra những hình thức chính thể cần phải có. Vì vậy, Rousseau chỉ đề cập lịch sử chính trị của loài người một cách khái quát nhất, còn lại tập trung bàn đến vấn đề phải tổ chức lại xã hội như thế nào. Ông đưa ra những nguyên tắc thiết lập một xã hội lý tưởng bằng các khế ước – đó là những luật cơ bản như hiến pháp, luật dân sự, hình sự… mà mọi thành viên trong đó phải tự nguyện tuân theo. Những khế ước đó bảo đảm các quyền lợi của xã hội, của mỗi thành viên như sự tự do, bình đẳng, quyền tư hữu… Sau khi đưa ra những nguyên tắc ấy, Rousseau bàn đến các hình thức chính thể. Ông đề cao chính thể dân chủ – chính thể mà người dân có thể tham gia nhiều nhất vào các hoạt động điều hành của nhà nước, đặc biệt là trên lĩnh vực lập pháp. Do đó, bao trùm tác phẩm là tinh thần xây dựng nguyên tắc của chế độ mới.

Đã hơn 200 năm trôi qua kể từ khi ra đời, “Bàn về tinh thần pháp luật” và “Bàn về khế ước xã hội” không tránh khỏi có một số quan điểm bị lịch sử vượt qua. Song, những giá trị kinh điển của nó đến nay vẫn còn nguyên giá trị và các tác phẩm này được xếp vào hàng tinh hoa tư tưởng của nhân loại.

Độc giả Việt Nam đã rất quen thuộc với tên tuổi của Montesquieu và Rousseau nhưng trực tiếp tiếp xúc với di sản tư tưởng của các ông thì mới chỉ giới hạn ở một phạm vi rất hẹp. Công cuộc đổi mới trên đất nước ta hiện nay, đặc biệt là đổi mới chính trị, đổi mới pháp luật theo hướng xây dựng một xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang có những bước tiến đáng kể. Việc mở rộng nghiên cứu những tác phẩm kinh điển về lĩnh vực lập pháp là rất cần thiết đối với toàn thể mọi người quan tâm, đặc biệt là các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội cũng như cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền và đoàn thể. Hai tác phẩm: “Bàn về tinh thần pháp luật” và “Bàn về khế ước xã hội” (bản dịch của Hoàng Thanh Đạm) chính là những tư liệu quý phục vụ tốt cho nhu cầu đa dạng của các bạn.

Cái vô hạn trong lòng bàn tay

Sống cuộc đời của mình như thế nào? Sống trong xã hội ra sao? Chắc chắn đó là hai câu hỏi phản ánh những bận tâm chính của chúng ta. Lý tưởng nhất là lẽ sống của ta phải đưa chúng ta đến một cảm giác viên mãn, từng phút khởi nguồn sáng tạo và không làm chúng ta hối hận lúc lâm chung; cuộc sống trong xã hội cùng với những người khác phải tạo ra tinh thần trách nhiệm toàn nhân loại; tri thức phải giúp chúng ta khám phá ra bản chất của thế giới xung quanh và bản chất của tâm linh con người.

Những câu hỏi này đã tạo tiền đề cho sự ra đời của khoa học, triết học, chính trị, nghệ thuật, hành động xã hội và tâm linh. Tuy nhiên, sự phân chia mang tính chủ quan của các hoạt động này sẽ chỉ dẫn đến sự lụi tàn dần dần tồn tại của con người; không có tri thức được nuôi dưỡng bằng lòng vị tha thì khoa học và chính trị sẽ trở thành những con dao hai lưỡi, đạo đức trở nên mù quáng, nghệ thuật phù phiếm, xúc cảm hoang dã và tâm linh viển vông. Không có hiểu biết, tri thức sẽ suy vong; không có đạo đức, tất cả các hoạt động nay rẽ trở nên nguy hiểm, và không có sự tu chính tâm linh chúng ta sẽ trở nên vô nghĩa.

Từ thế kỷ XVII cho thấy đến nay, hầu như tất cả mọi người đều cho rằng khoa học ngày càng đồng nghĩa với tri thức; hơn nữa, sự tăng nên theo hàm mũ của sự tích tụ thông tin chưa hề có dầu hiệu chững lại. Bên cạnh đó, hoạt động tôn giáo đã suy giảm tạo các xã hội vô thần và dân chủ, và thường có xu hướng cấp tiến hoá tại các xã hội do các Quốc giáo cai trị. Cái mà bình thường phải tạo nên nền tảng của tôn giáo – tình yêu và lòng trắc ẩn – đã bị sai lệch hết sức thảm hoạ do những biến cố lịch sử.

Dù là giáo điều hay dựa trên kinh nghiệm thì các truyền thống lớn về tâm linh cũng đều cung cấp, ngoài những quan niệm siêu hình, còn cả các quy tắc đạo đức tạo ra những điểm quy chiếu, đôi khi cũng có tác dụng khai sáng nhưng đôi khi cũng là yếu tố cản trở. Ngày nay, các điểm quy chiếu này dần dần biến mất, hầu hết tất cả mọi người đều không coi các giới luật tôn giáo làm điểm tựa cho suy nghĩ và hành động của mình nữa, mặc dù theo truyền thống họ vẫn theo một tôn giáo nào đó. Họ tỏ ra sẵn sàng tin tưởng hơn và “ánh sáng” của khoa học và hiệu quả của công nghệ sẽ cho phép, đây là họ hy vọng, giải quyết được tất cả mọi vấn đề của tương lai.

Tuy nhiên, một số người lai cho rằng tham vọng của khoa học muốn biết tất cả là hoàn toàn ảo tưởng: khoa học về cơ bản bị giới hạn bởi lĩnh vực nghiên cứu mà chính nó đã xác định. Và mặc dù công nghệ mang lại những yếu tố tích cực vô cùng to lớn nhưng nó cũng gây ra những hậu quả tàn phá không kém phần nghiêm trọng. Hơn nữa, khoa học không có gì để nói về lẽ sống của con người.

Khoa học, tự nó, là một công cụ không tốt nhưng cũng không xấu. Tâng bốc khoa học hay biến nó thành quỷ sa tăng cũng chẳng khác gì ngợi ca hay chỉ trích sức mạnh. Sức mạnh của một cánh tay có thể giết chết hoặc cứu sống một con người. Các nhà khoa học không tốt nhưng cũng không xấu như bao người khác trên đời này và như mọi người khác, họ cũng vấp phải những vấn đề về đạo đức nảy sinh từ chính những phát minh của họ.

Khoa học không tạo ra đạo lý. Khoa học đã chứng tỏ rằng nó có thể tác động vào thế giới chứ không thể làm chủ được thế giới.Khoa học cũng vượt ra ngoài vòng kiểm soát của chúng ta: những ứng dụng của khoa học, theo cách một hiện tượng mạnh hơn là sự kết hợp đơn thuần các bộ phận cấu thành của nó, tạo ra một đà phát triển riêng của chính mình. Trước thực tế này, chỉ có những phẩm chất của con người mới có thể định hướng được cách tác động vào thế giới của chúng ta. Vậy mà những phẩm chất này chỉ có thể nảy sinh từ một “khoa học về tâm linh”. Nghiên cứu tâm linh không phải là trò để làm sang mà là một đòi hỏi tất yếu.

Miệt mài trong suốt nhiều thế kỷ với nghiên cứu và tìm kiếm đã không làm cho con người phát triển được chút nào trên con đường tiến tới một chất lượng tồn tại cao hơn, trừ khi chúng ta quyết định tập trung những nỗ lực của chúng ta theo hướng đó. Đời sống tâm linh phải được thực hiện với những quy định nghiên ngặt của khoa học, nhưng khoa học lại không mang trong những khoa học lai không mang trong những mầm mống của tâm linh

Ngày nay, người ta lại thất có sự quan tâm trở lại đối với những dạng tâm linh nhấn mạnh đến các khía cạnh thực dụng của kinh nghiệm chiêm nghiệm đã thoát khỏi những tín điều nặng nề. Sự quan tâm mà phương Tây dành cho phật giáo đã đánh thức sự tò mò của các phương tiện thông tin đại chúng và kích thích nhiều công trình nghiên cứu nhằm đánh giá những nguyên nhân của sự sùng bái này và những hướng phát triển có thể của chúng. Chúng ta có thể kể ra đây hai tác phẩm của Frédéric Lenoir Sự gặp gỡ giữa Phật giáo và Phương Tây và Phật giáo ở Pháp, cũng như những cuộc trao đổi của tôi với bố tôi, triêt gia Jean – Francois Revel.

Bên cạnh đó, trong vòng 20 năm trở lại đây, một cuộc đối thoại giữa khoa học và Phật giáo đã được mở ra theo sáng kiến của Đạt Lai Lạt Ma và các nhà tư tưởng Phật giáo khác. Kể từ năm 1987, theo gợi ý của Adam Engle và Francisco Verela, nhiều cuộc gặp gỡ giữa Đạt Lai Lạt Ma và các nhà khoa học lỗi lạc (gồm các nhà thần kinh học, sinh vật học, tâm lý học, vật lý học và triết học) đã được tổ chức thường xuyên. Từ các cuộc gặp gỡ được đặt tên là Mind and Life (tinh thần và cuộc sống) này, nhiều cuốn sách đã ra đời, trong đó nhiều cuốn sách đã được dịch sang tiếng pháp như Passerelles, khi tinh thần giao tiếp với thể xác và ngủ mơ, chết, cũng như các cuốn sách phát triển đầy đủ hơn như khoa học Phật giáo của Alan Wallace. Những trao đổi này đã không được xây dựng như một phương tiện dung hoà với mục đích làm hài lòng cả hai quan điểm dựa trên những xuất phát điểm khác nhau, cũng không phải như một diễn đàn để các bên khẳng định sự cố chấp siêu hình của mình. Những cuộc trao đổi này tạo thành một yếu tố liên tục của tri thức, của sự hiểu biết về bản chất của các hiện tượng và của ý thức.

Sự khác biệt lớn nhất giữa khoa học và phật giáo nằm ở tính mục đích của chúng.Đối với phật giáo, nhận thức trước hết là một liệu pháp tinh thần. Đó là sự tự giải phóng khỏi đau khổ mà nguyên nhân của nó là một dạng đặc biệt của sự vô minh: một quan niệm sai lệch về hiện thực bên ngoài và về cái “tôi” mà ta thường hình dung là trung tâm của sự tồn tại của chúng ta.

Phật giáo sẵn sàng xem xét lai các quan điểm của mình nếu người ta chứng minh được rằng nó là sai lầm. Không phải là vì Phật giáo nghji ngờ tính chân lý sâu xa của các phát hiện của mình hay là vì Phật giáo chờ đợi sự mất hiệu lực đột nhiên của các kết quả đã đặt được từ 2500 năm nay của khoa học chiêm nghiệm, mà là vì lơi răn của Đức Phật không cầu thành một giáo điều. Mà thực ra, nó được thể hiện như một tấm bản đồ chỉ đường cho phép người ta đi theo dấu vết của người hướng dẫn. Lời răn này hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm chứ không phải dựa trên một thần khải. Đạt Lai Lạt Ma từng nói: “Nhận xét các khám phá của khoa học không phải xem xét lai vấn đề mà là phải làm cho nó mang tính thời sự”. Trong cuộc đi tìm kiến thức, Phật giáo không trốn mâu thuẫn, mà ngược lại, tự làm cho mình thêm phong phú bằng mâu thuẫn. Nhiều cuộc tranh luận siêu hình mà Phật giáo từng tham gia trong suốt nhiều thế kỷ với các nhà triết học Hindou, và các cuộc đối thoại mà Phật giáo liên tục duy trì với khoa học và các tôn giáo khác đã giúp Phật giáo tự cải thiện mình cho tinh tế hơn, xác định rõ và mở rộng các tầm nhìn triết học của mình, logic của mình và sự hiểu biết thế giới của mình.

Thái độ mở rộng của Phật giáo không phái xuất phát từ một chủ nghĩa cơ hội rẻ tiền toàn bộ triết lý Phật giáo là rât đồ sộ, các kinh sách về đời sống chiêm nghiệm là rất sâu sắc và giàu tính gợi mở cao bàn về cuộc sống suy niệm, và sự thực hành tâm linh đòi hỏi một lòng kiên trì vô hạn. Đại ẩn sỹ Tây Tạng Milarépa từng nói: “Đừng hy vọng đạt được chính quả nhanh chóng, mà hãy suy tư cho đến hơi thở cuối cùng”.

Sự biến đổi bên trong dẫn đến giác ngộ là một cấp độ hoàn toàn khác với công việc nghiên cứu triết học hay tìm kiếm của các khoa học mô tả. Phật giáo chủ yếu là một khoa học của giác ngộ và, với quan niệm này thì, dù Trái đất tròn hay dẹt thì cũng chẳng có gì thay đổi cả.

Cuốn sách này đề cập đến hai cuộc đời, một của Trịnh Xuân Thuận – nhà vật lý thiên văn sinh ra đã là Phật tử, người mong muốn đem những hiểu biết khoa học của bản thân đối chiếu với những nguồn gốc triết học của mình và một của tôi – nhà khoa học phương Tây cũng đã từng đi theo con đường khoa học và nhiều năm nghiên cứu tại Viện Pasteur, Khoa di truyền học tế bào của giáo sư Francoios Jacob, người đã được giải Nobel về y học. Đây là nơi của những hoạt động trí tuệ sôi sục đầy hứng phấn. Năm 1967, tôi đến ấn độ để gặp các nhà tư tưởng lớn của Tây Tạng. Tôi đã trở thành đệ tử của một trong số họ, đó là Kanguiour Rinpotché. Nhiều năm tiếp theo, hè nào tôi cũng đắm mình trong không khí sáng tạo trong thảo am của nhà hiền triết này tại Darjeeling, đồng thời vẫn tiếp tục nghiên cứu khoa học. Nhưng từ năm 1972 sau khi hoàn thành luận án tiến sỹ, tôi đã sống ở Ấn Độ, sau đó ở Bhoutan và Népal, nơi tôi sống 12 năm với người thầy thứ hai là Khyentsé Rinpotché. Tôi đã nhiều lần được tháp tùng ông đến Tây tạng. Hiện tôi sống ở thảo am Shéchén, gần Katmandoa.

Tôi đã gặp Trịnh Xuân Thuận lần đầu tiên tại trường mùa hè ở Andorre năm 1997, và chúng tôi đã có những cuộc trao đổi rất sôi nổi trong những chuyến đi dài giữa bối cảnh hùng vĩ của các ngọn núi Pyrénée. Cuốn sách này ra đời từ những cuộc trao đổi cởi mở và thân thiện đó, những cuộc trò truyện mà trong đó có lúc chúng tôi thống nhất được với nhau, nhưng cũng không ít lần mâu thuẫn nhau.

Nội dung cuộc đối thoại không nhằm mục đích hằn in vào khoa học những dấu ấn của huyền học, cũng không phải để tạo chỗ dựa cho Phật giáo bằng những phát minh khoa học. Chúng cũng không có ý định làm sáng tỏ những nét tương đồng it nhiều giả tạo giữa cách tiếp cận chiêm nghiệm của phật giáo và các lý thuyết khoa học nhất thiết sẽ phải thay đổi, mà là xác định vị trí của khoa học trong một quan niệm rộng lớn hơn về sự sống. Ngoài ra, chúng cũng nhằm để chứng tỏ rằng phật giáo có khả năng giải quyết sự đối lập giữa chủ nghĩa hiện thực (quan điểm thông thường theo đó các hiện tượng tồn tại cũng bền vững và thực như chúng thể hiện ra bên ngoài) và các phát hiện của khoa học hiện đại đi ngược lại sự gắn bó chặt chẽ này với hiện thực nội tại của các sự vật. Chính bằng cách này mà nó có thể cung cấp một khuôn khổ tư duy và hành động phù hợp với thời đại của chúng ta.

Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại

Cuốn sách này là một tập hợp những câu hỏi và trả lời. Những câu hỏi này được đặt ra cho tác giả, một chuyên gia về lịch sử tư tưởng phương Tây, từ những độc giả thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội Mỹ muốn tìm hiểu về đủ loại vấn đề. Nhìn chung, đông đảo độc giả đều muốn biết các nhà tư tưởng trong quá khứ suy nghĩ và lý giải thế nào về những vấn đề mà con người hôm nay đang phải đối mặt. Họ không mưu tìm một câu trả lời dứt khoát, một giải pháp rốt ráo, mà thường họ muốn hiểu rõ vấn đề và muốn rút được bài học từ các nhà tư tưởng lớn trong truyền thống triết học phương Tây.

Những câu hỏi này được tác giả trả lời trong một chuyên mục của ông, ban đầu chỉ được đăng tải trên tờ Chicago Sun-Times và Chicago Daily News. Trong vòng một năm sau khi ra đời, đã có tới 28 tờ báo mua bản quyền để đăng tải chuyên mục này (trong đó có tờ Kenkyu Sha ở Tokyo). Sự thành công của chuyên mục đã đưa tới việc tập hợp những câu hỏi và trả lời thành một cuốn sách.

Đó là hoàn cảnh hình thành tác phẩm này trong lòng xã hội Mỹ.

Dĩ nhiên đối với người Việt, văn minh phương Tây nói chung, và triết học của nó nói riêng, không phải là đề tài học tập bắt buộc, và cũng không phải là nguồn cội tư tưởng giúp chúng ta định hướng cuộc sống và giải quyết những vấn đề của mình. Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận sự kiện rằng truyền thống triết học phương Tây đã có ảnh hưởng quyết định đối với nền văn minh phương Tây vốn đã đạt nhiều giá trị mà hiện đã trở thành phổ quát đối với phần còn lại của thế giới, nên triết học phương Tây thực sự xứng đáng được chúng ta quan tâm đúng mức.

Như đã nói trên, khi trả lời các câu hỏi, tác giả không đưa ra, hay áp đặt, một câu trả lời dứt khoát hay một giải pháp tối hậu. Ông chỉ trình bày các nhà tư tưởng lớn đã nói gì trong các tác phẩm của họ về các vấn đề được độc giả nêu ra. Các nhà tư tưởng này thường có những ý kiến khác nhau, thậm chí xung khắc nhau, tuy họ đều dựa trên cơ sở lý luận nào đó, và ý kiến của họ luôn là thành quả của nhiều năm tháng suy nghĩ và chiêm nghiệm. Cách trình bày này giúp độc giả có cơ hội nhìn và mổ xẻ vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau, tự rút ra bài học cho mình và đưa ra quyết định cuối cùng. Đây cũng chính là cốt tủy của cái mà tác giả trình bày như một “nền giáo dục khai phóng”, một nền giáo dục – hình thành từ thời cổ đại ở Hy Lạp và La Mã – nhằm vào việc đào tạo những con người tự do, hiểu theo nghĩa là một con người biết tư duy rốt ráo về từng vấn đề, biết tự đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm cho quyết định của mình. Mẫu người tự do này khác hẳn mẫu người nô lệ, chỉ trông cậy vào tư duy và quyết định của người khác, và dĩ nhiên, họ không hề muốn chịu trách nhiệm về những quyết định đó tuy rằng họ đã hành động theo những quyết định đó.

Một quan điểm đáng lưu ý nữa của tác giả là ở chỗ ông luôn trích dẫn ý kiến của những tác gia kinh điển của từng lãnh vực, ngay cả khi lý thuyết của những tác gia này đã bị vượt qua, hay thậm chí bị phi bác, bởi những nhà tư tưởng và thành quả khoa học của thời hiện đại. Ông biện minh rằng chúng ta không học tập hay tiếp nhận những tri thức của các nhà tư tưởng đó, vì có thể nó đã bị vượt qua hoặc không còn đúng nữa dưới ánh sáng của khoa học ngày nay, mà chúng ta học tập phương pháp tư duy của họ, hiểu ra con đường và cách đi của họ để tiếp cận với chân lý, tuy họ sống trong những thời kỳ mà khoa học và kinh tế còn phôi thai, chưa phát triển. Đó mới thực sự là điều mà triết học mang lại cho con người và cũng là điều bổ ích của tác phẩm này.

Như các bạn sẽ thấy, các câu hỏi trong sách này trải rộng trên nhiều lãnh vực, từ đạo đức, chính trị, xã hội đến kinh tế và nhiều vấn đề thiết thực trong đời sống (như mỹ học, nghệ thuật, giáo dục, quan hệ nhân sinh…). Như thế không có nghĩa rằng các nhà tư tưởng phương Tây chỉ bàn về những chuyện ấy, mà chẳng qua là vì câu hỏi từ các độc giả thường chỉ xoay quanh những vấn đề gần gũi ấy và ít có người quan tâm đến những lý thuyết phức tạp hơn vốn để lý giải bản chất của hữu thể và cấu trúc của thực tại. Chúng tôi muốn nói rõ điều này để các bạn hiểu sách này không bao quát toàn bộ triết học phương Tây, mà chỉ xoay quanh những vấn đề được nhiều con người bình thường quan tâm. Cũng chính vì thế mà chúng tôi tin tác phẩm này bổ ích cho tuyệt đại đa số chúng ta – những người không chuyên nghiên cứu triết học.

Điều cuối cùng mà chúng tôi muốn thưa cùng bạn đọc là, do tác phẩm này bao trùm nhiều lãnh vực học thuật khác nhau, đòi hỏi người dịch phải có một kiến thức cơ bản nào đó ở mọi lãnh vực, mà điều đó chúng tôi tự xét là mình chưa đạt được, nên việc dịch và chú giải sách này – tuy chúng tôi đã làm hết sức trong khả năng có hạn của mình – chắc chắn vẫn còn nhiều sai sót. Chúng tôi thực sự rất mong nhận được ý kiến chỉ giáo của bạn đọc.

Những ý tưởng vĩ đại là gì?

Thưa tiến sĩ Adler,

Những “ý tưởng vĩ đại” mà ông luôn nói đến này là gì vậy? Tôi có đọc ở đâu đó rằng ông đã sưu tầm hàng trăm ý tưởng vĩ đại trong lịch sử tư tưởng loài người. Một vài ý tưởng trong số đó là gì? Ý tưởng nào đã có ảnh hưởng nhất đối với tư duy của chúng ta?

M.W.

M.W. thân mến,

Những “ý tưởng vĩ đại” là những ý tưởng cơ bản được các tác giả lớn của truyền thống phương Tây nghiên cứu. Trong thời kỳ sau Thế chiến 2, tôi đã hướng dẫn việc tuyển chọn và phân tích về những khái niệm cơ bản này và tập hợp chúng thành hai tập dày có tựa chung là The Great Ideas (“Những ý tưởng vĩ đại”). Hai tập này nằm trong một bộ gồm các tác phẩm nổi tiếng từ Homer(1) đến Freud(2)

Các đồng sự và tôi đã tìm ra 102 ý tưởng cơ bản trong những tác phẩm này, bắt đầu theo thứ tự chữ cái với Angel (thiên thần) và kết thúc với World (thế giới). Đây là những khái niệm trọng tâm của tư tưởng và hành động trong khoảng 25 thế kỷ qua của nền văn minh phương Tây này.

Bạn muốn biết những ý tưởng vĩ đại nào đã có ảnh hưởng lớn nhất. Một cách để trả lời câu hỏi này là cho anh biết các tác giả lớn đã thảo luận nhiều nhất về vấn đề gì hàng trăm ý tưởng vĩ đại ấy. Chúng ta có thể giả định rằng số lượng thời gian dành cho việc thảo luận một ý tưởng sẽ giúp ta ước lượng là có bao nhiêu suy tư đã được dành cho ý tưởng đó. Năm ý tưởng được thảo luận nhiều nhất là Chúa trời, tri thức, con người, quốc gia và tình yêu, theo thứ tự đó.

Một cách khác để trả lời câu hỏi của bạn là đi tìm những ý tưởng “cốt lõi”, mà quanh nó những ý tưởng khác tập hợp lại, như vây quanh một nhân nguyên tử hoặc một mặt trời. Những ý tưởng “cốt lõi” này là đại biểu cho những cụm hoặc những nhóm ý tưởng khác. Chúng chỉ ra những chủ đề quan trọng nhất mà con người quan tâm.

Chúng ta thử xem ý tưởng chính quyền. Vây quanh nó là các ý tưởng về đủ loại hình chính quyền khác nhau: Chế độ quý tộc, chế độ dân chủ, chế độ quân chủ, chế độ quả đầu, và chế độ chuyên chế. Liên quan tới nó là những ý tưởng về Hiến pháp, Công dân, luật pháp, cách mạng và Nhà nước. Những ý tưởng này vạch ra phạm vi hoạt động và tư duy chính trị.

Hoặc thử xem ý tưởng phẩm chất. Nó là cái lõi của toàn bộ nhóm ý tưởng về những phẩm chất đặc biệt: Lòng can đảm, công bằng, khôn ngoan, tiết độ và thông thái. Thêm vào đó, nó có quan hệ mật thiết với nhiều ý tưởng khác như tốt và xấu, hạnh phúc, trách nhiệm, sự trừng phạt, tội lỗi. Tất cả những ý tưởng này cùng tạo thành một nhóm ý tưởng đạo đức.

Tương tự chúng ta có thể tạo thành một nhóm các ý tưởng tâm lý học, lấy tâm là con người. Nó bao gồm ước muốn, cảm xúc, kinh nghiệm, thói quen, ký ức và sự tưởng tượng, trí tuệ, niềm vui và nổi đau, lý luận, cảm giác, linh hồn và ý chí.

Một số những ý tưởng vĩ đại, như sự tiến hóa, ngôn ngữ và sự tiến bộ nổi bật trong một trăm năm qua. Ngày nay chúng nằm trong số những ý tưởng có ảnh hưởng nhất và được thảo luận nhiều nhất, nhưng chúng không phải luôn luôn như thế. Ngược lại, có những ý tưởng thu hút nhiều tác giả xưa hơn những nhà văn hiện nay; ví dụ như thiên thần, số phận, sự tiên tri và linh hồn.

Những liệt kê kiểu như trên hầu như là vô tận. Chắc chắn tôi đã bỏ qua vài ý tưởng mà bạn cho là quan trọng, cho dù chúng không nằm trong năm ý tưởng lớn nhất hoặc có ảnh hưởng nhất. Tôi có thể tự mình nghĩ ra vài ý tưởng kiểu như thế, như cái đẹp, sự tồn tại, nguyên nhân, giáo dục, gia đình, tự do, lao động, vấn đề, không gian, thời gian, sự thật, chiến tranh và hòa bình, thế giới. Không cần biết cái nào là vĩ đại nhất, tất cả những ý tưởng này đều là cơ sở cho suy nghĩ và hành động của chúng ta. Chúng ẩn tàng trong mọi cuộc tiếp xúc thực sự với thế giới hoặc với những người khác. Nếu chúng ta muốn nghĩ về bất cứ cái gì hay nói về nó với người khác, chúng ta phải sử dụng những ý tưởng này. Không có chúng, chúng ta là những người mù và lạc lối.

(1) Homer (thế kỷ 9 hoặc 8 tr. CN?): tương truyền là tác giả của hai thiên sử thi Iliad và Odyssey.
(2) Sigmund Freud (1856 – 1939): bác sĩ người Áo, ông tổ của khoa phân tâm học. Ông khai triển nhiều lý thuyết quan trọng đối với ngành Phân tâm học, Tâm lý học về dục tính con người, và về sự minh giải giấc mơ. Các công trình chính của ông gồm có The Interpretation of Dreams (“Minh giải giấc mơ”; 1899) và Totem and Taboo (“Vật tổ và cấm kỵ”; 1913).

Chân dung những nhà cải cách giáo dục tiêu biểu trên thế giới

>> Mời tham khảo: Giáo dục cứu rỗi xã hội

Giáo dục luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia. Tất cả các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, đều phải nỗ lực tìm ra những chính sách phù hợp và hiệu quả nhằm xây dựng nền giáo dục của mình để đáp ứng yêu cầu của thời đại, cũng như bắt kịp với sự tiến bộ của các quốc gia khác trên thế giới.

Để đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong nhiều năm qua, Việt Nam đã và đang thực hiện quá trình cải cách giáo dục sâu rộng ở mọi cấp học. Việc tìm hiểu, tham quan và học hỏi những bài học kinh nghiệm cả về lý thuyết và thực tiễn của các nền giáo dục tiên tiến khác là cần thiết. Sự nghiệp và tư tưởng của các nhà giáo dục xuất sắc và tiêu biểu trên thế giới chính là một trong những nguồn tư liệu quý giá cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục và chính những cá nhân đang theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu giáo dục của chúng ta.

Tuy nhiên, sách viết về những đề tài này còn rất ít, đặc biệt là khi những cuốn sách này lại là những tài liệu tham khảo rất có giá trị đối với giáo viên và sinh viên các ngành sư phạm. Hơn thế nữa, ngôn ngữ lại là rào cản đáng kể và hạn chế trong việc tìm hiểu các nguồn thông tin vốn hầu hết bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Vì thế, cuốn sách “Chân dung các nhà cải cách giáo dục tiêu biểu trên thế giới” là một nguồn tài liệu đáng quý. Những chân dung các nhà giáo dục được giới thiệu trong tập sách này bao gồm những nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà cải cách và nhà sư phạm, tất cả đều là những con người cống hiến cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo những lớp công dân của đất nước mình và trên thế giới.

Cuốn sách được biên dịch là tài liệu tham khảo có giá trị nhằm phục vụ các nhà hoạch định chính sách giáo dục, các nhà nghiên cứu cũng như các bậc phụ huynh muốn tìm hiểu thêm nguồn gốc những phương pháp và chính sách giáo dục đã được áp dụng trên thế giới. Trong quá trình gian nan để tìm ra các giải pháp giáo dục hiệu quả và phù hợp nhất với điều kiện phát triển của Việt Nam hiện nay, việc tham khảo các quá trình cải cách giáo dục, nhất là những mô hình cải cách đã thành công và thất bại là hết sức cần thiết đối với những nhà hoạch định chính sách giáo dục và nghiên cứu giáo dục của Việt Nam.

Những bài học kinh nghiệm thiết thực đã được cụ thể hóa trong từng hoàn cảnh của các nền giáo dục khác nhau có thể là những gợi ý hữu ích cho các giáo viên trực tiếp giảng dạy và sinh viên các ngành sư phạm. Còn đối với đông đảo bạn đọc quan tâm khác, những tấm gương sáng về học thuật và ý chí lao động của những nhà tư tưởng và hoạt động thực tiễn này là một nguồn tư liệu tham khảo bổ ích.

GS.TSKH Bành Tiến Long
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Về cuốn sách Lượng tử và Hoa sen

Nhà sư và Triết gia (Dẫn nhập của tác giả)

Từ đâu nảy sinh các ý tưởng làm nên quyển sách này. Từ đâu có các nhu cầu phải thực hiện nó. Và từ những động lực tinh thần nào- như các chính trị gia thường nói- đã thúc đẩy chúng tôi nghĩ đến việc này. Nếu tôi có viết một mình lời dẫn nhập này, chẳng qua là vì sự tiện lợi trong việc sử dụng ngữ pháp. Nếu không có những lời rào đón quanh co, thật khó mà ghi chú một đề tài hấp dẫn cả hai con người, một đề tài phát xuất từ những động cơ trái ngược. Những cuộc đàm thoại sau đây có mục đích nêu rõ sự khác biệt song hành đó. Nếu tôi là người viết tiền đề này, thì Matthieu là đồng tác giả, vì chúng tôi đã trao đổi với nhau từ trước và Matthieu đã đọc lại, sửa chữa, và bổ sung theo cách nhìn của Matthieu.

Bỏ qua những sự thừa thãi vô ích về những gì sẽ được trình bày rộng rãi qua các cuộc nói chuyện, tôi xin tóm tắt về cuộc gặp gỡ tâm linh của hai cá nhân, từ đó nảy sinh ra ý niệm về việc sáng tác quyển sách này.

Con tôi, Maurice Ricard sinh năm 1946, tốt nghiệp trung học tại trường trung học Janson De Sailly, đã theo học khoa sinh vật phân tử, và sau một quá trình học tập xuất sắc, đã đưa nó đến học vị tiến sĩ quốc gia sinh học vào năm 1972. Chủ tịch hội đồng chấm thi luận án là Francois Jacob, một nhà khoa học nổi danh, giải Nobel về sinh vật học. Dưới sự dẫn dắt của ông này, Matthieu đã lao vào những cuộc nghiên cứu khoa học nhiều năm tại viện Pasteur. Sau đó Matthieu đã cho chúng tôi biết (thầy nó và tôi) và hai chúng tôi đã quá ngỡ ngàng, ý định của nó muốn rời bỏ công tác khoa học để đi Châu Á theo học về Phật Giáo Mật Tông ở Tây Tạng và cuộc đời nó đảo lộn từ đây. Nó trở thành một tu sĩ Phật Giáo.

Phần tôi, tôi đã đeo đuổi sự nghiệp Ðại Học cốt yếu là về văn chương và triết học. Tôi đã dạy triết ở đại học nhiều năm, và đã rời đại học vào năm 1963 để chuyên vào lãnh vực viết văn và xuất bản. Tôi cũng không vì thế mà xao lãng triết học, và tôi cũng viết nhiều đầu sách về bộ môn này, và khác hẳn các triết gia khác tôi luôn luôn hết sức chú tâm vào sự phát triển khoa học. Do đó mà tôi rất hài lòng khi có một người con là khoa học gia tầm cỡ. Và tôi cũng rất thất vọng, khi thấy nó chấm dứt ngang cuộc khởi đầu đầy hứa hẹn. Quan điểm của cá nhân tôi là hoàn toàn phi tôn giáo và vô thần, do đó không cho phép tôi quan tâm nhiều đến Phật Giáo, mặc dù tôi không hề ghét bỏ nó, vì rõ ràng Phật Giáo chiếm một ngôi vị lành mạnh trong các học thuyết hiện đại, và đã được cảm tình của một số triết gia khó tính nhất.

Do vậy dù có bực bội nhất thời với con tôi, tôi không hề bất hòa và lạnh nhạt với nó. Tôi ghi lại giai thoại này bởi vì vào năm 1996, những buổi phát hình và những bài báo viết về Phật Giáo và về Matthieu, khi mà nó cho phát hành quyển sách của nó về vị thầy của mình là Lạt Ma Dilgo Khientsé, hay là khi nó tháp tùng Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trong chuyến du hành của ngài sang Pháp. Khi ấy, người ta đã nói rằng, chúng tôi không hề gặp nhau từ hai mươi năm nay, và ý định cho ra mắt quyển sách này có thể là sự nối lại liên lạc, hay nói đúng hơn là sự làm lành giữa hai cha con. Ðó chẳng qua là một sự tưởng tượng, chứ không phải là một thông tin chính xác. Chúng tôi vẫn tiếp tục gặp nhau, trong điều kiện mà chi phí đi lại cho phép. Từ năm 1973, tôi đã đến Darjeeling bên Ấn Ðộ nơi con tôi đang ở với vị thầy của nó, và sau đó đến Bhoutan, Nepal. Nếu có đám mây nào che mờ mối liên hệ của hai chúng tôi, thì đó là những đám mây của gió mùa Châu Á. Thời gian trôi qua và Matthieu có dịp đến Âu Châu thường xuyên hơn, để tham dự ở Tây Phương những công cuộc truyền bá càng ngày càng mở rộng của Phật Giáo. Vai trò thị giả và thông dịch viên của vị Ðạt Lai Lạt Ma, nhất là sau khi vị này đoạt giải Nobel về hòa bình, đã gia tăng các cuộc du hành của nó.

Công cuộc truyền bá Phật Giáo là một sự kiện bất ngờ đã làm nảy sinh ý tưởng một cuộc thảo luận về đề tài “Phật Giáo và Tây Phương”. Ðáng lẽ quyển sách này phải mang tựa đề nói trên, nhưng sau đó nhà xuất bản Nicole Lattès đã nghĩ ra một các tựa đề hay hơn nhiều. Ðó là “Nhà sư và triết gia”.

Thật ra phật Giáo là gì? Ðiều này đại thể là phải do Matthieu trả lời. Tại sao Phật Giáo ngày nay đã phát triển được nhiều tín đồ, và đã gợi nên một sự tò mò lớn ở Tây Phương? Nhưng lại chính là tôi phải đưa ra những giả thuyết để giải thích sự bành trướng của giáo lý này. Nguyên nhân có lẽ là vì sự phát triển gần đây của các triết thuyết và tôn giáo Tây phương đã đưa đến một sự thất vọng hay là có thể từ những thể chế chính trị của chúng ta. Rõ ràng là sự trao đổi quan điểm của hai cha con chúng tôi có một giá trị đặc biệt, không phải vì nó phát xuất từ một vị triết gia Tây Phương và một vị Lạt Ma đông phương, mà là vì Matthieu vốn dĩ là người Tây Phương lại theo học và thấm nhuần giáo lý đông phương, hơn nữa lại xuất thân là một nhà khoa học tầm cỡ, có đầy đủ khả năng để so sánh hai nền văn hóa ở mức độ cao nhất. Thật vậy, Matthieu đã chuyển di khả năng khoa học của mình vào công cuộc nghiên cứu ngôn ngữ và truyền thống Tây Tạng. Trong vòng hai mươi năm, nó đã xây dựng xuất bản, và dịch thuật các văn bản mật căn bản cổ đại cũng như đương đại của Phật Giáo Tây Tạng, ít ra là những văn bản còn tồn tại.

Sự lưu trú dài hạn của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, và nhiều vị Lạt Ma và đạo sư Tây Tạng khác ở ngoại quốc, đã là một cơ hội tốt cho sự phát triển Ðạo Phật ở Phương Tây. Nó đã cho phép người dân Phương Tây dễ dàng thâm nhập vào giáo lý Phật Giáo một cách xác thực nhất. Một sự giáo huấn không dựa vào sách vở, chỉ gián tiếp và lý thuyết nhưng sống động đã bắt nguồn từ những vị đạo sư kiệt xuất này.

Dựa theo một quan niệm cũ kỹ lâu đời, phương Tây hình dung Phật Giáo như là một sự minh triết, nhưng thụ động và tiêu cực, và xem Niết Bàn như là một sự quay về sống với nội tâm, mà không màng đến thế sự bên ngoài, kể cả sinh hoạt trong các thành phố.

Thật ra hoàn toàn không phải thế. Theo quan niệm của một số triết thuyết Tây phương, Phật Giáo cũng có tầm cỡ về nhân bản, chính trị, xã hội.

Trên đây là sơ lược những trường hợp và động cơ đã được hai cha con chúng tôi đối chiếu lại quan điểm về Phật Giáo, những sự hiếu kỳ hỗ tương để làm sáng tỏ những điểm tương đồng, cũng như không che dấu những điểm bất đồng.

Và do đó tại sao ở thành phố Hatiban trên vương quốc Nepal, trong một ngôi nhà cô tịch nằm trên một ngọn núi nhìn xuống Katmandou (thủ đô Nepal) đã diễn ra những cuộc đàm thoại dẫn đến sự ra mắt của quyển sách này.

Bác sĩ Hồ Hữu Hưng biên dịch, NXB TP.Hồ Chí Minh phát hành 2002. Có thể đọc bản dịch tiếng Việt tại site : http://www.quangduc.com/

Tư Tưởng Loài Người Qua Các Thời Đại

“Tư Tưởng Loài Người Qua Các Thời Đại” là cuốn sách cuối của bộ sách nghiên cứu về tri thức loài người. Tổng tập sách này trình bày một cách toàn diện sự phát triển của những tư tưởng chủ yếu về: Tôn giáo, khoa học, đạo đức, xã hội… những tư tưởng làm ảnh hưởng đến đời sống văn minh của loài người; những tư tưởng cơ bản của tri thức làm thành những đặc trưng trên các lĩnh vực như: Khoa học, thiên nhiên, địa lý, lịch sử, kỹ thuật, con người xã hội, thông tin, ngôn ngữ, sức khỏe và sự phồn vinh.

Cuốn sách được tuyển chọn cẩn thận từ một khối tư liệu rất lớn thuộc nhiều nguồn và các thời kỳ khác nhau. Để giúp bạn đọc hệ thống được những tư tưởng của các thời kỳ riêng biệt, mỗi chương sách đều có phần chỉ dẫn tham khảo.

Nội dung của cuốn sách chia làm 3 phần theo thứ tự niên đại như sau:

Phần I: Con người và thế giới huyền bí.

Chương 1: Tôn giáo sơ khai.
Chương 2: Các tôn giáo lớn ở Châu Á.
Chương 3: Kytô giáo và Hồi giáo.
Chương 4: Cuộc phân hóa của Kytô giáo.

Phần II: Con người và thế giới tư tưởng.

Chương 5: Các nhà khoa học, triết học Hy Lạp.
Chương 6: Triết học Kytô giáo và triết học Ả Rập.
Chương 7: Khoa học mới và siêu hình học.
Chương 8: Thời kỳ ý thức hệ.
Chương 9: Thế kỷ 20.

Phần III: Con người và tình nhân loại.

Chương 10: Nền đạo đức sơ khai và tư tưởng xã hội.
Chương 11: Thời cổ điển.
Chương 12: Thời kỳ Kytô giáo.
Chương 13: Thời kỳ ánh sáng.
Chương 14: Thời kỳ tiến bộ.
Chương 15: Thời lo âu.