Triết học về vật chất

MỤC LỤC

TỰA

NGUỒN GỐC TRIẾT HỌC CẬN ĐẠI

  1. Thế kỷ thứ XIX
  2. Khủng hoảng
  3. Mở đầu thế kỷ XX
  4. Những trào lưu chính của triết học hiện đại

TRIẾT HỌC VỀ VẬT CHẤT

  1. Bertrand Russell
  2. Tân thực chứng luận
  3. Duy vật biện chứng

TRIẾT HỌC VỀ Ý THỂ

  1. Benedetto Croce
  2. Léon Brunschig
  3. Tân chủ Kant

TRIẾT HỌC VỀ NHÂN SINH

  1. Henri Bergson
  2. Thực dụng chủ nghĩa và phái Bergson
  3. Phái sử quan và triết học nhân sinh Đức

TRIẾT HỌC VỀ YẾU TÍNH THỂ

  1. Edmund Husserl
  2. Max Scheler

TRIẾT HỌC VỀ HIỆN HỮU

  1. Đặc điểm tổng quát của chủ nghĩa hiện sinh
  2. Martin Heidegger
  3. Jean-Paul Sartre
  4. Gabriel Marcel
  5. Karl Jaspers

TRIẾT HỌC VỀ THỂ TÍNH

  1. Siêu hình học
  2. Nicolai Hartmann
  3. Alfred North Whitehead
  4. Chủ thuyết Thomas

PHỤ LỤC

  1. Luận lý toán học

Triết học về ý thể

MỤC LỤC

TỰA

NGUỒN GỐC TRIẾT HỌC CẬN ĐẠI

  1. Thế kỷ thứ XIX
  2. Khủng hoảng
  3. Mở đầu thế kỷ XX
  4. Những trào lưu chính của triết học hiện đại

TRIẾT HỌC VỀ VẬT CHẤT

  1. Bertrand Russell
  2. Tân thực chứng luận
  3. Duy vật biện chứng

TRIẾT HỌC VỀ Ý THỂ

  1. Benedetto Croce
  2. Léon Brunschig
  3. Tân chủ Kant

TRIẾT HỌC VỀ NHÂN SINH

  1. Henri Bergson
  2. Thực dụng chủ nghĩa và phái Bergson
  3. Phái sử quan và triết học nhân sinh Đức

TRIẾT HỌC VỀ YẾU TÍNH THỂ

  1. Edmund Husserl
  2. Max Scheler

TRIẾT HỌC VỀ HIỆN HỮU

  1. Đặc điểm tổng quát của chủ nghĩa hiện sinh
  2. Martin Heidegger
  3. Jean-Paul Sartre
  4. Gabriel Marcel
  5. Karl Jaspers

TRIẾT HỌC VỀ THỂ TÍNH

  1. Siêu hình học
  2. Nicolai Hartmann
  3. Alfred North Whitehead
  4. Chủ thuyết Thomas

PHỤ LỤC

  1. Luận lý toán học

Cảm năng học siêu nghiệm – Dẫn nhập

CẢM NĂNG HỌC SIÊU NGHIỆM

DẪN NHẬP

 

IMMANUEL KANT (1724-1804)

 


Immanuel Kant. “Cảm năng học siêu nghiệm”, trong  Phê phán lý tính thuần túy (Kritik der Reinen Vernunft). Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Nxb. Văn học, 2004. | Phiên bản điện tử đăng trên triethoc.edu.vn đã có sự cho phép của dịch giả.


 

Mục lục

1. Dẫn nhập

2. Về không gian

3. Về thời gian

4. Giải thích

5. Nhận xét chung và kết luận

 

Dù bằng cách nào và với phương tiện gì để một nhận thức có thể quan hệ được với các đối tượng, thì quan hệ trực tiếp (unmittelbar) bao giờ cũng là bằng TRỰC QUAN (ANSCHAUUNG). | Mọi tư duy đều nhắm vào trực quan như là phương tiện. Trực quan chỉ có thể xảy ra trong chừng mực đối tượng được mang lại cho ta; nhưng điều này lại chỉ có thể có được, – ít nhất là cho con người chúng ta1*, – bằng cách đối tượng kích động (affizieren) tâm trí2* ta một cách nào đó. Năng lực tiếp thu các biểu tượng (tính thụ nhận – Rezeptivitt –) do phương cách làm thế nào để chúng ta được các đối tượng kích động, gọi là CẢM NĂNG (SINN-LICHKEIT). Vì thế, nhờ cảm năng, những đối tượng được mang lại cho ta, và chỉ có cảm năng mới cung cấp cho ta những trực quan; trong khi đó, nhờ GIÁC TÍNH (VERSTAND), những đối tượng được suy tưởng (gedacht) và từ giác tính, những khái niệm ra đời. Nhưng mọi suy tưởng (Denken), – dù đi thẳng (trực tiếp) hay bằng đường vòng (gián tiếp) và nhờ dựa vào một số đặc điểm, – trước hết đều phải quan hệ với những trực quan, do đó, nơi con người chúng ta, là quan hệ với cảm năng, vì không một đối tượng nào có thể được mang lại cho ta bằng một cách khác cả.

Sự tác động của một đối tượng lên năng lực biểu tượng, trong chừng mực ta được nó kích động, là CẢM GIÁC (EMPFINDUNG). Trực quan nào quan hệ với đối tượng thông qua Cảm giác, là thường nghiệm. Đối tượng chưa xác định [chưa được giác tính suy tưởng] của một trực quan thường nghiệm gọi là HIỆN TƯỢNG (ERSCHEINUNG).

Tôi gọi những gì bên trong hiện tượng tương ứng với cảm giác là CHẤT LIỆU (MATERIE) của hiện tượng; còn cái gì làm cho [nội dung] đa tạp (das Mannigfaltige) của hiện tượng có thể được sắp xếp theo các quan hệ nào đó là MÔ THỨC (FORM) của hiện tượng. Bởi lẽ, bản thân mô thức này, tức cái chỉ trong đó các cảm giác được sắp xếp và đưa vào một hình thức nào đó, không thể lại là cảm giác được, cho nên, tuy chất liệu của mọi hiện tượng chỉ được mang lại một cách hậu nghiệm, nhưng MÔ THỨC của chúng đã phải có sẵn toàn bộ trong tâm trí ta một cách tiên nghiệm dành cho các đối tượng và vì thế, có thể được xem xét một cách riêng biệt, tách rời với mọi cảm giác.

Tôi gọi mọi biểu tượng là thuần túy (theo nghĩa siêu nghiệm) khi trong chúng không có gì là thuộc về cảm giác cả. Do đó, mô thức thuần túy của những trực quan cảm tính nói chung phải có mặt một cách tiên nghiệm trong tâm trí, trong đó mọi cái đa tạp của những hiện tượng được trực quan trong một số quan hệ nào đó. Mô thức thuần túy của cảm năng cũng chính là trực quan thuần túy. Cho nên, trong biểu tượng về một vật thể, nếu tôi tước bỏ hết những gì do giác tính suy tưởng về nó như bản thể, lực, tính có thể phân chia được v.v. và tất cả những gì thuộc về cảm giác như tính không thể thâm nhập, độ cứng, màu sắc…, thì từ trực quan thườngnghiệm này vẫn còn lại một cái gì đó cho tôi, đó là quảng tính và hình thể. Hai cái này thuộc về trực quan thuần túy, có mặt một cách tiên nghiệm trong tâm trí như là mô thức đơn thuần của cảm năng, cho dù không có một đối tượng hiện thực nào của giác quan hay cảm giác.

Tôi gọi môn khoa học bàn về tất cả các nguyên tắc của cảm năng một cách tiên nghiệm là CẢM NĂNG HỌC SIÊU NGHIỆM (TRANSZENDENTALE STHETIK)[1]. Phải có môn khoa học này để tạo nên phần thứ nhất của Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức, khác với phần thứ hai là bàn về các nguyên tắc của TƯ DUY THUẦN TÚY được gọi là môn LÔ GÍC HỌC SIÊU NGHIỆM (TRANSZENDENTALE LOGIK).

Trong Cảm năng học siêu nghiệm, trước hết ta tách riêng cảm năng ra khỏi những gì được giác tính suy tưởng bằng các khái niệm để chỉ còn lại trực quan thường nghiệm thôi. Bước thứ hai là tách ra khỏi trực quan thường nghiệm những gì thuộc về cảm giác để chỉ còn lại trực quan thuần túy và mô thức đơn thuần của những hiện tượng là cái duy nhất mà cảm năng có thể cung cấp một cách tiên nghiệm. Nghiên cứu này sẽ cho thấy có hai mô thức thuần túy của trực quan cảm tính như là các nguyên tắc của nhận thức tiên nghiệm: ĐÓ LÀ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN. | Sau đây, ta sẽ lần lượt đi vào xem xét hai mô thức này.

 

 


1* Trong Siêu hình học cổ truyền trước Kant, đặc biệt trong hệ thống Leibniz-Wolff, người ta cho rằng các chân lý của lý tính là phổ quát và tất yếu có giá trị cho bất kỳ sinh vật có lý tính (Vernunftswesen) nào cũng như trong mọi thế giới khả hữu (alle mưgliche Welten). Vì thế, ở đây Kant nhấn mạnh trực quan là điều kiện thiết yếu “ít nhất là cho con người chúng ta”, còn các “sinh vật có lý tính” nào khác không cần trực quan mà vẫn nhận thức được đối tượng thì ta không biết và không thể biết. Xem thêm B139… (N.D).

2* “tâm trí” (das Gemt): Trong sách này, Kant dùng “das Gemt” để chỉ chung mọi quan năng nhận thức (tương tự như chữ “ý thức nói chung” – das Bewusstsein berhaupt –) và không có ý nghĩa tâm lý học – thường nghiệm như một quan năng riêng lẻ. Tùy theo văn cảnh, chúng tôi dịch là: “tâm trí, tâm thức, đầu óc” (B34, 37, 42, 67, 74, 261, 799). (N.D).

[1] Hiện nay [thời Kant], duy nhất chỉ có người Đức là dùng thuật ngữ “sthetik” [theo nghĩa “Mỹ học”] để chỉ môn học mà các nơi khác gọi là “Phê phán cảm xúc thẩm mỹ”. Lý do bắt nguồn từ hy vọng đã thất bại của nhà phân tích sắc sảo Baumgarten [Alexander Gottlieb BAUMGARTEN 1714-1762, triết gia Đức, người đầu tiên tạo ra từ sthetik – Mỹ học – và muốn xây dựng Mỹ học thành một khoa học độc lập theo tinh thần của triết học Leibniz-Wolff] khi ông muốn đưa sự phán đoán phê phán về cái Đẹp vào dưới các nguyên tắc của lý tính và nâng các quy luật của việc phán đoán này lên thành khoa học. Nhưng, nỗ lực này là vô vọng. Bởi vì các quy luật hay tiêu chuẩn nói trên, xét về nguồn gốc chủ yếu nhất của chúng, chỉ đơn thuần là thường nghiệm, cho nên không bao giờ có thể dùng làm các quy luật tiên nghiệm được xác định mà phán đoán thẩm mỹ của ta phải hướng theo, trái lại, chính phán đoán thẩm mỹ của ta mới là hòn đá thử thực sự cho tính đúng đắn của các nguyên tắc. Do vậy, điều nên làm là không nên dùng cách gọi này nữa [tức không dùng từ “sthetik” để chỉ môn phê phán thẩm mỹ] và chỉ dành để chỉ môn học có tính cách là môn khoa học thực sự [đó là khoa học về các quy luật thuần túy của cảm năng như Kant đang dùng] (để đưa nó đến gần với ngôn ngữ và ý nghĩa của người xưa trong sự phân chia nhận thức ra làm AIOTHETA KAI NOETA (Hy Lạp: cảm năng và tư duy) đã vốn rất nổi tiếng), hoặc cùng chia xẻ cách gọi tên này với triết học tư biện và dùng chữ “sthetik” một phần theo nghĩa siêu nghiệm, một phần theo nghĩa tâm lý học. (Chú thích của tác giả).

[Ta thấy đề nghị này của Kant đã không được thực hiện trong thực tế. Ngày nay, từ “sthetik” vẫn được dùng phổ biến theo nghĩa “Mỹ học” – dù không còn theo nội dung ban đầu của Baumgarten,– và cũng chỉ riêng Kant là dùng theo nghĩa “Cảm năng học” hay “Trực quan học” như trong quyển Phê phán này. Mặt khác, đối với bản thân vấn đề Mỹ học, cho đến 1787, khi tái bản lần thứ hai “Phê phán lý tính thuần túy” này, ta thấy Kant vẫn chưa thừa nhận có thể xây dựng môn Mỹ học trên cơ sở tiên nghiệm. Nhưng ngay đến cuối năm ấy (12.1787), Kant đã thay đổi quan điểm và bắt đầu soạn thảo Mỹ học như một “khoa học” độc lập và tiên nghiệm. [Xem I. Kant: Phê phán năng lực phán đoán (“Kritik der Urteilskraft”) Phần I]. (N.D).

Mục lục

1. Dẫn nhập

2. Về không gian

3. Về thời gian

4. Giải thích

5. Nhận xét chung và kết luận

 

Triết học về yếu tính thể

MỤC LỤC

TỰA

NGUỒN GỐC TRIẾT HỌC CẬN ĐẠI

  1. Thế kỷ thứ XIX
  2. Khủng hoảng
  3. Mở đầu thế kỷ XX
  4. Những trào lưu chính của triết học hiện đại

TRIẾT HỌC VỀ VẬT CHẤT

  1. Bertrand Russell
  2. Tân thực chứng luận
  3. Duy vật biện chứng

TRIẾT HỌC VỀ Ý THỂ

  1. Benedetto Croce
  2. Léon Brunschig
  3. Tân chủ Kant

TRIẾT HỌC VỀ NHÂN SINH

  1. Henri Bergson
  2. Thực dụng chủ nghĩa và phái Bergson
  3. Phái sử quan và triết học nhân sinh Đức

TRIẾT HỌC VỀ YẾU TÍNH THỂ

  1. Edmund Husserl
  2. Max Scheler

TRIẾT HỌC VỀ HIỆN HỮU

  1. Đặc điểm tổng quát của chủ nghĩa hiện sinh
  2. Martin Heidegger
  3. Jean-Paul Sartre
  4. Gabriel Marcel
  5. Karl Jaspers

TRIẾT HỌC VỀ THỂ TÍNH

  1. Siêu hình học
  2. Nicolai Hartmann
  3. Alfred North Whitehead
  4. Chủ thuyết Thomas

PHỤ LỤC

  1. Luận lý toán học

Hệ thống các Ý niệm vũ trụ học

 

1

Sự trọn vẹn [hoàn chỉnh, Vollständigkeit] tuyệt đối của

sự TỔ HỢP (Zusammensetzung)

cái toàn bộ được mang lại của mọi hiện tượng

 

2

Sự trọn vẹn tuyệt đối của SỰ PHÂN CHIA một cái toàn bộ được mang lại trong hiện tượng

 

3

Sự trọn vẹn tuyệt đối của [NGUỒN GỐC] RA ĐỜI của một hiện tượng nói chung

 

4

Sự trọn vẹn tuyệt đối của SỰ PHỤ THUỘC VỀ SỰ TỒN TẠI của cái có thể biến đổi trong hiện tượng

 

Bốn nguyên nhân của Aristotle

BỐN NGUYÊN NHÂN CỦA ARISTOTLE

 

ANTHONY KENNY

 


Anthony Kenny. 2004. A New History of Western Philosophy. Vol. 1 – Ancient Philosophy. Oxford: Clarendon Press, pp. 1-4. | Đinh Hồng Phúc dịch.


 

Aristotle đưa ra một cách phân loại các triết gia Hy Lạp xa xưa nhất phù hợp với cấu trúc hệ thống bốn nguyên nhân của ông. Việc nghiên cứu khoa học, theo ông, trước hết là nghiên cứu các nguyên nhân của sự vật; và có bốn loại nguyên nhân khác nhau: nguyên nhân chất liệu, nguyên nhân tác động, nguyên nhân hình thức, và nguyên nhân mục đích. Ta thử hình dung ý niệm này qua ví dụ có phần thô thiển như sau: khi Alfredo nấu món risotto[1], các nguyên nhân chất liệu của risotto là những thành phần nguyên liệu mà ta cho vào để nấu, nguyên nhân tác động chính là anh đầu bếp, công thức chế biến là nguyên nhân hình thức, và sự hài lòng của các thực khách của nhà hàng của ông ta là nguyên nhân mục đích. Aristotle tin rằng muốn hiểu cho có khoa học về thế giới thì ta cần phải nghiên cứu sự vận hành trong thế giới các nguyên nhân thuộc từng loại này (Siêu hình học, A 3. 983a24-b17).

 

Các triết gia thời kỳ đầu ở vùng duyên hải Hy Lạp xứ Tiểu Á tập trung bàn về nguyên nhân chất liệu: họ đi tìm những yếu tố cấu thành cơ bản của thế giới mà ta đang sống. Thales và những người kế tục ông đã nêu ra vấn đề như sau: Về cơ bản thì thế giới được tạo thành từ nước, khí, lửa, hay đất, hay thế là sự kết hợp của một số các yếu tố hay tất cả các yếu tố ấy? (Siêu hình học. A 3. 983b20-84a16). Ngay cả khi ta có được câu trả lời cho câu hỏi này, theo Aristotle, điều đó chưa đủ làm cho trí tò mò khoa học của ta thỏa mãn. Các thành phần nguyên liệu, [tức các yếu tố cấu thành], của một món ăn không tự mình kết hợp với nhau: cần phải có một tác nhân vận hành chúng, ví dụ như cắt, trộn, khuấy, đun, hay đại loại như vậy. Một vài trong số các triết gia đầu tiên ấy, Aristotle nói, có ý thức về điều này và đã đưa ra những phỏng đoán về các tác nhân gây ra sự biến đổi và phát triển trong thế giới. Đôi khi, tác nhân là một trong chính các yếu tố cấu thành ấy – lửa có lẽ là sự gợi ý đầy hứa hẹn nhất, vì là yếu tố ít trơ ì nhất. Còn thông thường là tác nhân, hay cặp tác nhân, nào đó trừu tượng hơn và thi vị hơn, như Tình yêu hoặc Dục vọng hoặc Xung khắc, hay Thiện và Ác (Siêu hình học A 3-4. 984b8-31).

 

Trong khi ấy tại Ý – cũng theo Aristotle – tụ tập xung quanh Pythagoras, có những triết gia theo xu hướng toán học, những nghiên cứu của họ đi theo hướng hoàn toàn khác. Ngoài việc nêu tên các thành phần nguyên liệu, công thức chế biến sẽ chứa nhiều con số: bao nhiêu gram của cái này, bao nhiêu lít của cái kia. Phái Pythagorean quan tâm đến các con số trong công thức của thế giới hơn là bản thân các yếu tố cấu thành. Theo Aristotle, họ giả định rằng các yếu tố của những con số là các yếu tố của mọi vật, và toàn bộ các tầng trời là một gam nhạc. Họ có được sự hứng khởi trong công cuộc tìm kiếm của mình là nhờ việc họ phát hiện ra rằng mối quan hệ giữa các nốt trong gam nhạc được gãy trên cây đàn tương ứng với các tỉ lệ số khác nhau giữa các độ dài của dây đàn. Rồi họ khái quát hóa ý tưởng này rằng những sự khác nhau về chất có thể là kết quả của những sự khác nhau về con số. Nói như Aristotle là nghiên cứu của họ là một cuộc truy tìm các nguyên nhân hình thức của thế giới. (Siêu Hình Học A 5. 985b23-986b2)

 

Đối với những vị tiền bối trực tiếp của mình, Aristotle nói rằng Socrates chú trọng đến đạo đức học hơn là nghiên cứu thế giới tự nhiên, trong khi đó Plato lại kết hợp cách tiếp cận của cả phái Thales lẫn phái Pythagoras trong lý thuyết triết học của mình. Nhưng lý thuyết của Plato về các Ý niệm, trong khi hệ thống khoa học toàn diện nhất vẫn còn chưa được nghĩ ra, có vẻ như chưa làm cho Aristotle – vì những lý do mà ông sẽ tóm lược trong Siêu hình học và sẽ khai triển trong nhiều công trình nghiên cứu của ông –  thỏa mãn trên một số cơ sở nào đó. Có quá nhiều điều phải giải thích, và các Ý niệm chỉ đưa vào thêm những thứ mới mẻ cần  giải thích mà thôi: chúng không đưa ra một giải pháp, chúng chỉ làm tăng thêm vấn đề (Siêu hình học A 5. 990b1 ff.).

 

Hầu hết các luận án tiến sĩ bắt đầu bằng việc khảo sát các nguồn văn liệu đều tìm cách cho thấy rằng tất cả các công trình từ trước đến nay đã để lại một khoảng trống và lối nghiên cứu độc đáo của tác giả sẽ lấp đi cái khoảng trống ấy. Siêu hình học của Aristotle không phải là sự ngoại lệ. Chương trình nghị sự không quá khó nhận ra của ông cho thấy làm sao mà các triết gia trước kia đã bỏ qua phần còn lại trong bộ bốn các nguyên nhân: nguyên nhân mục đích vốn là nguyên nhân giữ vai trò quan trọng nhất trong triết học tự nhiên của ông (Siêu hình học A 5. 988b6-15). Nền triết học sớm nhất, ông kết luận, trên mọi chủ đề, đều là những bước đi mò mẫm, vì trong những bước đi đầu tiên của nó, triết học chỉ mới là một đứa trẻ (Siêu hình học A 5. 993a15-7.)

 

Khi đọc lại những di văn của các nhà tư tưởng Hy Lạp sớm nhất, triết gia ngày nay không mấy ấn tượng với các câu hỏi họ đưa ra, mà ấn tượng với các phương pháp họ sử dụng để trả lời chúng. Sau hết, sách Sáng thế ký cung cấp cho ta những câu trả lời cho các câu hỏi bốn nguyên nhân do Aristotle tập hợp. Nếu như ta truy tìm nguồn gốc của con người đầu tiên, chẳng hạn, ta nghe nói rằng nguyên nhân tác động là Thượng Đế, nguyên nhân chất liệu là cát bụi trần gian, nguyên nhân hình thức là hình ảnh và sự giống với Thượng Đế, và nguyên nhân mục đích là để con người có quyền thống trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời, và mọi sinh vật trên trái đất. Thế nhưng, sách Sáng thế ký lại không phải là một công trình triết học.

 

 Mặt khác, Pythagoras được biết đến nhiều nhất không phải vì trả lời bất cứ câu hỏi theo lối Aristotle nào, mà vì chứng minh định lý phát biểu rằng trong tam giác vuông, bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông. Vả lại, Thales được người Hy Lạp sau này tin rằng ông là người đầu tiên dự đoán chính xác hiện tượng nhật thực vào năm 585 TCN. Đây chắc chắn là những thành tựu trong lĩnh vực hình học và thiên văn học, chứ không phải trong lĩnh vực triết học.

 

Vào thời đó, sự phân biệt giữa tôn giáo, khoa học và triết học không rõ ràng như các thế kỷ về sau. Các công trình của Aristotle và thầy ông là Plato cung cấp một hệ hình triết học cho mọi thời đại, và đến hôm nay bất cứ ai dùng đến danh hiệu ‘triết gia’ thì tức là anh ta coi mình là một trong những người kế tục Plato và Aristotle.

 

Có thể coi các tác gia trong các tạp chí triết học thế kỷ hai mươi mốt là đang sử dụng những kỹ thuật phân tích khái niệm, và thường lặp lại hay bác bỏ những luận cứ lý luận, giống như những kỹ thuật mà người ta thấy trong các công trình của Plato và Aristotle. Nhưng trong các công trình ấy, còn có nhiều thứ khác mà hẳn ngày nay người ta không coi là sự thảo luận triết học. Từ thế kỷ 6 TCN trở đi, các yếu tố của tôn giáo, khoa học và triết học hòa lẫn nhau trong một chiếc vạc văn hóa duy nhất. Từ thời đại chúng ta, một khoảng cách thời gian khá xa xôi, các triết gia, các nhà khoa học và các nhà thần học có thể ngoái đầu nhìn lại những nhà tư tưởng thời ban sơ này và coi họ như là các vị tổ sư trí tuệ của họ.

 


[1] Món cơm ở miền Bắc nước Ý (ND).